I.  NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ẤN ĐỘ VÀ NÉPAL.

 

 

    Vừa từ Melbourne tới Perth, tôi được nghe tin là sắp có một chuyến đi Ấn Độ do ông Lê Tấn Kiết, Hội trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam Tây Úc tổ chức. Máu giang hồ vặt trong tôi nổi lên, bèn ghi tên tham dự. Tôi vẫn thường nghe nói là xă hội Ấn Độ phân chia đẳng cấp khiến cho tầng lớp Tiện Dân (Paria) bị đối xử quá tồi tệ, tôi muốn tận mắt chứng kiến. Tôi cũng nghe Sông Hằng (Ganga) là Thánh Địa của người Ấn Độ (Ấn Độ Giáo), sống mà được tắm trong Sông Hằng hoặc chết mà được hỏa thiêu rải tro trong sông Hằng th́ có phước lớn. Ấn Độ cũng là Thánh Địa của Phật Giáo với Cây Bồ Đề trường sinh, tôi muốn được tận mắt chiêm ngưỡng. Và chuyến đi đă đem lại cho tôi niềm thích thú hơn sự mong đợi : diện kiến một người Việt Nam đă đơn thân độc hành xây dựng hai ngôi chùa có tầm vóc quốc tế trên đất Ấn Độ và Népal, đó là thày Huyền Diệu. Cả hai ngôi chùa đều mang tên Việt Nam Phật Quốc Tự.

 

   Chuyến bay đêm của hăng Singapore Airline từ Perth lúc 1 giờ đêm ngày 5.10.04 đưa chúng tôi, 26 người, tới Singapore vào 6 giờ 15 sáng. Xe bus đưa chúng tôi vào phố Chinatown nghỉ ở khách sạn. Tôi có dịp biết được một góc của Singapore với những cửa hiệu buôn bán trong các cao ốc. Singapore, nơi mà trước đây 26 năm đă xua đuổi những người vượt biển chúng tôi không cho lên bờ. Nay th́ tôi đang ở giữa ḷng Singapore.

 

   Chuyến bay tối từ Singapore lúc 21 giờ 05 qua Ấn Độ, tới Kolkota (tên cũ là Calcutta) lúc 22 giờ 35. Chuyến bay mất 4 tiếng đồng hồ, như thế giờ Kolkota trễ hơn giờ Singapore 3 tiếng 30. Quang cảnh phi trường Kolkota khác xa phi trường Perth hay Singapore. Trời mưa nên mùi ẩm mốc nơi các bờ tường tỏa ra nồng nồng, khí trời nóng nực. Thủ tục nhập cảnh lâu lắc. Lúc tới phiên tôi nạp giấy tờ th́ ông nhân viên nhập cảnh, đă cao niên, nhai trầu bỏm bẻm, lật qua lật lại sổ passport, tờ khai, ghi ghi chép chép. Rồi th́ cũng xong, lúc ra đến ngoài th́ đă quá nửa đêm.

 

   Cũng nên nói ở đây là người Ấn Độ đến bây giồ vần c̣n giữ tục ăn trầu, mà lớp người trẻ có vẻ lại ăn nhiều hơn lớp ǵa. Hồi thày Huyền Trang sang Thiên Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh, đến chùa Nalanda tu học, mỗi ngày được cấp phát gạo ,trái cây, bánh sửa và hai chục cau trái. Như thế tục ăn trầu của Ấn Độ có lẽ cũng lâu đời như Việt Nam. Ở Việt Nam xem chừng người ăn trầu đă vắng bóng nhiều. Tục nhuộm răng đen, ăn trầu hầu như đă bị cho là lỗi thời, nhất là nhuộm răng đen. Bây giờ mọi người để răng trắng và cho ăn trầu là mất vệ sinh !

 

  Tôi đang kéo chiếc vali đi ra th́ một vị sư dáng người dong dỏng cao, quắc thước, mặc áo nâu x̣ng tới choàng ṿng hoa vào cổ tôi với lời chào mừng và nụ cười hiền hậu, nh́n lên th́ thấy mọi người trong đoàn đă đông đủ đang vây quanh ông, tôi có lẽ là người ra sau chót.

 

Thầy Huyền Diệu và Ông Lê Tấn Kiết cùng đoàn hành hương

 

 

   Phía ngoài, chiếc xe bus đang chờ đế đưa chúng tôi tới Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Phu khuân vác đưa hành lư chúng tôi ra xe. Từ đây cho đến ngày về, hành lư chúng tôi đều do phu khuân vác đưa lên xe, xuống xe, vào tới pḥng ngủ, rất chu đáo. Trời mưa suốt dọc đường cho đến suốt ngày hôm sau. Thày Huyền Diệu bảo đây là điềm tốt do đoàn chúng tôi đem tới v́ Ấn Độ vào mùa này là hết mưa.

 

   Đường xá Ấn Độ đang được xây dựng nên nhiều đọan khá gồ ghề lồi lơm khiến xe lắc lư như đưa vơng hay nhồi lên xuống như bị sàng xảy, Đường xá th́ hẹp có lúc nh́n thấy hai đầu xe ngược chiều như đâm vào nhau nhưng rồi đều né tránh nhau một cách tài t́nh. Có đoạn đường hẹp chỉ vừa cho một chiếc xe hoặc là có xe ngừng lại đậu bên lề th́ một phía tự động ngưng nhường cho phía bên kia đi xong rồi bên này mới đi, chẳng cần có người chỉ đường hay đèn báo hiệu ǵ cả và cũng chẳng hề xẩy ra vụ cải vả gây lộn bao giờ. Dân Ấn Độ kể ra hiền lành thật. Ở Ấn Độ cũng giữ tay trái như bên Úc. Xe chạy trên đường phần lớn là xe vận tải (truck) hay xe đ̣ họa huần lắm mới có xe nhà (xe con). Các xe đều do Ấn Độ sản xuất thấy đề hiệu TATA (chữ T với chữ A không có gạch ngang). Nghe nói các xe vận tải chính phủ cho mua trả góp mà phần lớn là  chở hàng hay vật liệu cho nhà nước để trừ nợ. Cũng là một sáng kiến hay, chính phủ hay hăng sản xuất vừa bán được xe mà người mua xe có cơ hội trả nợ. Xe nào xe nấy đều trang trí phía trước mặt xe, kết hoa kết đèn ḷe loẹt với ảnh các thần Bà La Môn để cầu may mắn.

 

   Xe chạy suốt đêm. Thày Huyền Diệu chào mừng đoàn Tây Úc và giới thiệu sơ qua chùa Việt Nam Phật Quốc Tự ở Bồ Đề Đạo Tràng. Ông cũng nhắn nhủ mọi người lưu ư đi đứng phải theo sự hướng dẫn của ông, đi vào đoàn đừng có ai tách rời, có thể bị lạc, đừng ăn uống đồ do dân bản xứ mời, có thể bị bỏ thuốc mà đi theo họ, đừng thấy người nghèo xin mà cho tiền v́ sẽ không đủ tiền mà cho, một người được tiền sẽ có hàng lũ  bám theo quấy rầy. Ông cũng cho hay là trước đây đă có người v́ không đi vào đoàn mà bị thất lạc măi hai tuần sau mới t́m thấy. Ông dặn : “từ bi nhưng phải có trí tuệ”. V́ những điều căn dặn kỹ càng như vậy mà suốt cuộc hành tŕnh không xẩy ra chuyện ǵ đáng tiếc.

 

   Sáng ra trời vẫn mưa, đường xấu càng thêm lầy lội. Buổi trưa, trời bớt hột, ghé vào quán bên đường thấy đề chữ restaurant to tổ chảng. Vào quán chỉ thấy vài cái phản, cái bàn mộc mạc, phía cửa vào có bếp bắc vài cái nồi cái chảo nấu món ǵ như cà ri hay ǵ đó. Không ai dám ăn, đành lên xe lấy bánh ḿ, bánh tét đem từ nhà qua để ăn, duy chỉ có bác tài xế và lơ xe là ăn thật t́nh cái món Ấn Độ đó. Có món trà sữa xem chừng uống được và suốt cuộc hành tŕnh chổ nào nghỉ có quán chúng tôi cũng dùng món trà sữa này. Có nhiều người khi về đă mua lọai trà này về nấu uống và làm quà. Ở đây có toilet nên mọi người đều đi xả bầu tâm sự.

 

   Họa huần lắm mới có được một vài chỗ có toilet như quán đó, c̣n dọc đường cần xả hơi th́ ngưng xe cho ai nấy xuống rồi nam tả nữ hữu t́m lùm bụi mà “tưới cây”, đây là tiếng lóng do thầy Huyền Diêu đặt ra, lúc đầu c̣n thấy ngài ngại, về sau quen đi, cứ tự do mà tưới, chẳng c̣n mắc cỡ mắc kiếc ǵ nữa cả. Nhưng phải cẩn thận nh́n dưới đất không th́ đạp phải “ḿn” do người hay trâu ḅ “gài”.

 

   Con đường từ Kolkota tới Bodh Gaya dài khỏang trên dưới 500 cây số, xe phải đi mất 18 tiếng đồng hồ. Cũng phải khen ông tài xế lái xe này, ông thức trắng đêm và cả ngày cho tới tối mới tới nơi mà vẫn giữ vững tay lái. Chẳng có ai thay đổi, chỉ có một chú bé theo phụ mà thôi. Chiếc xe này sẽ c̣n gắn bó đưa chúng tôi đi nhiều nơi cho tới ngày về. Xe có gắn máy lạnh nên những bữa nóng nực cũng thoải mái, tuy có phần hơi thô sơ và lúc mưa cửa kính đóng kín mà ngồi gần cửa sổ cũng bị ướt như thường.

 

   Chiếc xe đưa chúng tôi qua các địa điểm : Bồ Đề Đạo Tràng, Núi Linh Thứu, qua Rajgir, nơi các vương quốc một thời tung ḥanh chiến đấu chống nhau, nay thành quách đă b́nh địa, chỉ c̣n cây cối hoang vu, đồi núi trơ trọi. Qua Câu Thi Na (KrushiNagar) nơi Phật viên tịch, thánh địa thứ hai sau Bồ Đề Đạo Tràng. Qua Lâm T́ Ni (Lumbini), nơi Phật đản sinh, thánh địa thứ ba. Qua Vườn Lộc Uyển (Sarnath), thánh địa thứ tư. Qua Varanasi (Bénares) thành phố thiêng của người Ấn Độ trên sông Hằng (Ganga) và leo núi lên dăy Hi Mă Lạp Sơn (Himalaya).

 

   Từ Varanasi (Bénares) chúng tôi lấy xe lửa để trở lại Kolkota (Calcutta) vào khoảng 6 giờ chiều. Cả tàu xe lửa chỉ có toa chúng tôi là có gắn máy lạnh v́ thế mà tránh được cái nóng trên 30 độ của Ấn Độ. Nhưng ỉ y trời nóng mặc áo phong phanh, đến nửa đêm ngủ quên dễ bị cảm lạnh. Xe chạy cà rịch cà tàng suốt đêm, ngưng lại mỗi ga nên măi sáng hôm sau mới tới Kolkota. Khi xe bus chở chúng tôi tới khách sạn th́ đă gần 11 giờ trưa. Ngủ đêm tại đây, hôm sau đi ṿng xem Kolkota và 12 giờ đêm, máy bay đưa chúng tôi về Singapore rồi về Perth vào lúc 1.30 giở trưa ngày 23.10.04. Trọn ṿng chuyến đi, chúng tôi di chuyển vào khoảng 4500 cây số tại Ấn Độ và Nepal.

 

    Tôi thường hay than rằng sao người Ấn Độ đen đủi gầy guộc, khuôn mặt khắc khổ đến thế, không thấy ai nh́n coi cho được mà sao trên truyền h́nh hay phim truyện lại có nhiều người đẹp thế. Và tôi đă gặp người đẹp Ấn Độ trên chuyến xe lửa. Đó là một bà ǵa quư phái, dáng dấp thanh cao, tai đeo hột x̣an chiếu sáng long lanh và cô con gái bà với khuôn mặt trắng trẻo, nụ cười luôn nở trên môi với hai núm đồng tiền, dáng người thon nhỏ, thật đẹp. Tôi định lấy máy ảnh  chụp làm kỷ niệm nhưng sợ vô lễ nên thôi. Hóa ra Ấn Độ đúng như người ta nói, ai giàu th́ giàu sụ, ai nghèo th́ nghèo mạt rệp. Phải nói ai đẹp th́ thật đẹp và ai xấu th́ qúa xấu, ai trắng th́ thật trắng và ai đen th́ quá đen.

 

    Qua biên giới Népal, đường xá có vẻ khá hơn. Hôm lên núi định qua bên kia để được xem núi tuyết của dăy Hi Mă Lạp Sơn. Con đường đèo quanh co dốc cao nguy hiểm mà mức độ an toàn không bảo đảm. Ở các sườn núi thăm thẳm, dân miền núi trồng lúa trong các ruộng bậc thang. Những thác nước đổ từ sườn núi xuống vực vào khe suối chảy len lỏi qua các ghềnh đá. Cảnh thật hùng vỹ. Hàng ngàn hàng vạn những con suối như thế này của Hi Mă Lạp Sơn và cao nguyên Tây Tạng đă tạo thành các con sông lớn nuôi hàng tỉ người trong đó có con sông Cửu Long. Tuy nhiên thấy đường xá khá nguy hiểm nên nhiều người đề nghị nên quay về, phần đường xấu, phần sợ du kích Maoist ! Ghé vào quán bên đường, quán làm mặt day ra đường, phía sau là mảnh vườn hẹp trồng chuối và xa một chút là dốc núi thăm thẳm. Cô hàng có vóc dáng nước da khác người Ấn Độ, hỏi ra th́ cô là người Mông Cổ, nhiều đời đă sinh sống ở đây. Nghe nói có đến hơn trăm sắc dân sống ở Népal. Quán có bán lade, mấy ông lâu ngày nhớ mùi vị cay cay nồng nồng này bèn ngă vài chai. Ngon ơi là ngon ! Các quán ở đây có bán trứng gà luộc sẵn, nhân đói bụng nên ai nấy trẩy năm ba qủa ăn chơi. Lúc trở lại Butawal, thành phố nằm ngay dưới chân Hi Mă Lạp Sơn, chúng tôi ghé vào công viên thành phố ăn cơm trưa. Công viên này đẹp, sạch sẽ, có tượng Phật lớn, truyền rằng nơi này Phật có đến thuyết giảng, cũng có đền thờ Bà La Môn. Bữa cơm trưa hôm đó, cơm làm sẵn mỗi người một cà mên đem theo, có nhiều người mua trứng ăn không hết hoặc cử chay nên dồn cho tôi, hôm đó tôi ăn có hơi nhiều trứng ! Cũng nên nói là cuộc du ngoạn hôm đó, v́ thày Huyền Diệu đi phó hội ở Kathmandu giữa chính quyền và các đảng phái nên chú Phụng hướng dẫn. Chú Phụng là người Melbourne, kỹ sư điện toán, sang giúp thày Huyền Diệu được vài ba năm nay.

 

   Cũng vụ ăn, hôm đi trên đường từ Linh Thứu vào suối nước nóng, khúc mà thày Huyền Trang (Đường Tam Tạng) viết trong nhật kư nói có thứ bánh ngon. Thày Huyền Diệu cho xe ngừng, ghé vào mua một ít thứ bánh đó để mọi người thưởng thức, thứ bánh mà 1375 năm trước đây thày Huyền Trang đă ăn khi đi thỉnh kinh (thày Huyền Trang qua Ấn Độ từ năm 629 – 642). Nay chúng tôi cũng được ăn món ăn đó, cũng nơi này. Thời gian có khác, nhưng không gian cũng đây, món ăn cũng thứ này. Thật thú vị. Có hai loại bánh, một ngọt, một mặn, cũng chỉ là bột nhào nặn, chiên dầu, ăn ngon.

 

    Ấn Độ đang vào mùa lễ Durga-Puja mừng vị nữ thần lớn nhất của họ, nữ thần Kali. Dọc đường chỗ nào cũng thấy dựng lên những  rạp chăng đèn, kết hoa, cờ xí rực rỡ, trong chưng đầy h́nh ảnh các vị thần. Họ mừng lễ trong 10 ngày liên tiếp với nhiều h́nh thức nghi lễ khác nhau, cúng vái, ca hát, múa những vũ điệu cổ truyền và kịch nghệ. Hôm ở Kolkota, chúng tôi thấy dân chúng đi như trẩy hội tới các đền đài vào ban đêm. Nghe nói mỗi năm có rất nhiều lễ hội như vây, âu là cũng là dịp để mọi người vui chơi quên đi nỗi nhọc nhằn vất vả quanh năm.

 

    Cũng lễ này, thời xưa thày Huyền Trang suưt bị bọn ăn cướp giết để tế nữ thần Kali : “ Huyền Trang đi theo ḍng sông Hằng (Ganga) trải qua xứ Prayaga (bây giờ là thành phố Allahabad, Uttar Pradesh). Một hôm Huyền Trang sắp bị bọn ăn cướp giết để tế nữ thần Durga-Puja. Những người cùng đi theo Huyền Trang khi hay tin dữ ấy đều khóc lóc, có người xin ra thế mạng, nhưng một ḿnh Huyền Trang thản nhiên như nhiên. Sau khi giải bày sứ mạng của ḿnh là đi từ Trung Hoa sang đó để t́m Phật đạo, bọn cướp vẫn không nghe, thầy tưởng niệm Phật Tổ Như Lai, Phật Bồ Tát và Phật Maitreya (Vị Lai) để chờ chết. Không dè giữa cơn ấy, bỗng không gió dậy và lá cây nhánh lớn cuốn đổ nghe rầm rầm. Bọn cướp kinh hăi, ăn năn, lạy lục rồi đồng hè bỏ hết binh khí xuống sông. Khi ấy gió trở lại yên lặng như cũ. Huyền Trang mở mắt ra hỏi tỉnh bơ : “Phải đến giờ hành h́nh chăng ?” Thật là tịnh không chút vẻ nào sợ sệt cả”. (René Grousset, Sur les traces du Bouddha, Theo dấu chân Phật, Plon, Paris, 1929. Vương Hồng Sển dịch) Cũng nên biết rằng người Ấn tin tưởng rằng Nữ thần Kali thích ăn thịt người và có một hội, gọi là Thug, gần như là một tập cấp chuyên đi giết người để tế thần. Thầy Huyền Trang chắc bị bọn này định giết để tế nữ thần Durga- Puja (Kali). Ngày nay họ giết trâu, dê  để thay thế.