PHẦN I

 

     Toàn thể người Việt Nam không kể người trong nước hay người ở ngoài nước đều bàng hoàng sửng sốt và vô cùng xúc động khi bức kháng thư của ông Đỗ Việt Sơn, người đă có 60 tuổi đảng, 80 tuổi đời được phổ biến để phản đối đảng Cộng sản Việt Nam kư hiệp định Biên giới với đảng Cộng sản Trung Quốc và đề nghị không thông qua hiệp định bán nước đó.

   

      Tiếp theo là bài viết của ông Lê Chí Quang cảnh giác với “Bắc Triều” và thách thức : “Ông Lê  Khả Phiêu ra đối chất xem. Ông lấy quyền ǵ mà dám kư hiệp định Biên giới làm nước ta mất hàng trăm kilômét vuông đất đai của Tổ Quốc. Cả về hiệp định vịnh Bắc Bộ nữa, trước kia Pháp thay ta kư với nhà Thanh theo tỷ lệ 62/38, bây giờ lại kư theo tỷ lệ 54/46 !  Tổ Quốc bị thiệt hại biệt bao nhiêu chỉ v́ một người nhân danh đảng ! Biết bao nhiêu xương máu, nước mắt, mồ hôi của cha ông, của nhân dân từ ngàn đời đổ xuống để dành từng tấc đất của Tổ Quốc, các anh có biết không ?”

 

      Ông Trần Khuê, một đảng viên làm công tác văn hóa, trong bức thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Giang Trạch Dân tiết lộ : “ Chúng tôi giật ḿnh kinh ngạc khi nghe Bộ chính trị Lê Khả Phiêu chỉ thị cho Chính phủ Phan Văn Khải kư với Chính phủ Trung Quốc hai hiệp định biên giới Việt Trung và đă nhượng mất ngót một ngh́n kilômét vuông địa giới (?) và ngót một chục ngh́n kilômét vuông hải giới. (?) V́ cả hai đảng và hai chính phủ đều giữ bí mật nội dung bản Hiệp ước này nên không rơ diện tích lănh địa và lănh hải mà các đ/c lănh đạo Trung quốc vừa lấy thêm của Việt Nam cụ thể chính xác là bao nhiêu. Tháng 8-2001, chúng tôi có tổ chức một đoàn lên khảo sát thực địa ở Lạng Sơn th́ quả đă thấy cây số 0 nằm trên vạch biên giới Việt Trung, không c̣n nh́n thấy Mục Nam Quan nữa. Phía Trung Quốc đă xây một ṭa nhà sừng sững chắn ngang. Rồi người th́ nói nó đă nằm sâu trong lănh thổ Trung Quốc 500 mét, người th́ nói 2000 mét. Diện tích đất đă nhượng người th́ bảo 500 km2, có người lại nói mất hơn 700 km2, có người lại nói mất hẳn 900 km2. Riêng Đ/c Lê Thế Nghĩa, nguyên Trưởng ban Biên giới của chính phủ th́ cho chúng ta biết Mục Nam Quan hiện nằm cách vạch biên giới là 800 mét và tổng số diện tích địa giới mà Việt Nam, phải cắt nhượng cho Trung Quốc chỉ mất 232 km2.” Các ông Lê Chí Quang và Trần Khuê đă bị Cộng sản bắt và bị  buộc tội tiết lộ bí mật quốc gia !

 

     Ông Nguyễn Thanh Giang, một nhà tranh đấu cho nền dân chủ tại quốc nội, “Trăn trở xót đau cùng Biên cương Tổ Quốc”  hỏi : “Nhưng biên giới Việt-Trung đă từng ở đâu ? Biên giới Việt- Trung sẽ phải ở đâu ? Biên giới Việt-Trung sẽ phải ở đâu để đừng phụ công cha ông từng kiến lập giang sơn, khai mở bờ cơi, đừng làm tủi nhục vong linh hàng triệu người đă từng ngă xuống v́ quê hương đất nước…Biên giới Việt-Trung sẽ phải ở đâu như nó từng ở đó để không ai phải xót xa trăn trở v́ đă mất 789 kilômét vuông  hay 720 kilômét vuông. Hay…chỉ mất 1 kilômét vuông như thông báo chính thức của Ban Bí thư cho toàn thể đảng viên ?…Biên giới lúc đó rất xa. Cách Pắc Bó hàng chục km, cách Bản Giốc h́nh như không thể dưới 1 km. Vậy mà nay có người bảo đứng ở Pắc Bó có thể nh́n thấy Trung Quốc, c̣n thác Bản Giốc  - một trong những thắng cảnh nổi tiếng nhất đă từng có trong tất cả các tập bưu ảnh giới thiệu đất nước Việt Nam trước đây – nay đă bị cắt cho Trung Quốc mất hai phần ba !"

 

     Nhân vụ dâng đất, dâng biển của đảng Cộng sản Việt Nam cho đảng Cộng sản Trung Quốc, chúng ta lần giở lại qua các trang sử, qua các truyền thuyết để xem ḍng giống Việt tộc đă bị Hoa tộc cướp mất bao nhiêu đất đai, để xem từ xa xưa lúc trời đất c̣n mịt mù của thuở hồng hoang, ḍng tộc Việt đă sinh sống tại địa bàn Hoa Bắc, phía trên sông Hoàng Hà, bị Hoa tộc xâm chiếm cướp đất đai, đồng hóa, rồi lần xuống xâm chiếm vùng Trường Giang và tới đời Tần Thủy Hoàng xua 500.000 tinh binh vượt dăy Lĩnh Nam chiếm trọn miền Hoa Nam và nước Văn Lang. Ḍng Lạc Việt sau suốt một ngàn năm nô lệ giặc Tàu đă dành được độc lập, đă đổ biết bao xương máu, dành từng tấc đất từng ngọn cỏ nơi biên giới để ngày nay đảng Cộng sản Việt Nam đành ḷng dâng hàng trăm cây số vuông đất biên thùy, hàng chục ngàn dặm vuông biển cả cho Cộng sản Trung Quốc để được bảo trợ chổ ngồi đè đầu đè cổ nhân dân Việt Nam.

 

                 NGUỒN GỐC VÀ ĐỊA BÀN SINH SỐNG CỦA VIỆT TỘC

 

      Nguồn gốc và địa bàn sinh sống của ḍng Bách Việt theo truyền thuyết như sau :

 

     HỌ HỒNG BÀNG.

      

     Cứ theo tục truyền th́ vua Đế Minh, cháu ba đời vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ ) gặp  nàng Vụ Tiên, lấy nhau, sinh ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cơi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đ́nh Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.

 

     Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đ́nh Quân là Long Nữ sinh ra Sùng Lăm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai là Âu Cơ, sinh một lần được một trăm người con trai. Lạc long Quân bảo bà Âu Cơ rằng : “Ta là ḍng dơi Long Quân, nàng là ḍng dơi Thần Tiên, ăn ở lâu với nhau không được, nay được trăm đứa con th́ nàng đem 50 đứa lên núi, c̣n 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải.Lạc Long Quân phong cho người con trưởng  làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.”

 

      Qua câu truyện truyền thuyết về nguồn gốc và địa bàn sinh sống của ḍng Bách Việt th́ :

 

1-    Nơi phát tích ḍng Bách Việt là Động Đ́nh Hồ thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay. Động Đ́nh Quân làm vua ở Động Đ́nh Hồ thuộc giống Rồng.

 

2-    Kinh Dương Vương là con của nàng Vụ Tiên lấy con gái của Động Đ́nh Quân là Long Nữ sinh ra Sùng Lăm hiệu là Lạc long Quân. Lạc Long Quân là con của Long Nữ thuộc giống Rồng và là cháu của Vụ Tiên thuộc giống Tiên. Dân Việt Nam là hậu duệ của Lạc Long Quân nên tự nhận là “Con Rồng Cháu Tiên”

 

 

3-    Kinh Dương Vương làm vua nước ta trước tiên với quốc hiệu là Xích Quỷ thuộc họ Hồng Bàng. Chúng ta thuộc ḍng Việt tộc ngành Lạc, nên gọi là Lạc Việt. V́ thế chúng ta tự nhận là “Con Hồng Cháu Lạc” để nhớ gốc tích giống ṇi.

 

4-    Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra trăm người con. Hai Ông Bà chia con với nhau, 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển. Đó là mấu chốt của truyền thuyết. Nó nói lên việc ḍng Bách Việt chia nhau chiếm lĩnh địa bàn sinh sống từ trên núi xuống biển khắp cả lục địa nước Tàu xuống tận vùng Đông Nam Á và các Hải đảo.

 

 

5-    Trước khi chia đất, phân tán các con đi các nơi th́ cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ truyền ngôi cho con cả làm vua đất Văn Lang. Đó là vua Hùng Vương của chi Lạc Việt. Chúng ta hănh diện là hậu duệ của vua Hùng là ngành cả của ḍng Bách Việt. Đó là truyền thuyết nói về việc phát tích và địa bàn sinh sống của ḍng Bách Việt và được chia ra nhiều chi nhánh như Cửu Lê, Bách Bộc, Lạc Việt, U Việt, Mân Việt, Âu Việt, Nam Việt v,v…

 

6-    Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương phía bắc giáp Động Đ́nh Hồ, tây giáp  Ba Thục, nam giáp Hồ Tôn, đông giáp biển Đông. Khi Lạc Long Quân nối ngôi th́ cũng thừa hưởng giang sơn Xích Quỷ của Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân về thủy phủ truyền ngôi cho con là Hùng Vương làm vua th́ Hùng Vương cũng hưởng quyền cai trị nước Xích Quỷ. Hùng Vương  đổi tên nước là Văn Lang và dĩ nhiên bờ cơi nước Văn Lang cũng to lớn như nước Xích Quỷ, nghĩa là cả một dăy đất rộng lớn từ mạn nam sông Dương Tử đổ xuống phía nam đến Chiêm Thành đều thuộc đất Văn Lang.

      

                  Riêng về mặt khảo cổ th́ các nhà chủng tộc học, các nhà khảo cổ tiền sử và ngôn ngữ tỷ hiệu đă liệt dân Bách Việt trong đó có Việt Nam vào chủng Mă Lai :

1-    Cách nay khoảng 10.000 năm, chi Nam Á (Austro-Asian), họ từ đâu tới không biết, tràn vào lục địa nước Tàu ngày nay, vùng Đông Nam Á và các hải đảo, đó là thời kỳ văn hoá Ḥa B́nh, Bắc Sơn, thuộc ngành ngôn ngữ Nam Đại Dương tức Mă Lai đa đảo.

2-    Khoảng 3,4 ngàn năm sau, một chi Mă Lai khác tới sau. Họ thuộc ngành ngôn ngữ Nam Đảo (Austronesian).

3-    Khoảng 2 ngàn năm sau nữa, một chi khác là Tạng Miến (Thái) tới, họ tràn vào Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Đông, Vùng núi Bắc Việt.

        Xét về mặt địa lư, ḍng tộc Mă Lai (Bách Việt) đă có mặt ở khắp nước Tàu, vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, các hải đảo Thái B́nh Dương đến Madagascar (Mă Đảo, Phi Châu), vượt Thái B́nh Dương vào Mỹ châu, đó là người Maya, Inca, Da Đỏ…

 

         D̉NG GIỐNG HOA TỘC VÀ CUỘC XÂM CHIẾM ĐẤT VIỆT LẦN 1.

 

        Cách nay khoảng 5000 năm, có một bộ tộc từ vùng sa mạc tây bắc tràn vào miền tây bắc nước Tàu, sinh sống ở vùng  Thiểm Tây và Sơn Tây, đó là  chủng tộc Hoa. Ḍng tộc Hoa là giống người lai căn giữa rợ Nhục Chi (Tokharian) thuộc chủng da trắng với một rợ khác là Mông Cổ mà người Tàu gọi là Hung Nô, Âu châu gọi là Huns, thuộc chủng da vàng. (B́nh Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam, tr. 79)

 

         Thứ người lai căn này mà về sau gọi là Hoa tộc cũng gọi là Hoa Hạ, có tính cách Mông Cổ ở  loại tóc thẳng và đen (tộc Nhục Chi tóc dợn sóng và màu đỏ hoặc màu râu bắp), giống Mông cổ ở nước da vàng, ở mắt xếch, mí mắt lót, màu mắt đen và ngôn ngữ độc âm. Họ có tính cách Nhục Chi ở thân thể cao lớn và râu quai nón như người Tây phuơng mà hiện nay người Hoa Bắc c̣n mang.

 

           Giống người lai căn này sinh sôi nảy nở ra nhiều nhưng không có đất sống. Người Nhục Chi không muốn nhận giống lai căn đó v́ thấy khác họ quá nhiều. C̣n người Mông Cổ cũng không muốn nhận họ v́ cũng không thấy họ giống người Mông Cổ. Hơn nữa cả dân Nhục Chi lẫn dân Mông Cổ sống bằng nghề chăn nuôi, rất cần nhiều đất để súc vật có cỏ  ăn nên họ đuổi  giống  lai căn đó đi. Thành thử nhóm mang hai gịng máu đó trở thành quân xâm lược đi cướp vùng đất mà nay  là Hoa Bắc, lúc đó đă có chủ rồi, chủ đó là Việt tộc, chi Cửu Lê.

 

            Vậy  giống lai căn đó rời bỏ vùng vùng Tây Vực của dân Nhục Chi lúc đó cũng đă bị sa mạc hóa, tiến qua hành lang Cam Túc vào đất Quan Trung của tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Họ sinh sống ở vùng Quan Trung , trong dăy núi Hoa Sơn v́ thế họ tự nhận là tộc Hoa (Hoa Hạ). Họ ghép tên đất Quan Trung và tên tộc Hoa thành Trung Hoa để làm tên nước, v́ họ cho nơi họ ở là trung tâm thiên hạ ! Từ vùng sa mạc khô cằn vào đất Quan Trung màu mỡ th́ họ đă lấy làm vui mừng lắm, nhưng dần dà dân số tăng lên, đất đai không c̣n đủ cho súc vật, họ cần có vùng đất mới để sinh sống. Nh́n qua b́nh nguyên sông Hoàng Hà của các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam họ thấy đất đai ở đó màu mỡ, dân ở đó canh tác hoa màu tốt tươi nên họ áp dụng lối sống du mục của tổ tiên là ăn cướp, giết địch để thâu chiến lợi phẩm là súc vật, đàn bà, và vùng đồng cỏ.

 

           Hoa tộc lúc đó dưới quyền của lănh tụ Hiên Viên, c̣n dân Cửu Lê th́ dưới quyền thống lănh của Xuy Vưu mà sử Tàu gọi là “Xuy Vưu cổ thiên tử, Xuy Vưu bá thiên hạ”. Như thế, sử Tàu cũng công nhận là dân Cửu Lê sống ở đó đă lâu đời, tổ chức thành nước có vua, ông vua đó Tàu gọi là Xuy Vưu với nghĩa miệt thị.

         

           (Trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp th́ cho Xuy Vưu là quân thần của Đế Lai : “Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô sự, sực nhớ đến truyện ông nội là Đế Minh nam tuần gặp được tiên nữ, Đế Lai bèn khiến Xuy Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước Xích Quỷ, thấy Long Quân dă về Thủy phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê là Âu Cơ cùng bộ chúng thị thiếp ở  lại hành cung.” bản dịch của Lê Hữu Mục,xb, Huế 1960, tr.43 ).

 

            Hiên Viên kéo nhóm dân du mục hung dữ, tàn bạo đánh úp Xuy Vưu tại Trác Lộc, một địa điểm trên bờ sông Hoàng Hà, phía bắc tỉnh Hà Nam. Dân Cửu Lê, một chi hhánh của đại tộc Bách Việt, là dân vốn sống bằng ghề nông nghiệp, hiền lành. ít có chiến tranh, không pḥng bị gặp phải thứ dân du mục quen nghề chém giết nên bị thua. Xuy Vưu bị giết, dân bị tàn sát, bị bắt làm nô lệ, một số chạy trốn.

 

            Trong số bị bắt, đông nhất hẳn là đàn bà. Giống dân du mục lang thang đó đây theo bầy gia súc rất cần đàn bà nên khi đánh một bộ lạc nào, việc đầu tiên là tàn sát đàn ông và bắt đàn bà làm vợ, làm nô lệ. Đám Hoa tộc của Hiên Viên cũng không ngoài thông lệ đó. Họ bắt đàn bà, giết người đau yếu, bắt người khỏe mạnh làm nô lệ. Nhưng dân Cửu Lê sau khi thua trận, những người khỏe mạnh đă bỏ chạy trốn. Họ chạy xuống miền nam sông Hoàng Hà để nương náu với đồng tộc của họ đang sinh sống ở đó.  Họ cũng chạy ra biển, vượt biển, có lẽ là nơi trước đó họ đă đổ bộ vào đất liền. Họ chạy qua Đại Hàn, Nhật Bản, Đài Loan,  Hải Nam, và Bắc Việt. Nhóm tới Bắc Việt, nhập vào dân Việt đă sống ở đó và đă lập quốc gọi là Văn Lang.

 

            Sử Tàu khoe rằng đă bắt được đám Cửu Lê với vũ điệu Xuy Vưu. Như thế là dân Cửu Lê đă có một tŕnh độ văn hóa khá cao với các vũ điệu mà Hoa tộc phải học lại. Họ c̣n học lại với lớp dân Cửu Lê nghề canh nông, nghề đánh cá. Và bây giờ th́ Hoa tộc trở thành dân định canh định cư, hết c̣n lang thang bằng nghề chăn nuôi súc vật nữa.

 

             ( Xin mở dấu ngoặc ở đây để nghe triết gia Kim Định nói về vũ điệu Xuy Vưu mà cụ gọi là Li Vưu v́ cho rằng người Tàu, khi chiến thắng đă gọi kẻ thua trận bằng tên rất xấu có ư khinh miệt nên phải gọi là Li Vưu mới đúng (Li Vưu có nghĩa là Rồng vàng thượng thặng)… “Đồ múa th́ gồm có móc, búa, đuôi ḅ và nhất là lông chim ngũ sắc, chữ nho kêu là vũ. Chính v́ thế bài vũ có tên Vũ Nghi.  tức là trang sức (nghi) bằng lông chim ngũ sắc (vũ). Nếu nói Nghê thường vũ y khúc (chỉ màu ráng đỏ) phương Nam, thường là váy, y vũ  là áo bằng lông… Những đồ vũ đó nhất là lông chim ngũ sắc đă từ lâu gắn liền với vũ, hễ múa là phải đeo lông chim th́ múa mới thành, mà múa có thành th́ lễ mới nên (valid). Bởi thế vũ có mang lông chim đă trở nên con cháu chủ quyền của Việt lư, con cháu có thể dùng để nhận diện gia bảo…” Kim Định, Văn Lang Vũ Bộ.)

 

            Dân Cửu Lê c̣n ở lại bị liệt vào hạng tôi đ̣i hạ lưu của xă hội Hoa tộc và bị gọi  là dân (đầu đen) : “Lê dân sồng trong cảnh lầm than khổ cực” và câu : “Được mắt xanh ngó tới” chứng tỏ rằng tầng lớp quư tộc, thống trị là người Hoa, con mắt họ lúc đó c̣n màu xanh và tóc hung đỏ của rợ Nhục chi, c̣n dân Cửu Lê th́ tóc đen. Các nhà chủng tộc học gọi giống Hoa tộc này thuộc chủng Trung Mông gô lích. Chủng Bắc Mông gô lích là người Mông cổ và sau này gọi giống người ở Hoa nam là Nam Mông gô lích.

 

             Đó là lần đầu có cuộc đụng độ chiếm đất, đồng hóa dân Việt của Hoa tộc.Cuộc đụng độ lần đầu tiên này do sử Tàu ghi lại để khoe thành tích, nên ta mới biết có cuộc xâm lăng khủng khiếp đó, nếu không th́ chẳng ai biết ǵ và cứ tưởng vùng đất Hoa bắc ấy là của Hoa tộc từ thuở nào, chứ có ai dè đất ấy là của Việt tộc đă ở đó hàng ngàn năm trước.

 

            Nhóm Cửu Lê thất trận rồi, lớp bỏ chạy, lớp ở lại bị đồng hóa với Hoa tộc  th́ bên cạnh đó, ở vùng sông Bộc có một nhóm khác cũng thuộc ḍng Việt tộc, đó là nhóm Bách Bộc. Sông Bộc là con sông phát nguyên từ cao nguyên tỉnh Sơn Đông chảy vào sông Hoàng Hà. Địa bàn của nhóm Bách Bộc không xa Trác Lộc, nơi Hiên Viên đánh Xuy Vưu là bao nhiêu.

 

             Nhóm Bách Bộc này sống bằng nghề canh nông và tầm tang (trồng dâu nuôi tằm dệt lụa). Họ  có lối sống cổ sơ hồn nhiên trai gái giao du thân mật không bị cấm đoán “nam nữ thụ thụ bất tương thân” như Hoa tộc. Người Hoa thấy lối sống thân cận nam nữ của dân Bách Bộc th́ chê bai chỉ trích là cảnh dâm loạn : “trên bộc trong dâu”.

 

            Nhóm Bách Bộc này rồi cũng bị người Hoa tấn công chiếm đất. Không biết có những trận chiến xẩy ra khốc liệt như với nhóm Cửu Lê hay không v́ không thấy sử chép nhưng biết rằng nhóm này bị lấn đất măi, bị dồn lên cao nguyên Sơn Đông và cuối cùng cũng bị đồng hóa với Hoa tộc. Nhóm Bách Bộc bị dồn lên cao nguyên Sơn Đông này, Tàu gọi họ là Đông Di. Những người Di Việt bị dồn lên Cao nguyên Sơn Đông vẫn c̣n tồn tại và luôn luôn nổi lên chống đối Hoa tộc. Cho măi đến đời Tam Quốc nhóm người Đông Di này vẫn c̣n dằng dai kháng cự. Cụ thể là nhóm người mà Tàu gọi là  Hoàng cân (khăn vàng, người Di này dùng khăn bịt đầu v́ họ cắt tóc ngắn, phát tiễn, một dấu chỉ của người Việt, sử Tàu cũng cho biết người Di này nhuộm răng đen và xâm ḿnh), nổi lên đánh phá khắp vùng Sơn Đông làm điêu đứng nhà Hán không ít và cũng là dịp cho Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền xuất hiện lập ra ba nước Thục, Nguỵ, Ngô.

 

           ( Chính nhóm Huỳnh Cân này phát khởi ra Thiên Địa Hội. Có ba người tự xưng là :

       -    Thiên công tướng quân : Trương Giốc

-        Địa công tướng quân : Trương Bảo

-        Nhân công tướng công : Trương Lương

       Họ kết hợp lại thành “Tụ Nghĩa Hội” hay là “Bài Huyết Hội” thường gọi là “Thiên Địa Hội”. Thiên Địa Hội từ đó bành trướng khắp nước Tàu, trước c̣n có mục đích yêu nước sau biến  dạng thành các tổ chức anh chị đâm thuê  chém mướn, buôn lậu. Thiên Địa Hội có một thời hoạt động rất mạnh tại miền nam Việt Nam thời Pháp mới đặt nền đô hộ.

 

       Đời nhà Tống có các hảo hớn Lương Sơn Bạc nổi lên chống lại triều đ́nh thối nát tham nhũng, Căn cứ của các hảo hớn này là tỉnh Sơn Đông, hẳn là người Di lại đă nổi lên chống lại người Hoa cai trị. Đến đời nhà Thanh những người Di này lại nổi lên chống nhà Thanh với danh hiệu là “Nghĩa Ḥa Quyền”, khẩu hiệu là “Diệt Thanh Phục Minh” về sau thấy người Tây phương qua ức hiếp người Tàu họ lại quay ra “Phù Thanh Diệt Dương”  Nghĩa Ḥa Quyền kéo quân vào thành Bắc Kinh đánh phá các ṭa đại sứ, lănh sự Tây phương khiến các nước Tây phưong phải kéo quân vào đánh quân Nghĩa Ḥa Quyền, người Tây phương gọi đám quân này là Boxer, Quyền phỉ. Từ ngày bị người Hoa dồn lên cao nguyên Sơn Đông đến nay có hơn năm ngàn năm, bị người Hoa bao vây tứ phía, thế mà người Di (BộcViệt) vẫn c̣n đầy sức sống để nổi lên chống lại đám người Hoa xâm lăng. Ngày nay những người Sơn Đông măi vơ, thường hay đi bán thuốc ở Việt Nam là hậu duệ của người Di Việt hay Bách Bộc này. Phải chăng người Sơn Đông măi vơ này,  thuộc Thiếu Lâm bắc phái, biết họ có mối liên hệ ruột thịt của ḍng máu Bách Việt với người Việt Nam nên mới thường xuyên t́m đến như thế ? ).

 

           Dân Bách Bộc bị Hoa tộc xâm lăng th́ bỏ chạy tứ tán, một số đi ra biển đông tới Nhật ,Cao ly, Đài Loan, Hải Nam, Việt Nam…, một số rút lên Cao nguyên Sơn Đông kháng cự chống lại Hoa tộc như ta đă biết, một số chạy xuống vùng đồng bằng sông Dương Tử, nơi có các nhóm Việt khác đang sinh sống tại đó. Ở đây, họ thành lập nước Bộc và cầm đầu các nước Việt khác chống lại nước Sở.

 

             Thế là địa bàn Hoa Bắc ở vùng sông Hoàng Hà, Hoa tộc đă chiếm trọn của Việt tộc và lập ra đó nhiều nước mà sử Tàu gọi là vạn quốc. Đến thời Chiến Quốc(476-221 TCN) lúc nhà Đông Châu mạt vận th́ chỉ c̣n 7 nước(Tề, Sở, Ngụy, Yên Triệu, Hàn, Tần) v́ các nước nhỏ đă bị các nước lớn nuốt hết, để rồi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc thống nhất nước Tàu.

 

             Người Tây phương chỉ biết nước Tàu từ thời Tần Thủy Hoàng nên họ lấy tên nước Tần của Tần Thủy Hoàng để gọi nước Tàu hay Trung Hoa, đọc theo giọng quan thoại tức tiếng nước Tần là Ch’in hay Tsin, người Pháp đọc là Chine, người Anh đọc là China. Người Hoa tự coi họ như là trung tâm của thiên hạ (Trung Hoa). V́ tự tôn nên họ coi những dân tộc sống xung quanh họ là man di mọi rợ. Dân phía bắc họ gọi là Bắc Địch (Mông cổ, Măn châu), phía tây là Tây Nhung (Tây Tạng), phía đông là Đông Di (Bộc Việt), phía Nam là Nam Man (Bách Việt). Khi tiếp xúc với người Tây phương th́ họ gọi dân da trắng đó là Bạch quỷ!

 

              Ngày nay người Tàu không gọi nước họ là Trung Hoa mà gọi là Trung Quốc. Họ không gọi ṇi giống họ là Hoa mà gọi là Hán. Đó chẳng qua là họ muốn dấu tung tích ṇi giống Hoa tộc đă đánh chiếm đất của các giống Việt, Măn, Mông ,Tạng và Hồi.và đồng hóa các dân tộc này. Không có thứ dân tộc nào là Hán cả mà chỉ có Hoa tộc, Việt tộc, Tạng tộc, Măn tộc, Mông tộc, Hồi tộc. Để ru ngủ các tộc khác ngoài tộc Hoa khỏi nổi lên đ̣i đất, đ̣i tự chủ nên tộc Hoa đă chịu dấu kỹ cái tộc Hoa của ḿnh mà lấy cái tên Hán  làm tên chung cho các thứ dân tộc đă bị người Hoa đồng hóa.

 

            Ngày xưa người Tàu thường dùng các tên triều đại cai trị để gọi tên nước, tên người, như dưới thời nhà Đường th́ gọi tên nước là Đường quốc, người Đường (Thọng dành), đời nhà Măn Thanh th́ gọi là nước Đại Thanh, người Đại Thanh.

 

        Lưu Bang và Hạng Vũ cùng nổi lên lật đổ nhà Tần của Tần Thủy Hoàng. Lưu Bang có ư muốn trừ Hạng Vũ để tự thống nhất thiên hạ. Hạng Vũ cả giận muốn giết đi nhưng nghĩ thương t́nh v́ cũng là người nước Sở cả, nên mới cho vào trấn đất Hán Trung và Ba Thục phong cho tước hiệu là Hán Vương. Về sau Lưu Bang lập mưu đánh bại Hạng Vũ và lên ngôi lấy tước hiệu Hán vương đổi thành Hán Hoàng Đế tức Hán Cao Tổ, thủ đắc một nước Tàu thống nhất và xâm chiếm Bách Việt do công của Tần Thủy Hoàng lập ra. V́ nhà Hán cai trị nước Tàu lâu đời và trọng dụng các nho sĩ nên được ca tụng, rồi từ đó chữ nho được gọi là chữ Hán, người Tàu được gọi là người Hán. Đáng lư ra người Tàu phải gọi người Tần, Ch’in hay Tsin như người Tây phương gọi là Chine, China mới đúng v́ công thống nhất nước Tầu là của Tần Thuỷ Hoàng !

 

                                                                                    (Hết Phần I)