Họp Mặt Góp Lời

                                                                                       

  

-Chuyện thế sự nhân tình nói mãi cũng thế thôi, nói thêm chỉ tổ đi vào ngõ cụt! Hay là đổi đề tài đi nhé, anh Ba và các anh em nghĩ sao?

-Tại sao lại vào ngõ cụt được? Người ta thường nói: chuyện dài thế sự, ấy chính là một hệ thống mở toang, càng luận thiên hạ sự thì càng có đông đồng sự và như vậy lại càng xôm tụ chứ.

-Thì từ nãy đến giờ chúng ta cũng đã ta bàn đến bao nhiêu cõi rồi. Ðồng ý thế sự chuyện là câu chuyện không có chỗ chấm dứt, nối dài từ ngàn xưa cho đến ngàn sau và mở ra muôn vạn hướng; nhưng ngoài cái phần tất nhiên ấy ra cũng phải có một chút gì gọi là để thêm phần long trọng cho buổi họp mặt chứ. Ai nấy đều bận rộn, trăm công ngàn việc, thử hỏi một tuần, một tháng, hay một năm chúng ta có được bao nhiêu buổi "nhộn nhạo" huyên náo như thế này? Thôi thì mỗi lần họp mặt cũng nên chia sẻ cùng nhau một vài điều gì chứ, gọi là... dắt díu nhau trên đường xa gánh nặng mà!

 

Có người lên tiếng gạt đi:

-Thôi thôi! Cho tôi xin các cụ! Nghe hai cụ biện giải thì dường như cụ nào cũng có lý cả. Nhưng theo tôi nghĩ thì lâu lâu mới có được một buổi họp mặt đông đủ như thế này, thế nên cái có lý hơn hết là làm sao cho ai nấy đều được tận tình vui vẻ, thoải mái. "Nhân sinh quý hồ thích chí" mà, người xưa nói không sai đâu.

 

Liền có tiếng phản bác:

-Này! Tôi hiểu cái "thích chí" của ông rồi! Cứ chén chú chén anh rồi thì thích chí lăn đùng ra, báo hại tụi tôi lại phải khiêng khiêng vác vác, thật là sượng mặt với vợ với con ông. Thôi thì hãy để cho hai anh ấy bầy tỏ lẽ hơn thiệt đã nào.

-Ôi thôi! Hình như gió đã xoay chiều, sao mà người ta chuyển mục nhanh quá vậy. Mấy anh vừa giắt chúng tôi vào cõi lang bang, bây giờ lại tri hô cảnh cáo đừng đâm đầu vào ngõ cụt! Xin hỏi thế này là thế nào?

-Ông này! Tính gây sự hay sao đây? Chuyện thoải mái từ nẫy đến giờ hãy coi như cũng tạm đủ đi. Vậy xin đề nghị anh Ba cho biết tôn ý chứ. Tôi thấy từ nãy đến giờ dường như anh ấy rất trầm ngâm, ngoài việc bận bịu với cái ly thì lúc nào cũng chăm chăm vào đôi đũa, chẳng lẽ ngài đang đắm mình vào việc tìm hiểu cái lẽ diệu dụng của "cặp đôi bài trùng"?

 

(Nhiều tiếng cười ồn ào...)

-Hà! Ấy đấy, các ông thấy chưa? Bây giờ cái lòng đố kỵ của con người đã lên cao độ! Có người bị cao mỡ, cao máu, nên nhìn thấy thiên hạ thanh thản buông cương múa đũa mà sinh lòng tức tối, theo dõi. Tôi xin nhắc nhở quý vị hãy cảnh giác cao độ, bây giờ nhất cử nhất động của chúng ta đều không thoát được cặp máy thu hình tự động đầy rẫy mọi nơi. Tôi đề nghị chúng ta nên có bảng hiệu nhắc nhở nhau: "Smile!  You're on "Bàn nhậu" calm."!

 

(Lại có tiếng cười ồn ào vui nhộn). Người lớn tuổi nhất là anh Ba, lên tiếng:

-Thú thật từ nẫy đến giờ tôi thấy ý kiến của vị nào cũng có lý cả. Người ta gọi tôi là anh Ba. Thật ra tôi chính là anh Ba Phải. Tôi thấy những mẩu chuyện dù nghiêm túc hay "dui dẻ" thì cũng là các mặt của cuộc đời, dù màu xanh hay sắc đỏ, tím vàng hay xanh trắng cũng đều có công dụng tô điểm cho bức tranh đời vốn muôn màu vạn sắc. Nhưng tôi xin hỏi: Nếu như thấy bàn chuyện thế sự như vậy đã tạm đủ rồi, giờ muốn chuyển đề mục, thì xin quý anh em cho biết nên chọn dề tài gì bây giờ?

 

(Im lặng giây lâu...) Bỗng có tiếng rổn rảng:

-Tôi xin thay lời các chú em... (có tiếng phản đối lẫn tiếng cười...) Ơ, thì xin lỗi vậy, tại hạ xin được tôn vinh các Sir, vừa lòng chứ? Sao mà ở đời có lắm kẻ... ngã mặn thế ! (lại có tiếng cười)... Thôi thì tôi mạn phép thay lời quý anh em ở đây xin anh Ba có thể tô thêm vài nét cho rõ hơn về cụm từ "Văn hiến". Có được không ạ?

Im lặng... rồi nhiều tiếng vỗ tay hưởng ứng) Kẻ bị gọi tên giẫy nẩy:

-Ấy ấy! Xin miễn cho, kẻ Ba phải này vốn kiến thức rất "ăn đong" về cái đề tài vừa đề nghị. Ðây là một trong những vấn đề làm cho tôi cảm thấy thắt họng, xin lỗi, bố bảo cũng không dám lạm bàn. Vậy nhờ ân đức quý vị xá miễn cho!

 

Người ngồi cạnh lên tiếng... an ủi:

-Này anh Ba! vừa rồi anh có nghe thấy tiếng vỗ tay cùng khắp không? Ðấy là điềm báo anh em đã "nhất trí cao" rồi đấy. Anh vừa nói là vấn đề ấy làm anh thắc họng, thì đây chính là lúc mà cử tọa đặc cách cho phép anh được "húng hắng" khai ra. Hãy cứ mạnh dạn mà khai hết cái "hiểu biết ăn đong" của mình. Theo tôi biết thì anh em ở đây một khi đã nhất thiết đề nghị anh mở lời, ấy là có ý muốn  thử sức nhau, một cách "khảo bài" đấy, đừng tưởng chạy làng mà dễ! Biết thân thì hãy... thành thật khai báo đi, đừng để mất thì giờ vô ích!

-Thôi đi! Xin ông đừng có tốt bụng đổ dầu chữa cháy nữa! Ðã bảo... nói không được là... nói không được mà! Khổ lắm!

-Thôi thì... nếu như anh Ba thấy việc khai báo cái vốn liếng của mình về hai chữ "Văn hiến" để chia sẻ một tí với anh em là điều không cần thiết, thì xin mời cứ tiếp tục thoải mái buông cương cùng liệt vị anh em ở đây. Nào xin lại nâng ly, cầm đũa...!

 

(Tiếng cười nói lại vang lên...) Có tiếng thì thầm kín đáo chỉ vừa đủ cho mọi người đều nghe thấy:

-Cha này ba phải, đừng có khích tướng vô ích, hãy cứ đổ thêm nhiên liệu ắt đầu máy sẽ bốc khói. Phản lực đấy!

Anh Ba lại là người nhanh nhẩu nhất, tán đồng:

-Ý kiến hay đấy! Nào tất cả, xin cùng châm thêm nhiên liệu, mời quý vị. Bây giờ để tạ lòng quý anh em, kẻ Ba phải này xin cùng quý vị nhập cuộc thảo luận vậy. Nhưng cũng xin nói trước, người ngu hèn này biết tới đâu thì xin thưa tới đó; tất nhiên cái biết của tôi chỉ là những mớ lỏng lẻo và nông cạn, điều này anh em ở đây ai cũng đã biết, song vẫn phải nhắc lại để cầu xin được chỉ dậy và tha thứ... Trong cuộc đời này quả thật có những điều mà mình học mãi vẫn không thuộc, và hỏi mãi vẫn không hiểu, ấy chính là cái ngu của mình. Giám mong khoan thứ...

 

... Trước hết, với trí nhớ còm cõi, nếu tôi không lầm thì từ những năm đầu thập niên 80 và sau đó là thập niên 90 cụm từ "Văn hiến" đã được xử dụng trong tất cả những văn kiện và sách báo của THÐT, mà điển hình là tờ bìa sau của Nguyệt san Bất Khuất luôn luôn có đoạn văn:

Trải trên bốn nghìn năm tiền nhân ta dựng nước và giữ nước, Tổ quốc Việt Nam đã tự thành thiêng liên, bất diệt; lãnh thổ Việt Nam vốn là đất linh un đúc bao thế hệ hào kiệt anh tài; dân tộc Việt Nam bất khuất là dân tộc yêu chuộng tự do, không ngừng đấu tranh cho nền Tự chủ; trải qua bao thế hệ, bao triều đại lịch sử tiếp nối vẫn duy trì truyền thống văn hiến trọng đức, tôn hiền làm căn bản cho nền văn minh đặc thù của dân tộc.....

Rõ ràng và chi tiết hơn là trong cuốn "Cuộc Chiến Ðấu Cho Một Nước Việt Nam Văn Hiến" (CCÐCMNVNVH) đã minh định: Chữ Văn-hiến vốn có từ ngàn xưa trong ngôn ngữ các dân tộc Á Ðông, nhưng ngoài dân tộc Việt Nam chúng ta, dường như chưa có một quốc gia nào đề xướng nó như một thứ Hiến chương Lập quốc . Thật vậy, người VN vốn tự tin ở nền văn hiến lâu đời của dân tộc mình. Niềm tự tin ấy đã biến "Bốn ngàn năm văn hiến" thành tiếng reo vui rạng rỡ nhất, trong sáng nhất, và vinh quang nhất của cả một dân tộc...

 

Khởi từ đó chúng ta cùng nhớ lại, trong cuốn CCÐCMNVNVH đã trình bầy khá rõ về cặp chữ Văn hiến: Nguyên ủy chữ "Văn hiến?" được dùng ở Trung Hoa. Trong cuốn Luận Ngữ, Khổng Tử đã dùng từ Văn hiến. Ðến đời Minh, vua nhà Minh đã tặng cho sứ thần của vua Trần Nhân Tông bốn chữ "Văn Hiến Chi Bang". Rõ ràng và cụ thể nhất là đến thế kỷ 15 bậc thánh văn Nguyễn Trãi trong bài "Bình Ngô Ðại Cáo" đã viết: "Như nước Việt ta từ trước, Vốn xưng Văn hiến đã lâu...".  Vậy Văn hiến không phải do người mình tự xưng nhận hay tự phong, mà là của một nước vốn cậy mình là kẻ cả lúc nào cũng chờ dịp ăn sống nuốt tươi nước Việt, ấy thế mà phải công nhận nước ta là một nước "văn hiến". Vậy văn hiến chính là một dân tộc đã bước qua giai đoạn hỗn mang, phức tạp của thời Tiền sử để bước sang một thời kỳ có bản sắc của một nền văn hoá tiến bộ. Vì "văn" là chữ nghĩa, sách vở, các tác phẩm; "hiến" là những người hiền tài, danh tiếng, xã hội văn hiến là một xã hội có kỷ cương giềng mối Trọng đức Tôn hiền, biết kính thiên, trọng địa và quý nhân, yêu thương người và biết hòa thuận với trời đất để luôn luôn vươn cao. Ðó là tinh hoa của văn hoá và là trình độ dân tộc có văn hiến. Cho nên văn hiến là niềm kiêu hãnh, là tiếng reo vui của dân tộc ta. Văn hiến là điển mẫu tốt đẹp trọn ven cần vươn tới, mà không phải là một khuôn mẫu cổ lỗ xa xưa như nhiều người lầm tưởng. Ngoài ra chúng ta còn thấy có những trường hợp người Việt mình đã xử dụng từ Văn hiến như để nhắc nhở nhau, cảnh giác nhau, răn đe nhau mỗi khi có người nào đó buông những lời thô lỗ tục tằn, hoặc có những hành vi quá đáng, bất xứng, bất kính với người xung quanh thì người ta thường nhắc nhở "Thật là thiếu văn hiến", hay "Dân tộc ta có bốn ngàn năm văn hiến đấy".

 

-A này anh Ba, nhân anh nhắc đến "bốn ngàn năm văn hiến" làm tôi nhớ có một vị đã nêu thắc mắc: Cổ sử của ta dựa vào huyền sử Lạc Long Quân và 18 đời Hùng Vương từ 2879 đến 257 trước Tây lịch; như vậy đời Hùng trị vì 2622 năm, tính ra mỗi vị Hùng Vương cai trị 130 năm, điều này có hay không còn phải truy cứu lại. Anh thấy thế nào?

 

-Tôi thấy nhận xét như vậy không phải là không đúng. Vấn đề lịch tất nhiên là phải chính xác, con cháu phải nắm vững và rõ ràng về lịch sử của tổ tiên, ông cha, dân tộc của mình. Việc đặt nghi vấn để cùng nhau đi tìm sự thật là điều vô cùng cần thiết và vô cùng hữu ích. Nhìn vào cổ sử và huyền thoại, ngày nay với quan niệm duy lý không ai là không thấy có nhiều điều phải đặt ra, vì còn nhiều nghi vấn và nghịch lý, chẳng hạn như điều ông anh vừa nêu lên. Rồi tại sao lại 18 đời Hùng Vương? Có liên quan gì đến câu người ta hay nói "Thập bát ban võ nghệ"? v.v... Con số 18 cũng xuất hiện ở nhiều trường hợp. Thôi thì còn quá nhiều điều khúc mắc, chưa sáng tỏ, chưa hợp lý, tất nhiên làm sao có thể thuận tình. Làm sáng tỏ phần nào các vấn đề còn mù mờ trong cổ sử của ta là việc thật khó khăn. Khó là vì trước hết là suốt chiều dài lịch sử nếu tính là hơn bốn ngàn năm, vốn là một cuộc chiến đấu liên tục để tự vệ và tự tồn. Trong cái lò trầm luân ấy mọi khả năng phải dồn hết cho cuộc chiến sống còn, đâu còn nhiều thời gian để lo cho chuyện khác. Và rồi hàng ngàn năm lệ thuộc, mà bọn xâm lược thì thời nào cũng vậy, đều lấy chủ trương hủy diệt hay đồng hoá kẻ bị trị làm đầu. Ðối với chủ trương ấy, sách lược hữu hiệu nhất vẫn là tẩy xoá nền văn hoá, vơ vét sạch tài nguyên... Thế nên kẻ bị trị đến cái quần rách cũng chẳng còn, nói chi các tài liệu quý giá! Nối tiếp trò tang thương dâu bể là những vẩn đục của lòng người, thử hỏi lịch sử của dân tộc ta làm sao mà không bị xuyên tạc. Thôi thì đủ trò bóp méo vo tròn cho phù hợp với âm mưu thâm độc của kẻ cướp nước.. Trong bối cảnh như vậy, đòi hỏi sự chính xác minh bạch quả là điều không dễ. Một ngàn năm mươi năm lệ thuộc phương Bắc là chuỗi thời gian đen tối kinh hoàng của dân tộc. Sau đó để nối tiếp cái giấc mộng tanh hôi của tổ tiên họ, bọn con cháu các nhà Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều xua quân sang chiếm đóng hàng mấy chục năm, tính chuyện xoá bỏ nước Nam và dòng giống Việt... Kế tiếp là gần một thế kỷ dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, bắc cầu cho cuộc tương tàn đẫm máu giữa hai ý thức hệ Cộng Sản và Tư Bản trên đất nước ta. Ôi sao mà nhiều kiếp nạn như vậy. Ðến nay đã sang thế kỷ 21, cuộc tranh chấp tuy có giảm cường độ máu xương nhưng vẫn còn âm ỉ; khổ lụy và chướng ngại vẫn còn đầy rẫy. Một lần nữa toàn dân ta chắc lại phải tuân theo lời Tổ dặn "Khi nguy khốn thì cùng nhau gọi to lên: Bố ơi về cứu lấy chúng con".

 

Giữa bối cảnh này có lẽ chúng ta hãy cùng nhau chấp nhận rằng: Dân tộc ta đã có từ hàng chục ngàn năm. Trong buổi bình minh đó đã có lớp người khởi đầu là Thượng Thủy Tổ và Thủy Tổ. Ðất nước ta đã được thành lập từ gần năm ngàn năm, có những vị vua khởi đầu xưng hiệu là Hùng Vương. Có thể là 18 đời, 20 đời, hay 30, 50 đời hay nhiều hơn thế nữa... Nhưng chắc là phải có vị vua đầu mà chúng ta gọi là Quốc Tổ. Nối tiếp là biết bao nhiêu thế hệ Minh quân, Văn thánh, anh hùng, liệt nữ đã đem máu xương công đức đóng góp vào công cuộc dựng nước, giữ nước và mở mang bờ cõi, đồng thời tích lũy kinh nghiệm sống chiến đấu thành nền "Ðạo sống ngàn đời" cho con cháu. Nay uống nước phải nhớ nguồn, nguồn sống văn hiến tinh anh khí phách của dân tộc, nguồn sống bất tuyệt hướng đi về niềm vinh vượng của dân tộc. Loài người có vốn chung là tình yêu thương và lẽ sinh tồn, rồi tùy thuộc vào hoàn cảnh mà nẩy sinh những đặc tính thể hiện sự khác biệt giữa hoàn cảnh này với hoàn cảnh khác. Dân tộc ta có nét đặc biệt mà chính "kẻ thù" phải công nhận và xung tụng là "Văn hiến chi bang". Còn việc chắc gì từ hơn 4 ngàn năm trước Tổ tiên ta đã có những tác phẩm văn chương để gọi là VĂN và những bậc hiền tài nổi tiếng để được gọi là HIẾN vẫn còn vùi sâu trong cát bụi mịt mờ của lịch sử. Xin hãy vững niềm tin vào sự vận hành của lịch sử dân tộc và bước tiến hoá của loài người. Vận hành tiến hoá từng bước đi lên, thuận lòng người, hòa nhịp với đất trời, với nhân loại... Xã hội loài người đang trải qua những cơn hỗn loạn và con người trong xã hội ấy đang gậm nhấm những nỗi đắng cay, phiền não...; ấy phải chăng là hậu quả tai hại của lòng ham muốn vô độ, của những cuộc đổi thay đột biến... do nếp sống "thiếu văn hiến"gây nên?

 

Nhớ lại hồi trước tôi có được đọc một bài trong "Văn Nghệ Tập San" hình như tác giả là cụ Lê Văn Siêu, bây giờ tôi không còn nhớ rõ lắm, đại khái là cụ có ý nói những cái gì sáng sủa chưa hẳn là Việt Nam. Xin thưa ngay chẳng phải cụ không công nhận sự sáng sủa, rành rọt, rõ ràng, minh bạch, mà cụ chỉ muốn nói có những lãnh vực sự sáng sủa nguyên tắc lại trở thành thiếu tác dụng, không đạt được cái thâm trầm duyên dáng. Tôi còn nhớ lõm bõm cụ đã viết như thế này: Người Pháp có quan niệm cái gì không sáng sủa thì không phải là văn Pháp. Nhiều vị lớn tuổi đã từng học tiếng Tây hẳn thấu rõ sự khó khăn, chặt chẽ, sáng sủa của văn phạm Tây. Song văn chương nhất là trong lối nói của người Việt mình thì nhiều khi không đúng văn phạm quy cách mà vẫn ý nhị hay ho. Tác giả dẫn chứng như câu: "Hôm qua qua bảo qua qua thì qua không qua, hôm nay qua không bảo qua qua thì qua lại qua", hay câu đối thoại giữa đôi vợ chồng mới cưới còn mắc cỡ chưa quen gọi nhau là mình mình, em em, hay anh anh, em em, nên khi anh chồng sang nhà hàng xóm chơi, ở nhà chị vợ đã nấu xong cơm ra đúng ở hàng rào mà gọi chồng như thế này: ''Ai ơi! Ai về mà ăn cơm...". Anh chồng thấy vợ gọi mình bằng một câu rất bâng quơ nhưng lại thâm thúy đậm đà nên muốn trêu vợ, bèn nói vọng về: "Ai gọi ai đấy?". Chị vợ nghe chồng có ý trêu mình nên lại trả lời: "Ai gọi ai chứ còn ai gọi ai nữa". Cứ dựa vào văn phạm mà phân tích thì ôi chao! làm sao cho sáng sủa và đúng quy cách được. Nhưng đồng thời cũng không thể phủ nhận cái hay, cái ý nhị khéo léo kín đáo của các câu trên. Cách dùng ngôn từ đại loại như vậy còn đầy rẫy trong ngôn ngữ, văn chương của ta.

 

Sau hết tôi lại nhớ đến câu nhắc nhở của một vị cao niên mà tôi được hầu chuyện. Trong cuộc đàm thoại tôi có than thở nhiều điều với cụ, cụ đã mỉm cười và nhắc tôi qua câu tục ngữ "Ðắm đò rửa trôn" làm tôi giật mình khi thoạt nghe. Ôi, thì ra trong cơn nguy khốn nhất, lúc con đò bị đắm và tính mạng có thể lâm nguy, ấy vậy mà vẫn bình tĩnh... lợi dụng cơ hội trầm mình xuống sông để mà làm cái việc làm sạch sẽ rất cần sự kín đáo ấy.

 

Thôi đến đây cho... nhà cháu được tạm shut up, bởi bỗng dưng nhớ câu thơ của cụ Phan Sào Nam: "Quái lạ sao mà khát nước hoài". Vậy xin phép giải khát và chờ chỉ giáo.

(Cuộc họp mặt chùng xuống ít giây rồi lại bắt đầu ồn ào vui vẻ...).

 

 

 (Nguyễn Ký Thư - Tài liệu ghi chép riêng)