Các nhà nghiên cứu văn học Marxist không đặt trọng tâm vào việc khám phá văn học theo bản chất của nó, mà chỉ t́m những yếu tố  “ kể cả bịa đặt ” sao cho khớp với lư luận. Đội ngũ văn học phải làm việc theo chỉ đạo của lư luận văn học để đả phá kẻ địch và bênh vực  “ phe ta ”. Hăy đọc một đoạn văn lư luận  phân biệt giai cấp sau đây  để thấy sự thiên vị này:Nếu ra đời cùng với sinh hoạt văn nghệ quân đội đời Trần th́ chắc rằng lúc đầu lối hát trống quân ít nhiều đă được sự bảo trợ của Nhà Nước phong kiến. Nếu xuất hiện cùng với sinh hoạt văn nghệ của nghĩa quân Tây Sơn th́ hát trống quân trước sau vẫn là một sinh hoạt ca hát thuần túy dân gian. Dầu chưa có thể xác minh được xem thuyết nào là đúng hơn th́ vẫn có thể tin rằng hát trống quân đă đặc biệt phát triển trong trong các thế kỷ XVIII và XIX khi mà nội chiến phong kiến và các cuộc chiến tranh nông dân chống phong kiến đă lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia các hoạt động quân sự, và sinh hoạt văn nghệ của quần chúng chắc đă có những phần liên quan với các hoạt động quân sự ấy.(1)

 

            Nói thế có nghĩa là v́ đời Trần là phong kiến nên hát trống quân được bảo trợ; c̣n đời Tây Sơn v́ là “ áo vải cờ đào ” thuộc nông dân nên không liên quan ǵ đến phong kiến.

Phần khẳng định rằng hát trống quân chắc đă có những phần liên quan với các hoạt động quân sự của cuộc chiến tranh nông dân chống phong kiến, chỉ là nói theo kinh điển. Thực ra hát trống quân có nhiều phần là đặc điểm của vùng Bắc Ninh, c̣n ở vùng B́nh Định nơi phát tích phong trào Tây Sơn  th́ không thấy phá triển lối hát trai gái đối đáp này. C̣n nghiên cứu về nội dung th́ phần lớn những câu hát là trai gái đối đáp giao t́nh. Chỉ có sau này những năm 1950. . .  mới có ca dao kháng chiến do các văn công sáng tạo và hát để động viên.(2)

 

            Trong suốt nửa thế kỷ, các nhà nghiên cứu văn học Marxist đă xuyên tạc vùi dập biết bao sáng tác của những người không cùng chung ư thức hệ. Khi cần dùng chiêu bài dân tộc, họ đă mở cả một chiến dịch ca tụng Nguyễn Du. Khi cần chống Tàu th́ đưa Quang Trung lên là một nhà quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử, là thủ lănh của phong trào khởi nghĩa nông dân.

Ḿnh ( miền Bắc) nói Cao Bá Quát nổi loạn chống vua quan nhà Nguyễn th́ được; trong Nam nói thế th́ không được và cần phải đả kích:Tinh thần phản kháng của Cao Bá Quát là biểu hiện tất nhiên của một tấm ḷng yêu nước, thương dân, là một phẩm chất tốt đẹp của một người đứng hẳn về phía nhân dân mà chống lại giai cấp bóc lột thống trị, cụ thể là bọn phong kiến nhà Nguyễn.

            Đây cũng không phải là sự nổi loạn đang được nhắc nhở rất nhiều trong văn chương của bọn bồi bút của Ngụy quyền Saigon .. .

 

            Đọc thơ Cao Bá Quát, chúng ta sẽ t́m thấy một nguồn sức mạnh góp vào cuộc đấu tranh vĩ đại của nhân dân ta đang vượt mọi hy sinh, gian khổ để chiến thắng bọn xâm lược Mỹ và xây dựng thành công chủ nghĩa xă hội.(3)

            Khỏi cần nói đến sự sai lầm lố bịch này đối với những ǵ đang diễn ra ở Việt Nam ngày nay . Những bài hát nói và một số thơ của Cao Bá Quát được đánh giá cao là ở cảm quan xưa và kết cấu cùng lời văn hay theo tiêu chuẩn cổ điển khiến người ta đă nói, dù có hơi quá : Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán.; Làm ǵ có sức mạnh đău tranh nào ở trong những câu như:

                        Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,

                        Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.

                        Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,

                        Tiêu khiển một vài chung lếu láo.

Hay có tính chất xă hội th́ cũng giống những thơ của Bạch Cư Dị hay Đỗ Phủ xưa :

                        Thất thểu anh vác ḥm

                        Mỗi bước lại than thở

                        Bỗng gặp người áo khăn,

                        Cầm tay lệ giàn giụa.

                        Hơi anh giờ ra sao?

                        Mười năm không gặp nhau.

                        Anh rằng nói chi nữa,

                        Có ai thuê mướn đâu?

                        Xưa có ruộng chân đê,

                        Mười mảnh khá sung túc.

                        Thu Mậu Tư mất mùa,

                        Lang thang kiếm ăn khắp.

                        Trở về ruộng bỏ hoang,

                        Nợ thuế lư hương thúc.

                        Thuế tô có hạn kỳ,

                        Ruộng rẻ không cố được.

                        Chao ôi! Bạn ông xưa,

                        Cửa hàng đem bán sức.

                        Việc đời thường ngang trái,

                        Ba năm không t́nh thân.

                        Há không muốn khoẻ mạnh,

                        Hết chửi đến roi đ̣n.

                        Nhà trên thức ngon ngọt,

                        Dưới toàn gầy giơ xương.

                        Đi ở đâu không chủ,

                        Bỏ đây t́m đâu hơn?

                        Nợ thuế lâu ngày chất,

                        Tiền ở mấy quan đôi.

                        Sáng nay bày tiệc rượu.

                        B́nh ngọc lỡ tay rơi.

                                    (Khương Hữu Dụng dịch)

 

            Thảm cảnh này ngày nay thấy đầy rẫy trong xă hội Việt Nam , nhưng các nhà lư luận văn học Marxist không nói đến . Đảng ta chỉ biết nói đến cái xấu của kẻ địch mà thôi! V́ lập luận không căn cứ như thế cho nên họ đă nêu lên những điều không có, hay không biết tới để dễ dàng thuyết phục người đọc.

            Căn cứ vào mấy câu thơ có ư chê trách những người cư xử không đúng đạo đức, lễ nghĩa mà cho là chống lại cả tổ chức phong kiến xây dựng trên nền luân lư lấy tam cương, ngũ thường và tứ đức tam ṭng làm căn bản th́ quả thật là đă xếp Hồ Xuân Hương vào hàng ngũ cách mạng xă hội chủ nghĩa, lấy việc phá đổ nền luân lư cũ làm mục tiêu; trong khi chính Hồ Xuân Hương không hề có hành động như vậy, và xă hội cũ thật ra cũng không đối xử với phụ nữ như thế. Những h́nh thức lễ nghi, những sùng thượng luân lư như tổ tiên ta vẫn làm, mà sau này có nhiều nhà tân học nhất thiết bài bác cho là hủ tục,  đă không phải là xiềng xích trói buộc. Cái cốt tủy của những h́nh thức ấy là căn bản của một tín ngưỡng lấy sự phát triển của gia tộc làm cứu cánh thể hiện ra ở chữ hiếu. Người đàn bà trong gia đ́nh có địa vị vai tṛ và quyền lợi đă được luật pháp công nhận chỉ kém người chồng là chủ gia đ́nh. Khi  một người chồng bất nghĩa muốn phụ răy vợ th́ ngoài dư luận làng nước, pháp luật cũng có điều khoản bênh vực người đàn bà. C̣n khi một người con bất hiếu với mẹ th́ nếu nói theo lập luận xă hội chủ nghĩa là phụ nữ bị khinh rẻ nhất th́ chẳng có tội ǵ! Nhưng đứa con hư ấy trong nền luân lư và pháp luật cũ có thể bị án chém. Luật lại c̣n một lối thoát mà qua đó ta thấy tính chất nhân bản, quư trọng người phụ nữ là nếu tử tội có cha hay mẹ già không ai phụng dưỡng th́ được hoăn thi hành bản án để phụng dưỡng mẹ cha cho đến khi người này qua đời mới phải thụ h́nh. Có khi trong thời gian phụng dưỡng mẹ già mà tử tội ( thực tế mẹ già chết sớm ngày nào th́ tử tội hết sống ngày ấy nên v́ tính mạng ḿnh mà phải săn sóc chu đáo) đổi tánh trở nên hiếu thảo thật, th́ lại xét mà tha tội chết cho.

 

 

            Bằng lập trường duy vật, đău tranh giai cấp nên những người nghiên cứu văn học xă hội chủ nghĩa nh́n những sự thương yêu, hy sinh nhường nhịn của những phần tử trong gia đ́nh của xă hội cũ ta như là một bất công xă hội, nh́n sự chuyển hóa t́nh dục thăng hoa thành t́nh nghĩa vợ chồng ở t́nh cảm hơn là t́nh dục (sex) ra là bị bóc lột, đăy ải, áp bức cấm đoán  và khinh miệt người đàn bà. Xin có một thí dụ về vai tṛ, tư cách và địa vị của một hiền phụ ngày xưa: Trong một bức thư gửi cho con trai, cụ Phan Bội Châu nói về vợ như sau: Này con! Chúng con ơi ! Cha mày e chết ở rày mai, có lẽ mẹ mày không được một phen gặp nhau nữa! Nhưng nếu trời thương ta, cho hai ta đồng chết th́ gặp nhau dưới suối vàng, cũng vui thú biết chừng nào!

            Nhưng đau đớn quá! Mẹ mày e chết trước ta. Ta hiện bây giờ, nếu không chép sơ những việc đời mẹ mày cho chúng con nghe, thời chúng con rồi đây không biết rơ mẹ mày là người thế nào, có lẽ bảo mẹ ta cũng như người thường thảy cả.

            Than ôi! Ta với mẹ mày thật gần năm mươi năm, mà quan quả giả gần bốn mươi năm. Khi sống chẳng mấy hồi tương tụ; mà tới chết, lại chỉ tin tức nghe hơi.

            Chúng mày làm con người, đă biết nỗi đau đớn của cha mày với mẹ mày, chắc ḷng mày c̣n thế nào mà vui thích được!

            Bây giờ ta lúc sắp sửa chết mà chưa chết, đem lịch sử mẹ mày nói với mày:

            Cha ta với Tiên nghiêm mẹ mày xưa, thảy nhà nho cũ, rất chăm giữ đạo đức xưa. Mẹ mày lớn hơn ta một tuổi. Hai ông đính thông gia với nhau từ khi con c̣n  nên mật, Tới năm mẹ mày hai mươi ba tuổi, về làm dâu nhà ta. Lúc ấy mẹ ta bỏ ta đă tám năm, trong nhà duy cha già với em gái bé. Ta v́ sanh nhai bằng nghề dạy trẻ, luôn năm ngồi quán ở phương xa; cái gánh sớm chiều gạo nước, gởi vào trên vai mẹ mày. Cha ta đối với dâu con rất nghiêm thiết, nhưng chẳng bao giờ có sắc giận với mẹ mày. Cha ta hưởng thọ được bảy mươi hai tuổi, nhưng bị bịnh nặng từ ngày sáu mươi. Liên miên trong khoảng mười năm, những công việc thuốc thang hầu hạ bên giường bệnh, cho đến các việc khó nhọc nặng nề mà người ta không thể làm được, thảy tay mẹ mày gánh cả.

            Kể việc hiếu về thờ ông gia như mẹ mày, thật là một việc hiếm có.

            Trước lúc cha ta lâm chung, ước vài phút đồng hồ, gọi mẹ mày tới cạnh giường nằm. chúc ta rằng:Ta chết rồi, mày phải hết ḷng hết sức dạy cháu ta, và lại hết sức thương vợ mày. Vợ mày thờ ta rất hiếu, chắc Trời cũng làm phước cho nó.

            Xem lời lâm chung của cha ta như thế, cũng đủ biết nhân cách của mẹ mày rồi.

            Năm cha ta sáu mươi sáu tuổi, c̣n hiếm cháu trai, mà ta lại là con độc đinh, nên cha ta càng khát cháu lắm. Mẹ mày muốn được chóng sanh trai, cho bằng ḷng cha, nên gấp v́ ta cưới thứ mẫu mày, chẳng bao lâu mà em mày sinh. Trong lúc thằng cu mới ra đời, mẹ mày gánh việc ôm ấp đùm bọc hơn một tháng.

            Cha ta được thấy cháu đầu, hoan hỉ quá chừng, thường nói với ta rằng :Ta nay chỉ c̣n một việc chưa nhắm mắt, là mày chưa trả cái nợ khoa danh mà thôi. Mẹ mày nhân đó càng ân đức thứ mẫu mày, thân nhau hơn chị em ruột.

            Cứ hai chuyện trên, bảo mẹ mày là mẹ hiền, về đời cựu chắc không quá đáng. Nhưng mà bắt buộc cho trọn đời nhớ luôn luôn, thời lại v́ có một việc :

            Nguyên lai nhà ta th́ chỉ có bốn tấm phên tre không, chẳng bao giờ chứa gạo tới hai ngày. Nhưng v́ trời cho ta cái tính quái đặc, thích khoản khách hay làm. Hễ trong túi được đồng tiền, thấy khách hỏi tức khắc cho ngay. Thường khi từ trường quán về, ta tất mang  luôn khách về nhà, khách hoặc năm sáu người ,có khi mươi người chẳng hạn, nhưng chiều hôm sớm mai, thiếu những ǵ tất hỏi mẹ mày. Mẹ mày có ǵ đâu! Chỉ dựa vào một triêng hai thúng, từ mai tới hôm mà cũng nghe chồng đ̣i ǵ th́ có nấy. Bổng dậy học của ta tuy khá nhiều, nhưng chưa đồng nào mà tay mẹ mày được xài phí. Khổ cực mấy nhưng không sắc buồn; khó nhọc mấy nhưng không sắc giận. Từ năm ta đă ba mươi sáu tuổi,cho tới ngày xuất dương ,những công việc kinh dinh việc nước, mẹ mày ngầm biết thảy, nhưng chưa từng hé răng một lời. Duy có một ngày kia, ta t́nh cờ ngồi một ḿnh, mẹ mày đứng dựa cột, kề một bên ta mà nói:

-          Thầy toan bắt cọp đó mà? Cọp chưa thấy bắt, người ta đă biết nhiều, sao thế?

Mẹ mày tuy có câu nói ấy mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá.

            Bây giờ nhắc lại, trước khi ta xuất dương, khoảng hơn mười năm, nghèo đói mà bạn bè nhiều; khốn cùng mà chí vững, thiệt một phần nữa là nhờ ơn mẹ mày.

            Tới ngày ta bị bắt về nước, mẹ mày được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ, hơn nửa tiếng đồng hồ, chỉ có một câu với ta rằng: Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần gặp mặt thầy, trong ḷng tôi đă măn túc rồi. Từ đây trở về sau, chỉ trông mong cho thầy giữ được ḷng xưa , thầy làm những việc ǵ mặc thầy, thầy chớ nghĩ tới vợ con.

            Hỡi ơi! câu nói ấy, bây giờ c̣n phảng phất ở bên tai ta, mà ta chầy chà năm tháng, chẳng việc ǵ làm, chốc đă chẵn mười năm. Phỏng khiến mẹ mày chết trước ta, th́ trách nhiệm của ta e c̣n nặng măi măi.

            Suối vàng quanh cách, biết lối nào thăm; đầu bạc  trăm năm c̣n lời thề cũ.

            Mẹ mày thiệt chẳng phụ ta, ta phụ mẹ mày!

            Công nhi vong tư chắc mẹ mày cũng lượng thứ cho ta chứ!

              ( Câu này là Phan Bội Châu nói với vợ) .

 

 

Việt Nam ta trong chế độ gọi là phong kiến bóc lột ấy có nhiều bà vợ, bà mẹ như bà Phan Bội Châu, và chính nhờ các bà này mà gia tộc bền vững, trong khi các ông rảnh tay làm cách mạng  hay hoạt động ngoài xă hội . Người phụ nữ thường v́ các thế hệ sau mà tự nguyện hy sinh hạnh phúc cá nhân. Họ nói không ngoa, trọng nghĩa hơn trọng t́nh . Người nay chê ngày xưa có việc ép duyên, không đếm xỉa đến quyền tự do của con cái . Điều ấy đúng. Nhưng cũng chính trong công cuộc xếp đặt lứa đôi ấy mà theo thời gian người ta củng cố cái nghĩa mà làm cho gia tộc thêm bền chặt. Không có cái nghĩa th́ làm sao mà bà Phan Bội Châu như cụ ông nói quan quả giả gần 40 nămvẫn giữ được ḥa thuận, nuôi dạy con trẻ, phụng dưỡng bố chồng hiếu thuận như thế. Đó là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ về một nền tảng gia đ́nh chỉ thuần đặt trên căn bản t́nh yêu và hạnh phúc cá nhân.

            Cái nền tảng gia đ́nh đặt trên t́nh nghĩa ấy đă tỏ ra rất bền vững với thời gian. Tuy sau này có những người tân học nửa mùa đ̣i hủy diệt nó : những là hô hào tự do kết hôn, hoặc xuyên tạc bài bác việc ở góa. Xă hội tuy có những thay đổi tự do và cá nhân hơn , nhưng tâm hồn của nhiều phụ nữ Việt vẫn ǵn giữ t́nh nghĩa gia đ́nh để nuôi dưỡng thế hệ sau. Điển h́nh là biết bao nhiêu phụ nữ sau 1975 đă thủy chung nuôi chồng đi tù phương xa và lo dạy con cũng như t́m đường vượt thoát chế độ Công Sản. Cái ǵ đă tạo nên tâm hồn đẹp đẽ của những phụ nữ ấy ? Chắc không phải là điều mà Xuân Diệu gán cho Hồ Xuân Hương đ̣i giải phóng t́nh dục và tự do chửa hoang.

 

Chẳng phải là ngày xưa người ta không biết đến hay không có nhu cầu về t́nh dục; nhưng người ta đă qua kinh nghiệm cùng suy tư thấy rằng hạnh phúc gia đ́nh không chỉ để giải quyết nhu cầu sinh lư mà c̣n vâng theo thiên tính duy tŕ ṇi giống mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn. Việc trông nom giáo dục tính t́nh con cái trong gia đ́nh ngày trước (ngày nay cũng thấy không nên đổi khác) hoàn toàn trông cậy vào người mẹ. Một người mẹ lăng loàn, dâm đăng, lúc nào cũng đ̣i đấu tranh giải phóng t́nh dục, chẳng thể nào dạy dỗ được con cái đoan trang và giỏi dang. Cái ư nghĩa câu phúc đức tại mẫu là nhằm nói lên sự tương quan của một bà mẹ hiền với cuộc sống tốt đẹp của gia đ́nh.

 

            C̣n đến nói rằng giải phóng phụ nữ như Xuân Diệu gán cho Hồ Xuân Hương: Xuân Hương không muốn thẹn với non sông, nàng Xuân Hương dũng cảm bênh vực người chửa hoang trong xă hội cũ (tôi gạch dưới để nhấn mạnh) :

                        Cả nể cho nên sự dở dang,

                        Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?

                        Duyên thiên chưa thấy nhô đàu dọc,

                        Phận liễu sao đà nảy nét ngang.

                        Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?

                        Mảnh t́nh một khối thiếp xin mang.

                        Quản bao miệng thế lời chênh lệch,

                        Không có. . . nhưng mà có mới ngoan .

            Cũng như Nguyễn Du nói trong Truyện Kiều : Quá chiều nên đă chán chường yến oanh. Xuân Hương hiểu sâu đến tận cốt tủy những nỗi niềm của người phụ nữ tự cho ḿnh tất cả trong t́nh yêu.

                        Cả nể cho nên sự dở dang.

            Rất biết cái thế thua sẵn mà xă hội cũ dành cho ḿnh, dại một giờ đốt hết cái khôn ba năm, người phụ nữ vẫn cầm ḷng chẳng đau trước t́nh yêu, rồi bị kẻ Sở Khanh vứt ḿnh bụng mang dạ chửa ra trước xă hội cũ ác nghiệt tàn khốc!

                        Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?

            Dù người kia phụ bạc, dù cái thai là một cái vạ tày đ́nh nhưng nó là sự sống, là đời một con người mang ở trong bụng, cho nên:

                        Mảnh t́nh một khối thiếp xin mang.

            Người phụ nữ vẫn bao dung, mang mẻ, vẫn là người mẹ của cuộc đời, tuy oán giận nhưng vẫn tha thứ; tuy ngh́n vạn cực nhục nhưng vẫn hy vọng; Sự sống đă xuyên qua cơ thể của nàng mà tiến lên thêm một thế hệ. Thiếp xin mang, xin mang tất cả những giày xéo, chà đạp, cho đến cả gọt đầu bôi vôi nữa. Than ôi! Xin mang một khối t́nh sinh sôi nẩy nở. Và cũng chẳng tội ǵ mà cúi mặt nữa :

                        Không có . . . nhưng mà có mới ngoan.

            Nàng ngẩng lên, ngang nhiên giẫm lên trên những cái mồm nọc rắn, kiêu hănh nhận rằng :tôi là mẹ!

            Cách mạng vô sản tháng Mười 1917 lúc thành công đă rất giúp đỡ cho những người mẹ không có chồng. (4)

 

 

            Không nói ǵ đến những điều hiểu sai từ ngữ hay ư nghĩa câu, điều không thể xảy ra cho những người đă có học , tuy vẫn xảy ra v́ những người này đă dời xa tinh thần tiếng Việt; tác giả Xuân Diệu đă cố t́nh lái ư nghĩa của thơ theo chiều hướng có lợi cho lập luận của ḿnh. Như câu :

                        Không chồng mà chửa mới ngoan,

                        Có chồng mà chửa thế gian sự thường.

Chữ ngoan ở đây là một lối nói mỉa mai đặc biệt Việt Nam. Nó có nghĩa ngược lại điều nói. Một bà mẹ chồng khen cô con dâu nấu hư một món ăn rằng khéo quá th́ không có nghĩa là bà cảm phục cô con nấu ăn giỏi, ngon mà là tệ, hỏng, kém vụng. Nói không chồng mà chửa th́ là một điều rất xấu xa chứ không phải như Xuân Diệu hiểu ra là hănh diện để mà xưng tụng rất cải lương : kiêu hănh nhận rằng tôi là mẹ.

Đem gán một bài thơ chế diễu một ông sư phạm giỏi, một nhân vật quan trường hư hỏng, hay chửi tục một chuyện trái tai gai mắt xảy ra trong xă hội, mà bảo là làm cách mạng, là thi hào vô sản th́ quả thật hạ giá chữ thi hào và hiểu nhẹ nội dung của chữ cách mạng.

 

            Điều trên không lạ khi người ta đă phải xuưt xoa khen tác giả của câu thơ :tiến lên toàn thắng ắt về ta là thiên tài thi ca cách mạng , th́ phải đa lên ngôi vị thi hào, người làm thơ bằng ngôn ngữ của đại chúng b́nh dân.Họ quan niệm rằng b́nh dân, đại chúng cách mạng là sức mạnh và thô lỗ, nó chối bỏ mọi thành quả của sự thanh tao hóa bản năng dă thú của con người như từ ngữ : đi ỉa… người ta thấy không thanh tao nên đă đổi ra đi xông, đi đồng, đi cầu, đi vệ sinh. Các nền văn minh Tây Phương khác cũng thế, người dùng những chữ bóng gió nói đến những nhu cầu hạ đẳng của con người. Như quần áo để che đậy những phần cần phải dấu kín dù chỉ bằng mảnh vải rất nhỏ. Những người b́nh dân của Saigon năm 1975 đă cười chê cách mạng dùng những từ hết sức thật và tục như :cầu ỉa, nhà đái, xưởng đẻ v.v... Ít lâu sau những danh từ này cũng biến mất, chứng tỏ khuynh hướng của con người vẫn tôn trọng sự thanh nhă.

 

            Mà thật sự th́ Hồ Xuân Hương có thô lỗ tục tằn như thế đâu  để áp đặt cho bà là thi hào vô sản với cứu cánh là tục tằn thô lỗ. Bà có chửi đổng  khi bực ḿnh quá:

                        Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Th́ cũng như Nguyễn Du đă cho Thúy Kiều cũng chửi đổng khi tuyệt vọng và bực tức:

                                    Chém cha cái số má đào,

                        Gỡ ra  rồi lại buộc vào như chơi.

Bà Hồ Xuân Hương có tục chút nào, có vô sản chút nào đâu với những câu thơ như:

                        Hành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,

                        Thứu Lĩnh đen trùm một thức mây.

                        Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch,

                        Phất phơ sườn núi lá thu bay.

            Hăy trả lại chân giá trị của Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nôm có nhiều bài với những câu thơ độc đáo ư nhị. Đấy là không kể bà c̣n bị gánh oan những bài thơ tục tĩu, phần lớn do những người đàn ông làm, mà nếu phân tách và hiểu đúng ta sẽ giải tỏa được những hiểu lầm từ lâu; Hiểu lầm v́ không biết hay hiểu lầm có ư đồ th́ cũng là phạm tội với một nhà thơ của dân tộc.

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Chú thích:

 

(1)   Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên - Văn học Dân gian - nxb Đại học , Hà nội 1977 trg 275 - 276.

(2)   Hát trống quân thịnh hành nhất ở miền Bắc Việt Nam. Đa số câu hát đều diễn tả nỗi ly biệt truân chuyên của kẻ đi người ở. Thường hát theo nhịp trống và thể thơ lục bát và song thất lục bát. Theo cụ Dương Quảng Hàm th́ : cuộc hát trống quân thường tổ chức ở các vùng quê về dịp tết Trung thu do các người đàn anh trong làng treo giải. Một người con trai và một người con gái ngồi đối diện nhau vừa hát vừa gơ vào dây để lấy nhịp ( dây này căng thẳng trong khoảng hai cái cọc ở giữa buộc một tấm ván hoặc một cái thùng sắt tây chôn xuống đất để lấy tiếng vang). Hai bên đối đáp mượn những câu hát có sẵn mà biến hóa thay đổi cho hợp với t́nh ư ḿnh : Đến khi nào một bên không hát được là thua, bên kia sẽ được lĩnh giải ( Nguyễn Trúc Phương - Việt Nam Văn học b́nh dân - nxb Xuân Thu , Cali 1990 , trg 98

(3)   Vũ Khiêu - Thơ chữ Hán Cao Bá Quát - nxb Văn Học , 1977 trg  47

            (4)   Hồ Xuân Hương , Thơ và cuộc đời - nxb Văn Học Hà nội 2003 trg 180