Sartre đă thật là thơ ngây, đối với giới văn học nghệ thuật Cộng Sản, khi nhận định rằng những tác phẩm dùng để tuyên truyền thường không có nghệ thuật. Thơ ngây v́ Sartre không được sống trong một nước độc tài Cộng Sản để thấy được sự chỉ đạo nghệ thuật của Đảng nhằm sản sinh ra những tác phẩm (nếu gọi tác phẩm là thành quả của lao động nghệ thuật). Cho đến khi làn sóng người Việt Nam tỵ nạn ào ào đổ ra nước ngoài (định cư ở đâu cũng được, trừ có Việt Nam và các nước Cộng Sản) th́ những điều gọi là đẹp đẽ của những chế độ toàn trị của Liên Xô hay Việt Nam đă được những cán bộ văn hoá của họ rao giảng mới thật sự làm ông thay đổi lập trường  từ thân Cộng sang đề cao nhân bản và tự do của con người.

            Chúng ta đă nói rất nhiều, nhưng vẫn chưa đủ về một đường lối sáng tác nô dịch của những người được đưa vào hàng ngũ cán bộ văn hóa do v́ miếng cơm manh áo, cũng đôi khi do v́ hănh diện được ở địa vị cao trong guồng máy chính trị của chế độ toàn trị Cộng Sản (Trong chế độ này, có chức th́ có quyền, có quyền th́ có thế và mọi quyền lợi); mà nhất là ở Việt Nam th́ hầu như toàn thể những lănh đạo cao cấp đều là những nhà văn hoá có tầm vóc lớn nhận lănh xứ mạng chỉ đạo cả về tư tưởng lẫn kỹ thuật những sáng tác văn nghệ.

            Điều đáng nói là những thứ văn nghệ chỉ đạo ấy vẫn c̣n đang được ǵn giữ và đề cao, khiến cho nhiều thế hệ người Việt giao tiếp hay sinh sau giai đoạn biến động này vẫn phải hấp thụ thứ văn hoá phản văn hoá ấy, khiến tạo nên những nhân cách đáng phàn nàn.

 

            Ngày trước, trong thời kỳ đối kháng trực diện của nền văn hoá của chế độ Cộng Hoà tự do miền Nam với văn hoá Cộng Sản, th́ v́ phe Cộng bưng bít rất giỏi, ở miền Nam không được biết ǵ về những phá hoại của chính sách văn hoá ở miền Bắc. Hơn nữa, cũng v́ là là thời kỳ chiến tranh cho nên miền Nam cũng áp dụng chính sách kiểm duyệt và cấm phổ biến những sản phẩm văn hoá của miền Bắc, nên dân chúng lại càng mù mờ hơn. Khía cạnh phản tuyên truyền của chính sách kiểm duyệt và cấm đoán này càng làm cho phe Cộng đắc thế với đường lối bịp bợm và xuyên tạc.

 

            Nay th́ Cộng Sản một ḿnh một chợ văn hóa ở Việt Nam. Nếu có một chút cởi mở, th́ hăy cứ nh́n vào các tác phẩm đương đại, vẫn không đề cập ǵ đến cốt tủy của nền văn hóa Mác-xít vốn đă được cấy vào xă hộI Việt Nam từ những manh nha khi những người Cộng Sản đầu tiên đem vào. Cho đến khi họ có chính quyền th́ tinh thần chuyên chính vô sản toả ra mọi địa hạt, mà chú trọng mạnh nhất vào văn hóa.

            Với sự thắng thế của Trung Quốc trong thời Mao Trạch Đông lănh đạo, v́ phải dựa vào Trung Quốc nên tuy Hồ Chí Minh tuyên bố rằng mọi tư tưởng đă được Mao Chủ Tịch nêu lên kỹ lưỡng rồi, Hồ chỉ tuân thủ làm theo. Nhưng thực sự, ngay từ những khi chưa lệ thuộc vào Trung Cộng, Việt Nam đă có một mục tiêu văn hóa riêng, thể hiện ở hai mặt phá hoại và củng cố. Ở văn hóa Mác-xít không có sự thoả hiệp, tương nhượng, chỉ có sự đánh đổ, hủy diệt. Sự nhương bộ nếu có chỉ là chiến thuật lùi một bước để tiến hai bước. Ngay trong địa hạt văn nghệ nếu có phải tranh luận th́ chỉ có áp đảo đối phương bằng mọi cách, không hề có đối thoại ngay thẳng, và cũng không bao giờ chịu công nhận sự thiếu xót hay sai lầm của ḿnh.

 

            Trong thời chiến tranh, người ta c̣n biện minh bằng tinh thần giai đoạn để lấp liếm những sai lầm hay quá khích.Nhưng ngay cả thời b́nh, tinh thần độc đoán vẫn phát huy đến cao độ. Cốt lơi của vấn đề đă được định trước, người ta chỉ c̣n đi t́m và lư luận, kể cả việc đoạn chương thủ nghĩa, hay sửa chữa tài liệu đi cho hợp với lư luận để củng cố và làm nổi bật mục tiêu. Tính khách quan chỉ là cái vỏ bọc như một lớp váng màu mỡ riêu cua cốt cho đối phương khiếp sợ và tin tưởng vào tính chất khoa học của cơ sở lư luận biện chứng (mà thật chẳng có tí khoa học nào, vẫn chủ quan và áp đặt).

 

            Mục tiêu của những nhà gọi là văn hoá Mác-xít theo đuổi là áp đặt thứ văn hoá họ gọi là mới ấy cho dân tộc Việt Nam để thay thế nền văn hoá xưa mà họ cho là lỗi thời, là nguyên nhân làm suy yếu dân tộc khiến đưa đến chỗ lạc hậu và mất nước.Thời gian thí nghiệm đă đủ dài để thấy sự bất lực của văn hoá Mác-xít, nhưng muốn thấy được nguyên nhân đưa đến những suy đồi văn hoá ngày nay, phải trở lại để xem sự phá hoại có kế hoạch từng phần nền văn hoá xưa mà những người Mác-xít coi là trở ngại trên bước đường tạo dựng cái gọi là Thiên đường Xă-hội Chủ-nghĩa.

 

I. Đảo lộn trật tự và giá trị xă hội:

 

            Trật tự và giá trị xă hội là do biết bao công lao của con người đă xếp đặt và xây dựng qua nhiều thời gian, nó biểu hiệu dấu vết của văn hoá. Không thể nói rằng loài vật cũng có cuộc sống từng bầy và ở mỗi bầy cũng có những con đầu đàn lănh đạo và trông coi duy tŕ trật tự của bày là loài vật cũng có tinh thần xă hội được. Xă hội của con người phức tạp hơn nhiều và đă trải qua nhiều tiến hoá mới sắp đặt được trật tự, ngôi thứ căn cứ vào tuổi tác, tài năng và đức độ, khác xa với ngôi thứ của loài vật chỉ do bạo lực mà tạo nên.

            Văn hoá Mác-xít đă đảo ngược trật tự v́ lư do chính trị nhất thời muốn tiêu hủy trật tự này bằng nhiều biểu hiện về văn hóa và đạo đức.

            Xă hội cũ của Việt Nam ta đặt nền tảng trên gia tộc. Ở khía cạnh tiêu cực có thể gây nên những bất công chèn ép các cá nhân tài đức không ở trong gia tộc ḿnh (Một người làm quan cả họ được nhờ); nhưng ở khía cạnh khác th́ sự đoàn kết và đùm bọc để bảo vệ danh dự của gia tộc lại là một yếu tố tốt cho sự tiến hoá của xă hội. Xét về khiá cạnh trật tự th́ gia tộc Việt Nam có những quy định rất chặt chẽ và thể hiện rơ nơi cách xưng hô, đồng thời là tang lễ.

            Tiếng Việt càng giàu từ xưng hô bao nhiêu th́ càng biểu lộ tính chất trật tự xă hội và tư cách con người. Đơn cử một ví dụ: ngôi thứ Ba tiếng Anh dùng chữ he hay she th́ tiếng Việt có : nó, hắn, va, chị, ông, bà, cô, cậu, cụ, tùy trường hợp mà dùng; dùng không đúng chỗ và đúng người th́ nhẹ là bị chê kém cỏi; nặng th́ là vô phép, vô giáo dục. Như kính trọng th́ Cụ lớn nhà dạy sao?; cụ tổ nhà ta đă bớt mệt chưa?. V́ thế có một số người quên mất tinh thần Việt Nam nên mỗi khi chuyển ngữ tiếng Anh hay tiếng Pháp sang tiếng Việt cứ dùng bừa băi nó, ông ấy ( có người hỏi thăm thân phụ anh độ này ra sao? th́ trả lời :Ông ấy vẫn b́nh thường, câu trả lời rất đúng và rất hiền lành, nhưng phải để ư đến người đối thoại với ḿnh thuộc vai vế thế nào với ḿnh. Nếu là ngang hàng với ḿnh th́ phải dùng ông tôi, trên ḿnh th́ dùng ông cháu.)

 

            Hiện thời chúng ta nghe những điều trên vẫn c̣n chướng tai là v́ căn bản tinh thần tiếng Việt do văn hoá Việt Nam tạo ra của ta vẫn c̣n tiềm tàng trong tinh thần chúng ta. Căn bản đạo đức c̣n dù đă bị các nhà gọi là văn hoá Mác-xít cố t́nh phá hoại, bảo đó là luân lư Phong kiến lạc hậu của địa chủ tư sản phải đào tận gốc, trốc tận rễ. Tinh thần phá hoại của văn hoá Mác-xít ấy cốt ở phá bỏ trật tự, niềm tin và tín nghĩa, như thế mới động viên người ta thay đổi không tin vào truyền thống nữa, mà chỉ theo những ǵ Đảng đề ra.

            Điều trước tiên là mọi tư tưởng khác với văn hoá Mác-xít đều là lạc hậu, phải bị hủy diệt. Trong văn học cũng chỉ c̣n một tư tưởng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xă Hội Chủ nghiă là được đề cao.

            Các nhà lănh đạo văn nghệ ở miền Bắc XHCN đă dùng mọi thủ đoạn, hiệu nghiệm nhất là thắt bao tử khiến cho các văn nghệ sĩ đều phải sáng tác theo chỉ thị của Đảng. Xin đơn cử trong bài này hai tên tuổi văn nghệ, xưa vốn là những nhà thơ có tiếng tăm trong Phong trào Thơ Mới trước 1945 là Huy Cận và Chế Lan Viên.

            Huy Cận ở Thơ Mới có những bài thơ với lời lẽ óng chuốt:

                                    Sầu thu lên vút song song,

                        Với cây hiu quạnh với ḷng quạnh hiu.

                                    Non xanh ngây cả buổi chiều,

                        Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.

                                                            ( Thu rừng - Lửa Thiêng)

 

            Vũ Ngọc Phan, nhà phê b́nh văn học có giá trị thời Tiền Chiến đă viết những lời ca tụng sau đây:Thật là những câu tuyệt bút, đặc giọng Thơ Đường để tả những cảnh buồn và cũng thật là nhân loại. Theo những câu trên này, một họa sĩ Tàu, một hoạ sĩ Nhật, một hoạ sĩ Ấn Độ hay một họa sĩ Việt Nam, đều có thể vẽ nên một cảnh ở trước ḿnh. V́ người lữ thứ, con ngựa bên non, chuyến đ̣ ngang, sắc trời, mặt nước, chim bay, rừng thu, đều không có những màu sắc thuộc hẳn xứ nào. Cả đến cái cảm giác ngây ngất trước cảnh đẹp cũng là cái cảm giác của loài người từ thiên vạn cổ mà thi nhân đă bao lần ca ngợi. Huy Cận nghệ sĩ ở chỗ đó và cũng thiếu cái đặc sắc của nhà thơ ở chỗ đó: ông đă không đem cái tâm hồn của riêng ông để ḥa cùng vũ trụ.(1)

            Nhưng tất cả những cái đẹp, cái sang, cái lịch sự đó đă hết khi Huy Cận làm lănh đạo văn hoá với những tác phẩm tuyên truyền mà điển  h́nh là như bài thơ sau đây:

                                               

                                                Nhớ Tố Như

 

                                    Năm sáu nhăm thế kỷ Hai mươi,

                                    Hỡi Tố Như  anh có ngậm cười . . .

                                    Lúc khắp non song trừ giặc Mỹ

                                    Là khi dân tộc nhớ ḷng ai.

 

                                    Ḷng ai căm giận ai đau xót,

                                    Mắt nhắm nhưng ḷng chẳng dễ chôn

                                    Lệ, máu trăm năm c̣n nhỏ giọt

                                    Trăm trang thơ đẹp vẫn bồn chồn.

 

                                    Ḷng thơ thức trắng giữa đêm dài

                                    Yêu nước non, yêu vạn cảnh đời

                                    Đời khổ, mà chưa phương cứu khổ

                                    Càng đau biết mấy Tố Như ơi !

 

                                    Vạn thân vùi dập đời tan nát

                                    Rút ruột xe vào một kiếp Anh

                                    Chẳng muốn làm tiên không muốn Phật

                                    Đang khi cuộc sống bị hành h́nh.

 

                                    Làm người lo số phận con người

                                    Ràng rịt yêu thương biết mấy mươi !

                                    Cái thuở tối tăm trời đất ấy

                                    Ḷng Anh làm một ánh trăng soi.

 

                                    Hôm nay trời đă sáng quê nhà

                                    Đẩy nốt vào đêm lũ quỷ ma

                                    Rạo rực thơ Anh thêm tuổi mới

                                    Đă thôi đau đớn phận đàn bà. . .

 

                                    Số phận người xưa Anh ước mơ

                                    Rơ ràng trước mắt chẳng c̣n ngờ

                                    Ba trăm năm. . . tính chưa đày nửa

                                    Cả cuộc đời nay hiểu Tố Như.

 

                                    Từ buổi thanh minh Kim gặp Kiều

                                    Trải qua đau đớn đủ trăm chiều

                                    Hôm nay tái hợp ḷng vui thật

                                    Đời lại về thơ, trọn tấm yêu.

 

                                                                                    11 - 1965

           

            Không nhằm đưa ra thái độ hống hách, hỗn xược và quan niệm lệch lạc khi nhận định về tư tưởng và t́nh cảm  Nguyễn Du của riêng một nhà thơ Huy Cận, mà chính là nêu lên chủ trương văn hoá mới của Đảng Cộng Sản VN.

            Phương cách đảo lộn trật tự và giai cấp xă hội không chỉ bằng những buổi đấu tố dă man, mà c̣n phải tẩy sạch những yếu tố văn hoá cũ đă ăn sâu vào tâm lư con người khiến tạo nên nhân tính đạo đức nơi nếp suy tư và hành vi đạo đức.Như ta đă biết, sự tôn trọng phẩm giá và tuổi tác con người thể hiện nơi cách đối xử và cách xưng hô của người Việt Nam. Sự tử như sự sinh đối với những người đă khuất mặt mà có danh vọng hay công đức th́ cũng vẫn được kính trọng như khi người c̣n sống trật tự trong gia đ́nh, xă hội  vẫn tôn trọng. Không ai lại v́ ḿnh đă có tuổi mà gọi ông thân sinh ḿnh đă khuất núi từ lúc tuổi c̣n nhỏ hơn ḿnh lúc này là anh cả. Không ai gọi cụ tổ là anh.

            Khi Nguyễn Trăi viết bài B́nh Ngô  Đại cáo xuyên qua nội dung cả bài đều nói đến sự đoàn kết dân tộc, tinh thần chiến đău hy sinh dũng cảm của toàn dân và cả sự tài giỏi của các tướng cầm quân; Thế mà ở cuối bài vẫn nói đến công ơn của tổ tiên (tức là những người khuất mặt): Thế mới là mưu kế thật khôn, vả lại suốt xưa nay chưa có. Giang sơn từ đây mở mặt, xă tắc từ đây vững bền. Nhật nguyệt hối mà lại minh ; càn khôn bĩ mà lại thái. Nền vạn thế xây nên chăn chắn, thẹn ngh́n thu rửa sạch lầu lầu. Thế là nhờ Trời đất tổ tong khôn thiêng che chở giúp đỡ cho nước ta vậy. ( Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim dịch)

 

            Khi nói đạo đức của Xă Hội Chủ nghĩa là ngược lại với đạo đức Phong kiến xưa, Hồ Chí Minh đă mở đầu sự hạ bệ tổ tiên, anh hùng dân tộc, điển h́nh là Trần Hưng Đạo mà người dân thường không dám gọi tên húy, chỉ gọi là Đức Thánh Trần. Người ta ngỡ ngàng khi thấy Đức Thánh Trần bị Hồ Chí Minh coi là ngang hàng, anh em, nhưng về công nghiệp và tôn chỉ c̣n kém Hồ:

                                    Bác đưa một nước qua nô lệ

                                    Tôi dẫn năm châu đến đại đồng .

            Gọi bác xưng tôi là coi như ngang hàng. Người Việt cũng thường có lối xưng hô để tránh xuồng xă anh, tôi. Cũng có trường hợp gọi thay cho con để tránh láo xược. Khi nghe người ta xưng cháu th́ đăy là người ta tự hạ để cho câu chuyện trở nên thân t́nh hơn. Nguyễn Khuyến khi khóc bạn, hay hỏi thăm các ông bạn nhà nho hoặc ngang tuổi nhau, hay xê xích chút ít thường dung chữ bác xưng tôi hoặc em :

                                    Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu

                                    Lụt lội năm nay bác ở đâu ?

                                    .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .

                                    Em cũng chẳng no mà chẳng đói

                                    Thung thăng chiếc lá ,rượu lung bầu.

            Hoặc đối với người bạn thân vừa nằm xuống:

                                    Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở

                                    Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương.

            Cũng thấy ở nơi thơ người khác , giọng thơ hơi có chút phẫn chí, cũng dùng bác xưng tôi để nói đến bạn cùng trang lứa :

                                    B́nh Khang bác đă mười năm chủ

                                    Lục lộ tôi lên một chức thầy.

            Cho nên dùng bác, tôi với người xưa là một thái độ trịch thượng, hỗn xược không thể chấp nhận được.

 

            Khi gọi Tố Như (Nguyễn Du) là Anh (chữ Anh viết hoa) có lẽ hàm ư kính trọng giống như chữ Người (viết hoa) để chỉ riêng dùng cho Hồ Chí Minh. Một số các nhà văn nghệ cung văn(*) khi ca tụng Hồ Chí Minh đă dùng đến chữ Người hay chữ Bác đều viết hoa, mặc dù gặp những chỉ trích (chỉ một lần công khai do Phan Khôi ) c̣n sau đó th́ ngấm ngầm, nên ta thấy đối với những nhà văn nghệ cung văn này th́ mọi h́nh thức cũng như nội dung văn thơ Hồ Chí Minh phải được tôn trọng triệt để, không ai dám đi lệch lạc, hay có ư ǵ vượt hơn cái mà họ gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh dù chính Hồ Chí Minh đă nói ông chỉ lập lại tất cả những ǵ Mao Trạch Đông đă dạy.

            Xét về nội dung của bài thơ nhớ Tố Như th́ toàn bài , nhân cao trào chống Mỹ cứu nước tác giả đề cập đến tư tưởng và t́nh cảm của Tố Như so sánh với hiện trạng của xă hội mới lúc ấy (1965).

                                    Lúc khắp non sông trừ giặc Mỹ

                                    Là khi dân tộc nhớ ḷng ai. . .

            Tố Như thương đời khổ, muốn cứu đời , nhưng theo các nhà văn hoá Mác-xít th́ v́ chưa có ánh sáng của Cách Mạnh rọi đến nên những t́nh cảm ấy chỉ là lăng mạn, tiêu cực; Cao hơn một chút chỉ là hiện thực phê phán chứ chưa đưa được phương pháp giải quyết bằng đấu tranh bạo lực.

                                    Đời khổ mà chưa phương cứu khổ

                                    Càng đau biết mấy Tố Như ơi !

            Tư tưởng căn bản của Tố Như theo ư Huy Cận là không gần Lăo Trang và Phật. Thực ra tư tưởng căn bản của xă hội ta xưa vẫn là Tam giáo Đồng nguyên. Nhà nho nào cũng mang dấu vết của tư tưởng truyền thống này, chỉ khi hành động th́ yếu tố Nho trội hơn. Nhưng Huy Cận một là không biết, hai là muốn gạt bỏ để cho Tố Như có tinh thần nhân bản , đúng kiểu của Mác-Lênin. Trước Marx chưa hề có sự thương yêu cuộc sống con người (?). Huy Cận thật ra chỉ lập lại một lời xưng tụng của Tố Hữu khi ca tụng Cách Mạng Nga : Từ thuở chưa có anh, nhân loại chửa thành người, nên nói về Nguyễn Du mà cũng viết:

                                    Cái thuở tối tăm trời đất ấy

                                    Ḷng Anh làm một ánh trăng soi.

Tuy khen Nguyễn Du, nhưng vẫn chưa dám cho Nguyễn Du hơn Đảng:

                                    Từ thuở trong tôi bừng nắng hạ

                                    Mặt trời chân lư chiếu qua tim.

                                                                        ( Tố Hữu)

            Nhưng thật sự có phải Huy Cận khen Nguyễn Du đâu, đó chỉ là cái cớ để nói đến vinh quang của Đảng mà theo ư thơ của Huy Cận là đă xóa bỏ bất công xă hội, hơn thế nữa c̣n thắng cả định mệnh mà như Nguyễn Du đă nói:

 

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

 

Hôm nay trời đă sáng quê nhà

Đẩy nốt vào đêm lũ quỷ ma

Rạo rực thơ Anh thêm tuổi mới

Đă thôi đau đớn phận đàn bà.

 

            II. Thực chất của ư tưởng trong bài Nhớ Tố Như:

 

            Nói đến thực chất của ư tưởng trong một tác phẩm, nhất là thuộc hệ văn hoá Mác-xít, chúng ta phải để ư đến ư hướng của sáng tác. Những sáng tác của Miền Bắc trước 75 đều nhằm mục đích tuyên truyền, là một thứ văn hoá vận .Từ bao lâu Nguyễn Du không được nhắc đến. Bỗng nhiên có một chiến dịch đề cao Nguyễn Du song song với việc miền Bắc phát động phong trào đău tranh, lấy dân tộc làm chiêu bài để rồi sau đó thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam.

            Trong chế độ Cộng Sản không có văn nghệ tự do, nên không thể có các văn nghệ sĩ tự do muốn làm ǵ th́ làm để phục vụ cho nghệ thuật. Các văn nghệ sĩ ở chế độ Cộng Sản là các cán bộ văn hoá nên mọi tư duy, cảm hứng và sáng tác hoặc tŕnh diễn đều phải theo lập trường  của Đảng đề ra. Ai đi ra ngoài guồng máy ấy, nếu không bị giết chóc tù đày th́ cũng bị vây hăm kinh tế, mà chỉ c̣n một lối duy nhất là sáng tác chui.

            Theo tư duy của văn hoá Cộng Sản th́ hệ văn hoá Phong Kiến hay tự do phải bị tiêu diệt. Sở dĩ c̣n tồn tại là v́ họ c̣n phải lợi dụng lịch sử và văn hoá truyền thống cho những mục tiêu chính trị mới. Khi phải nịnh Tàu th́ sử cũng phải viết cho nhẹ đi; những nhà văn không thuộc hệ Cộng Sản bị cấm đọc; hoặc hạ uy tín bằng cách phê b́nh mạt xát, gán ghép những ư tưởng phản động cho tác giả. Trong thời kỳ từ 54 đến 1975 người dân miền Bắc có được biết ǵ về văn nghệ miền Nam đâu. Đến sau 1975 sự tràn lan của văn nghệ miền Nam  (do con đường chui) có ảnh hưởng đến nhân dân miền Bắc, th́ có ngay một văn nô viết quyển những tên biệt kích văn hoá để xuyên tạc văn nghệ miền Nam. Những luận điệu bịa đặt, vu cáo không có một chút tinh thần phê b́nh khách quan nào, mà chỉ nhằm bịa đặt chứng cớ để kết tội.

 

            Trong thời chiến tranh, lúc Mỹ đánh mạnh bằng không quân ở Bắc và quân Bắc Việt đang ồ ạt theo đường Trường Sơn vào miền Nam, th́ đúng đường lối chính sách, các cán bộ văn hoá phải đưa vào, kể cả bịa đặt tinh thần gọi là Cách mạng Cộng sản. Ta không lấy làm lạ khi đọc thấy luận điệu cho tư tưởng Nguyễn Du mang nhiều tính chất hiện đại. Cũng như tôi đă có lần nêu lên tác giả Vũ Khiêu đă cho Cao Bá Quát ước mơ chủ nghĩa Cộng Sản ngay từ khi Marx chưa ra đời bằng việc giải thích câu thơ mặt trời đỏ đi đâu và tiếc cho Cao Bá Quát không được sống vào thời đại này để thấy được Thiên đường Cộng Sản.

            Huy Cận khi nhớ Tố Như cũng nhớ theo lập trường văn hoá ấy, nên đă giải thích và nêu lên những tư tưởng của Nguyễn Du theo chủ quan của Đảng. Phân tích tỉ mỉ từng câu mới thấy tài viết cáo trạng của nhà thơ này.

                                    Hỡi Tố Như Anh có ngậm cười ?

                                    Lúc khắp non sông trừ giặc Mỹ

                                    Là khi dân tộc nhớ ḷng ai.

            Thông thường khi nói ngậm cười nơi Chín suối là linh hồn người chết có ước mơ hay công nghiệp đă viên thành để thoả măn khi chết, cho nên ở thế giới bên kia không c̣n chút nuối tiếc ǵ, ân hận ǵ, mới ngậm cười.

            Sự thực về tiểu sử của Nguyễn Du th́ chính Tố Như xem ra cũng c̣n nhiều điều nuối tiếc khi nghĩ đến cái chết. Hơi rằng :

                                    Bất tri tam bách dư niên hậu,

                                    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Không biết ba trăm năm sau, có ai khóc cho Tố Như, cũng như bây giờ ta đang khóc thương cho Tiểu Thanh) C̣n nỗi ân hận như thế th́ ngậm cười làm sao được.

            Thế mà trong bài thơ trên đây , tác giả Huy Cận lại hỏi Anh có ngậm cười, tức là đă thỏa măn ước vọng do những người sau, điển h́nh là thế hệ Huy Cận thực hiện. Đó là tâm hồn Nguyễn Du yêu nước non, yêu vạn cảnh đời

                                                Đời khổ mà chưa phương cứu khổ

V́ Nguyễn Du c̣n sống ở một thời đại chưa có Đảng lănh đạo, thời Phong Kiến đồng nghĩa với u tối:

                                    Cái thuở tối tăm trời đất ấy.

Kịp đến bây giờ có Đảng làm được công việc:

                                    Hôm nay trời đă sáng quê nhà,

                                    Đă thôi đau đớn phận đàn bà .

 

            Tất cả ư tưởng chỉ có thế, được dàn ra trong suốt 32 câu thơ không theo một trật tự luận lư ǵ cả. Người ta có thể dựa vào yếu tố hứng khởi của thơ để bỏ qua vấn đề bố cục. Nhưng thật ra Huy Cận vẫn rất yếu về viết lư luận hay phê b́nh, nhất là văn xuôi. Hồi trước 1945 khi văn học nghệ thuật tương đối c̣n tự do dù bị chính quyền Bảo hộ pháp kiểm duyệt ( thực ra họ chỉ kiểm duyệt những phần đả kích có hại cho chính quyền lúc bấy giờ , chứ không bắt buộc phải ca tụng như sau này Đảng Cộng Sản đă bắt các văn nghệ sĩ làm) Huy Cận lúc ấy c̣n rất trẻ và mới xuất bản tập Lửa Thiêng được nhiều chú ư và khen ngợi, nhất là Hoài Thanh và Hoài Chân. Được đà ông viết về tư tưởng bằng văn xuôi với quyển Kinh cầu tự nhưng rất kém nên đă bị Vũ Ngọc Phan , một nhà phê b́nh văn học thời ấy, nêu lên những yếu kém về cả nội dung lẫn h́nh thức như sau: Đọc quyển Kinh cầu tự người ta lại nhận thấy rằng làm được thơ chưa phải là đă biết viết văn và nhất là đă biết suy xét. Thơ ở ngoài các phương pháp hành văn và ở ngoài luận lư, c̣n muốn viết cho được văn - nhất là thứ văn nghị luận, thứ văn tư tưởng - kẻ làm thơ cũng cần phải có học thức hơn nữa, phải dày công nghiền ngẫm và dày công tập luyện mới được.

            Huy Cận đă quên điều quan hệ ấy và ông cũng không nhớ rằng hầu hết các văn sĩ có danh trong thế giới lúc đầu đều làm thơ cả. Sở dĩ về sau họ bỏ thơ là v́ về thơ cần phải có khiếu, c̣n về văn, tuy cũng cần phải có tài, nhưng trông vào sự học, sự kinh nghiệm và tập luyện nhiều hơn.

            Huy Cận chỉ mới là một nhà thơ có những vần thơ đẹp.(2)

            Đấy là học thức và tư tưởng của Huy Cận ở những năm 1942. Nhưng đến năm 1945 th́ Huy Cận đă làm cách mạng lớn và được phân công cùng với Trần Huy Liệu nhận ấn kiếm trong lễ thoái vị của Bảo Đại. Trong mấy năm ấy chắc về văn hoá Mác-Lênin nhà thơ cũng không học hỏi ǵ được bao nhiêu. Rồi trong suốt thời kỳ kháng Pháp, và làm Thứ Trưởng Văn hoá  lại càng chẳng có th́ giờ mà học hỏi. C̣n việc rèn luyện đạo đức cách mạng th́ chắc là tiến bộ nhanh chóng. Ta không lấy làm ngạc nhiên khi sáng tác bài thơ Nhớ Tố Như năm 1968 Huy Cận không c̣n vang bóng một chút nào của những câu thơ óng mượt trong Lửa thiêng nữa, mà chỉ c̣n là những câu văn với lời xưng hô hỗn xược và chủ quan diễn tả lập trường đấu tranh giai cấp và tuyên truyền chống Mỹ cứu nước.

 

            Nói một cách khách quan th́ Huy Cận không đọc, hay có đọc cũng không nắm vững tư tưởng cùng t́nh cảm của Nguyễn Du. Muốn hiểu tâm lư Nguyễn Du cần phải nghiên cứu vào những bài thơ chữ Hán trong Bắc Hành thi tập hay Nam trung tạp ngâm. Quyển Truyện Kiều chỉ là phóng tác từ một tác phẩm văn xuôi của Trung Hoa ra văn vần ; cho nên nói đến tư tưởng chủ yếu của quyển truyện ấy, lại rơi vào tư tưởng của nguyên tác.Từ lâu, b́nh dân Trung Hoa và Việt Nam vốn theo tư tưởng tam giáo đồng nguyên tức là có sự pha trộn những yếu tố của Nho, Lăo, Phật. Trong Truyện Kiều tuy có tả những nỗi thống khổ của Thúy Kiều trải qua bàn tay bóc lột của bọn buôn người, hay những ngược đăi của các nhà quyền quư đối với gia nhân, nàng hầu, quan lại tham nhũng, nhưng thật sự chưa hề nói tới những cơ cực, những chống đối có tính giai cấp. Nguyễn Du không hề diễn tả cái cảnh yêu nước non yêu vạn cảnh đời . Ư niệm quốc gia, dân tộc chưa có ở Nguyễn Du. Đối với cụ, vốn là gịng giơi trung thần đời Lê ở Bắc Hà, th́ nước là của vua Lê, làm sao phục được nhà Lê th́ thôi. Bây giờ Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, cụ được triệu ra làm quan từ cấp nhỏ lên đến cấp lớn, th́ lại có tinh thần ăn cây nào rào cây ấy, thảng hoặc có tiếc thương nhà Lê th́ cũng chỉ là chút nghĩa cũ càng, giống như Thúy Kiều c̣n nhớ tới mối t́nh đầu với Kim Trọng mà thôi.

 

             Nguyễn Du, hay Nguyễn Huệ ai cũng có giấc mộng đấu tranh, người phục Lê, người tranh bá đồ vương. Giữa Nguyễn Huệ và Gia Long trong thời kỳ tranh đău , đều phải lấy dân làm chỗ dựa để phát triển thế lực của ḿnh. Họ chẳng có tư tưởng v́ hạnh phúc nhân dân ǵ cả. Nếu có nói cứu dân th́ chỉ là mua chuộc, lôi kéo quần chúng. Khi họ có chính quyền trong tay, lại lên làm vua và chính sách cũng không khác ǵ bao nhiêu so với các triều đại trước.

            Tính chất nhân bản trong thơ văn của Nguyễn Du cũng chỉ như Cao Bá Quát hay nơi nhiều nhà nho khác là thương người cùng khổ và đối xử có t́nh có nghĩa với mọi người ; lấy con người làm cứu cánh và tin vào sự phấn đău của con người trong chiều hướng tu nhân tích đức có thể hoán cải định mệnh :

Gẫm hay muôn sự tại Trời,

Trời kia đă bắt làm người có thân.

Bắt phong trần, phải phong trần;

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Tu là cỗi phúc, t́nh là dây oan.

            Ước mơ là ước mơ, thực tế diễn ra nhiều khi không giống với sự mong ước của người ta. Từ thuở xưa cho đến ngày nay (đă sang thế kỷ 21) số mệnh của con người vẫn là điều con người khát khao muốn tự giải quyết mà không được. Làm ǵ có cái cảnh tươi đẹp:đă thôi đau đớn phận đàn bà như Huy Cận nói. Lại càng không thể có cái cảnh thôi đau đớn phận đàn bà trong xă hội Cộng Sản vào những năm 60 của thế kỷ 20; Biết bao bà vợ khóc chồng, mẹ khóc con phải vào Nam để sinh Bắc tử Nam. Ngay lúc này trong Thiên đường Cộng Sản Việt Nam có bao nhiêu các tân Thúy Kiều phải bán ḿnh? Cho nên nói về ḷng mong mỏi, hay ước mơ của Nguyễn Du thật là khó. Chúng ta chỉ có cách dựa vào phần tiểu sử cùng những bài thơ chữ Hán, truyện Kiều không phải là trọng tâm tác phẩm của Nguyễn Du.

            Có lẽ ngay từ buổi đầu, những người nghiên cứu về Nguyễn Du, hoặc là chưa có toàn bộ tác phẩm, hoặc chỉ nhắm vào việc đưa Truyện Kiều lên đỉnh cao của văn học, biểu tượng cho sáng tác văn Nôm của ta, nên đă t́m cách gán ghép tâm sự Nguyễn Du vào những nhân vật trong truyện. Nhất là lúc ấy lại đang có phong trào học hỏi Tây Phương, khiến các nhà Tân học tha hồ áp dụng những phương pháp nghiên cứu phê b́nh văn học vào việc t́m hiểu Truyện Kiều để khám phá biết bao nhiêu thứ tuyệt vời đều là đỉnh cao cả khiến cho thực sự chức vị văn hào c̣n là quá khiêm tốn đối với một tài năng đă sản sinh dược một tác phẩm ở đỉnh cao như thế. Nào là Nguyễn Du khâm phục Quang Trung Nguyễn Huệ nên đă thể hiện h́nh ảnh của ông trong nhân vật Từ Hải đội trời ,đạp đất ở đời, trong khi thực tế th́ Nguyễn Du chống quân Tây Sơn, coi Nguyễn Huệ cũng là một người cướp ngôi nhà Lê, ông bị bắt, phải nhờ họ hàng có người làm quan với Tây Sơn xin cho mới được tha.

 

            Trong bài thơ Nhớ Tố Như của Huy Cận, qua nội dung hiển nhiên ta thấy tác giả đă cho Nguyễn Du ước mơ và có tâm lư vượt quá thời đại của cụ. Theo tiểu sử, về cuối đời Nguyễn Du thật sự hanh thông trên đường hoạn lộ. Xét về học vị, Nguyễn Du không có danh vọng như một số nhà nho của Đàng Ngoài lúc bấy giờ. Ngay đối với nhiều nhà khoa bảng, họ cũng không tha thiết đến việc ra làm quan với nhà Nguyễn Gia Long. Nguyễn Du được tiến cử phần nhiều do danh vọng của cha, anh; và có thể do quá khứ chống Tây Sơn. Thực ra th́ các chức quan của Nguyễn Du không thiết yếu và quan trọng. Sứ thần sang Trung Quốc ngày xưa cũng không phức tạp như ngày nay c̣n phải đảm nhiệm công việc ngoại giao. Trong buổi đầu có thể quan lại của tân triều (Gia Long) chưa có nhiều người có học vấn cao, mà người đi sứ đ̣i hỏi phải có tŕnh độ học vấn khá đủ để thù tạc biện thuyết với quan lại Trung Quốc. Sĩ phu Bắc Hà vốn đă có truyền thống học chữ Hán từ lâu (ít ra cũng 5,6 trăm năm) và trong đời Lê biết bao nhiêu người đi sứ đều là của triều Lê cử đi; c̣n trong Nam, tuy chúa Nguyễn có giữ yên xă hội và phát triển vào phương Nam, nhưng thật sự văn hoá không thể tổ chức được như ngoài Bắc. Vả lại triều đ́nh Trung Quốc cũng chỉ công nhận và đặt bang giao với vua Lê mà thôi, c̣n Chúa Trịnh có khuynh loát vua Lê ở trong nước, th́ đó là vấn đề nội bộ. V́ thế bảo vua Gia Long trọng dụng Nguyễn Du nên mới cho đi sứ th́ hơi quá đáng.

            Nguyễn Du thực sự theo ư kiến của Đào Duy Anh th́ : . . . Trong những bài thi văn sót lại, ta đều nhận thấy cái tâm lư bi thương u uất của một kẻ cô thần tuyệt vọng, một kẻ hào kiệt cùng đồ. Hiểu đơn giản thế thôi lại gần với sự thật. Không nên gán cho người ở ư thức hệ khác, quan niệm sống khác thời đại, khác lập trường của một xă hội và ư thức mới ngày nay, mà cũng chưa chắc cái ư thức ấy đă hay ho ǵ như Xuân Diệu đă viết: Nhưng bản thân của Nguyễn Du th́ đă đem cái bệnh của thời đại làm cái bệnh của chính ḿnh, mâu thuẫn xă hội trong thời đại ḿnh không giải quyết được, không biết cách thế nào mà giải quyết. Tích lại thành một nỗi u uất trong tâm hồn riêng, th́ Nguyễn Du là nàng Kiều trong cái lầu Ngưng Bích của chế độ Phong kiến.

            Những nhận định có tính chất áp đặt này, không phải để vinh danh tác giả, mà chỉ muốn dùng tác giả cho lập trường của ḿnh. Nói trắng ra th́ là kéo cánh để đập đổ đối phương.

 

            Nói Nguyễn Du có khuynh hướng tranh đấu giai cấp, hay mong mỏi san bằng xă hội căn cứ vào mấy bài thơ nói đến cảnh cùng khổ của người dân, mà bất cứ thời nào cũng có (Trong chế độ Cộng Sản hiện nay lại nhiều hơn) th́ cũng có thể nói ngay Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị của Trung Hoa c̣n Cộng Sản hơn Lênin .

            Như thế về tư tưởng phô diễn trong bài thơ hoàn toàn là lập trường của Huy Cận muốn áp đặt cho Nguyễn Du để lôi kéo cụ vào cuộc đău tranh chống Mỹ cứu nước. Nguyễn Du sẽ ngậm cười nơi Chín Suối ( dù ngay khi chết c̣n ân hận) khi thấy nhân dân ta tiến thẳng lên Thiên Đường Cộng Sản. Chỉ lúc ấy nhân loại nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng mới thoát khỏi cơi tối tăm của Phong Kiến và đàn bà th́ thôi đau đớn phận đàn bà. Hiểu như vậy mới thấy rơ ư nghĩa của câu: Chẳng muốn làm Tiên , không muốn Phật ; Đang khi cuộc sống bị hành h́nh.

            Năm 1968 khi Huy Cận xưng tụng văn hoá Mác-Lê bằng câu : Hôm nay trời đă sáng quê nhà th́ cũng là lúc ở bên Liên Xô những mâu thuẫn xă hội minh chứng hùng hồn sự bất lực của Chủ nghĩa Cộng Sản trong việc giải quyết cuộc sống vật chất và tinh thần của con người, khiến dần dần chuyển sang thời kỳ Liên Xô xụp đổ; c̣n Trung Quôc cũng theo gương đàn anh để mà bớt tin tưởng vào Mác-xít.

            Tư tưởng Mác-xít liên hệ chặt chẽ với hành động. Nền văn hoá cũ của ta xây dựng trên Tam giáo đồng nguyên, theo Cộng Sản v́ là trở ngại cho tiến hóa nên cần phải đập bỏ tận gốc rễ ở cả lư thuyết lẫn hành động. Các thứ gọi là tam cương, ngũ thường, trung hiếu, tiết nghĩa , gây trở ngại cho cách mạng nên cần tróc tận rễ; đấy là hiện tượng cụ thể để ta nghe Huy Cận gọi một người xưa ít nhất hơn ông ta 150 tuổi (3) là Anh, cũng như Hồ Chí Minh gọi người hơn ông ta trên 500 tuổi bằng bác xưng tôi. Điều ǵ đă khiến những nhà gọi là văn hoá Mác-Lê này có thái độ trịch thượng và hỗn xược như thế?

III . Mục tiêu phá hoại văn hoá dân tộc qua Cải cách ruộng đất:

 

            Tuy chủ trương cải cách ruộng đất để phản phong kiến và bồi dưỡng lực lượng cách mạng là nông dân, nhưng thực ra không chỉ ở bề ngoài đẹp dẽ là đánh địa chủ để lấy ruộng cho người nghèo như Đảng đă lừa bịp nông dân. Trong khi thi hành chiến dịch đấu tố, Đảng Cộng Sản đă phá hủy trước hết truyền thống hiếu ḥa , thương yêu đùm bọc lấy nhau ở nông thôn Việt Nam. Câu tục ngữ lá lành đùm lá rách , hay bầu ơi, thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn, không hề có đề cao hay đả động ǵ đến việc bóc lột giai cấp, đấu tranh để dành dựt lẫn nhau, mà chỉ cổ vơ tinh thần đùm bọc lẫn nhau: có rau ăn rau, có cháo ăn cháo.  Muốn cho cuộc CCRĐ thành công, các cán bộ đă tổ chức ra những vụ tố khổ kể cả cưỡng ép người dân tố cáo lẫn nhau, khiến cho trong dân chúng không c̣n ai dám tin tưởng vào ai; không c̣n tinh thần thương yêu đùm bọc nhau như ngày trước, kể cả trong gia đ́nh v́ cán bộ tổ chức và cưỡng ép con tố cha, vợ tố chồng , có như thế họ mới gây ra được không khí nghi kỵ lẫn nhau, và ta không lạ khi thấy rằng ở miền Bắc công an nhân dân nắm rất vững t́nh h́nh an ninh từ những địa phương rất hẻo lánh đến thành thị đông đúc .

 

            Khi tố nhau th́ thêm việc hạ nhục. Người bị tố có tội th́ bị tước bỏ quyền làm người, bị hạ nhục. Cách xưng hô phải thay đổi như: gọi những nông dân có khi không phân biệt tuổi tác là ông, bà và xưng con. Chính ông ngoại tôi trước làm Tiên Chỉ trong làng do v́ học vị và tuổi tác . Trong kháng chiến chống Pháp đă đóng góp tích cực, chỉ v́ cao tuổi không trực tiếp chiến đấu được . Năm bị đấu tố đă gần 80, thế mà một ông nông dân bé mới  14 tuổi chỉ mặt tố và mắng chửi: Thằng Hoán ( tên cúng cơm cuả ông tôi) này, mày đă bóc lột công cầy cấy của tao, lại c̣n hăm hiếp vợ tao. Nhân dân trong làng hầu hết chịu ơn ông tôi v́ người chữa bệnh miễn phí , nhà lại nghèo ,chỉ có một mẫu ruộng do mợ tôi cầy cấy lấy để sống, nên phản đối là tố điêu. Tuy nhiên người bị tố vẫn có tội, chỉ tạm hoăn thi hành án tử. Ông tôi có lẽ uất ức và xấu hổ, hai tuần sau th́ chết .(Tôi đồ chừng ông tự tử, v́ người làm thuốc giỏi như ông tôi, muốn tự tử quá dễ).

 

            Sự hỗn xược đối với trật tự và đạo đức cũ không phải chỉ có thế. Trong khi tổ chức đấu tố, người ta đă tập cho dân quen với sự dối trá. Lúc đầu là một cách để được yên thân; về sau trở thành quen thuộc khiến đôi khi nói dối cả chính ḿnh. Người dân nghe tất cả những điều phỉnh gạt của cán bộ và đối lại cũng bằng những lời và hành động phỉnh gạt. Cả một xă hội mất đạo đức, chỉ c̣n toàn là lừa dối.

 

            Con người vốn có khuynh hướng về sự ác độc. Đạo đức, tôn giáo đề cao sự tử tế, lịch sự, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau, thế mà đời vẫn c̣n cảnh lừa đảo, bóc lột, hành hạ, tranh chấp khinh bỉ nhau; nay lại diệt bỏ đạo đức, đề cao cái ác th́ trách ǵ con người chẳng đối xử với nhau bằng mọi sự tranh chấp, lừa gạt nhau. Bao giờ ở Việt Nam bài trừ hay giảm được tham nhũng và lừa đảo, khi thành phần của những kẻ chủ trương phá hoại đạo đức và tâm linh ấy vẫn đang nắm quyền cai trị, và nhất là chủ trương một thứ văn hoá bạo lực bất nhân ấy.

 

            Hồ Chí Minh đă từng nói muốn có xă hội chủ nghĩa phải có con người xă hội chủ nghĩa. Con người xă hội chủ nghĩa ấy dược thành h́nh và trui luyện trong đău tranh bạo lực căm thù giai cấp. Trong thời CCRĐ các thiếu nhi phải đi tham dự các cuộc đấu tố, các phiên toà án nhân dân và cũng được khuyến khích, thúc dục như người lớn xỉa xói, hành hạ tội nhân mà chỉ một thời gian ngắn trước đây c̣n thân thiết với chúng, có khi c̣n là thân nhân của chúng như ông bà, cha mẹ. Chúng được nhồi nhét cho những ư tưởng, t́nh cảm ngược ngạo để gọi, để chửi mắng những người già hơn tuổi ông chúng bị quy cách là địa chủ, hay cường hào: thằng địa chủ, con địa chủ và nạn nhân phải gọi các thiếu nhi ấy bằng ông, bà  xưng là con.

            Bản chất chỉ là hiện tượng được lập đi lập lại nhiều lần và nó tạo nên một lớp người trẻ lực lượng chủ yếu lao động xây dựng xă hội chủ nghĩa có bản chất hung bạo, lừa đảo và nhất là khinh bỉ truyền thống nhân bản và đạo đức của văn hoá dân tộc.

            Truyền thống dân tộc nhân bản và đạo đức ấy bàng bạc trong những tác phẩm văn chương nghệ thuật, th́ trong xă hội Xă hội Chủ nghĩa phải lật đổ, chỉ trích kịch liệt, để thay vào đấy là những ư tưởng mới có lợi cho Đảng. Những ư tưởng này nếu không sáng tác được, th́ lấy ở các nước Cộng Sản đàn anh như Liên Xô và Trung Quốc. Cho nên ta không lạ với bản chất hỗn hào, kiêu ngạo từ trước khi tham gia Cách mạng, lại kinh qua thời gian CCRĐ với chức vụ Thứ trưởng văn hóa, th́ vai tṛ phá hoại văn hóa cổ truyền phải đặt nặng trên vai ông Thứ trưởng. Như thế th́ gọi Nguyễn Du là anh cũng c̣n là lịch sự. Lịch sự để che dấu những hành động bỉ ổi, tàn nhẫn mà Đảng đă đối xử với ḍng dơi của Nguyễn Du, chỉ mới cách thời gian Huy Cận viết bài ca ngợi Nguyễn Du chống Mỹ và làm cách mạng xă hội có ít năm .

 

            Cụ Nguyễn Mại (1876 - 1954) là hậu duệ đời thứ 14 của ḍng họ Nguyễn Tiên Điền, gọi thi hào Nguyễn Du (1765-1820) đời thứ 11 là bác. Đầu năm 1954 lúc 78 tuổi, cụ bị đội và đoàn CCRĐ quy là địa chủ (v́ có vài mẫu cho phát canh để sống) lại bị kích lên thành phần phong kiến cường hào (v́ cụ từng đỗ Cử nhân khoa Canh Tư (1900) lúc 24 tuổi, lại đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Th́n (1904)  lúc 28 tuổi, mà thật ra cụ không hề nhận chức tước phẩm hàm ǵ, chỉ cam phận sống thanh nhàn ẩn dật. Cụ bị đấu 3 đêm liền, bị kết án 15 năm tù khổ sai, bị giam ở trại Đâng, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi nước rất độc, nên ngay mùa thu năm ấy, cụ bị phù thũng chết trong trại tù, vùi xác ở ven rừng. Cụ nghè Mại từ trần trong uất hận là nỗi đau đớn, nhưng nỗi đau c̣n lớn hơn nữa cho dân tộc là do cụ bị quy oan như vậy, mà đội CCRĐ đă phá hủy nhiều đền đài, bia, miếu thờ của các danh nhân họ Nguyễn Tiên Điền và nghiêm trọng hơn nữa đă đốt cháy ngôi nhà năm gian chứa đày thư tịch quư giá của ḍng họ Nguyễn Tiên Điền, trong đó có di cảo của thi hào Nguyễn Du. Một sự mất mát lớn lao về văn hoá không có ǵ bù lại được.( Xem sách Bể dâu trong ḍng họ Nguyễn Du nxb Miền Đông Hoa Kỳ, 2002 trg 200,201) .

 

            Hành động man rợ đối với tổ tiên và văn hoá không phải một ngày, một buổi mà thành h́nh. Đồng ư rằng những quần chúng nhân dân ở đội CCRĐ thất học và bạo tợn, nhưng chính họ lại được lớp người thấm nhuần văn hoá Mác-xít chỉ huy, điển h́nh như những đỉnh cao trí tuệ Trường Chinh, Huy Cận, Chế Lan Viên. . . để sau khi phá hết những trật tự và giá trị cũ, th́ đặt lên những người là sản phẩm thuần túy của thứ văn hoá thờ bạo lực, mà v́ mới mẻ quá nên không đào tạo được chính quy ít nhất là về kiến thức, cho nên tác họa của nó đối với xă hội c̣n khủng khiếp hơn.

 

            Trước 1945, không rơ Huy Cận đến với Cộng Sản từ lúc nào, nhưng khi mới thành công ở tập Lửa thiêng, rồi làm quan canh nông th́ tác giả mới này có một thái độ rất trịch thượng, coi tất cả độc giả của ḿnh đều thấp kém cần phải thờ người như một vị thầy: Ông viết trong quyển Kinh cầu tự(4)  : Ta nhớ lại những bà mẹ may áo cho con, trừ hao dài rộng lớn lên th́ vưà. Kẻ đọc ta ơi! ( ta không muốn gọi ngươi là người bạn đọc) đừng phiền ḷng nhé ! Ta đang may áo trừ hao cho ngươi đây. Ít lúc nữa tâm hồn anh mới bận vừa tư tưởng của ta đó. Ồ! Cái áo ta may cho anh chắc là dài và rộng quá, anh đi thúng thính trông đến buồn cười.

            Chắc có vài anh phải ngă v́ lúng túng. Nhưng những con nít ngă th́ khóc, chứ đừng tưởng mẹ chúng may áo dài chỉ cốt bẫy con đau.

            Những bà mẹ may áo cho con, trừ hao dài rộng cố nhiên không phải mong cho con thấp bé măi..

            Ngay từ thời Pháp thuộc, chưa có Đảng lănh đạo, Huy Cận đă gọi độc giả của ḿnh (tất nhiên không phải chỉ có những học sinh nhỏ ở Tiểu học  mà c̣n kể cả những người lớn tuổi biết đọc sách) bằng một từ kẻ đọc mà không dùng chữ độc giả như những nhà văn khác vốn biết rơ độc giả của ḿnh đôi khi tŕnh độ và tư cách hơn hẳn ḿnh.

            Cái tâm lư ngông nghênh hỗn xược ấy, lại được các nhà lănh đạo văn hoá Mác-xít tôi luyện cho, th́ làm ǵ mà ông chẳng coi mọi người là thấp kém hơn ḿnh; Nhất là cụ Nguyễn Du không biết tiếng Tây và thuộc thành phần quan lại Phong kiến.

 

            Một ông thi sĩ khác của phong trào Thơ Mới trước 1945 là Chế Lan Viên, qua Cách Mạng cũng như Huy Cận , làm thơ cảm hứng về Anh Nguyễn Du. Trong bài thơ với cái tựa hơi xách mé mà làm ra vẻ hiện đại (modern) :  Nghĩ thêm về Nguyễn.

 

Anh sinh vào thế kỷ nhiều tà huy mưa bụi

Quờ tay ra không người đồng điệu nằm bên.

Nỗi đau anh trùng với nỗi đau nhân loại

Mượn câu Kiều hoá thành cuộc đời riêng.

 

Các triều đại bể dâu nhưng thi cảo trường tồn

Anh lập công trên ḍng ngôn ngữ ấy.

Bạch Đằng anh là cắm cọc vào thời gian nước chảy

Cho ngàn năm sau vầng trăng tiếng Việt vẫn c̣n.

 

Anh nuôi hồn thơ như cô Tấm nuôi trong giếng sâu u tối

Cái bống con nôm na mách qué chẳng ai nh́n

Nào hay đâu khi ḷng độc giả tri âm vẫy gọi

Th́ câu Kiều như giọt máu đă trồi lên.

 

Phải ba triệu sóng gió của đời mới đúc nên châu ngọc

Khốn nỗi, đă là ngọc ư th́ lại dễ xa đời

Cả một thế kỷ vào thơ anh bằng cửa chật

Tiếng súng đại phá quân Thanh c̣n phải ở bên ngoài.

 

Và anh vay làm chi núi sông phong cảnh quê người

Đất nước thừa những con sông Tiền Đường định mệnh

Và dù anh chia Nguyễn Du, Tố Như, Thanh Hiên máu thịt đời anh    

 ra làm ba mảnh

 Th́ giọt lệ trang Kiều gom lại một mà thôi .

 

Một thế kỷ đễ hiểu Nguyễn ư? Ta có cần một thế kỷ đâu mà

Đau khổ v́ những hoàng hôn ta chóng hiểu

Cái hôn hoàng của Nguyễn

Ta yêu những Hịch, những B́nh Ngô gọi ḷng ra hỏa tuyến

Nhưng không quên ngọn lau trắng bên đường

Kiều thổi lại tự xa xưa.

 

 

            Chúng ta đă nói nhiều về cách xưng hô ở phần trước, nó là tiêu biểu cho tính chất văn hoá Việt Nam . Những từ xưng hô chỉ rơ tôn ti trật tự trong gia đ́nh và xă hội, ngày nay khi phải hiểu sang tiếng nước ngoài thật là khó khăn. Nhưng trong xă hội xưa, người ta chỉ cần nghe lời xưng hô và cách nói chuyện là có thể đánh giá tư cách của con người. Ngoại trừ lối khiêm tốn giả vờ và lễ phép mỉa mai ra, cách xưng hô trong ngôn ngữ thông thường biểu lộ khuôn mẫu và nền nếp của một xă hội văn hiến.

 

            Dù rằng ảnh hưởng của Tây học đến văn hóa Việt Nam rất nhiều, nhưng nó vẫn chưa bẩy đi được quan niệm kính trọng người trên trước. Có một thời trong giới nghệ sĩ, người ta hay gọi nhau chỉ bằng anh em. Một anh nhạc sĩ gần 70 tuổi cũng được một em mới vào nghề ở tuổi 20 gọi là anh và xưng em  thân mật, khiến cho có nhiều người chướng tai cho thế là cá mè một lứa. Những nghệ sĩ cũng có quan niệm riêng của họ cho rằng với nghệ thuật chỉ có người vào trước, kẻ vào sau, như thế t́nh thân như anh chị em, mà căn bản không dựa trên tuổi tác, chỉ là ở nghệ thuật. Nói thế th́ cũng giống như từ đồng chí trong Đảng vậy. Cháu gọi ông nội là đồng chí cũng dễ nghe mà lại che dấu được tương quan gia đ́nh , họ mạc.

 

            Tây phương (như Anh, Pháp) nói đến các tên tuổi đă quá cố chỉ dùng tên không như Victor Hugo, Racine . . .Tuy nhiên với những chức tước  th́ vẫn kêu như Sir William. Bên ta th́ từ khi tiếp xúc nhiều với văn hoá Pháp cũng gọi những người xưa bằng tên, đó là một lối kính trọng. Nhưng cũng có ngoại lệ tỷ như rất chối tai khi ta gọi Bà Đoàn thị Điểm , Ngọc Hân Công chúa là chị Đoàn Thị Điểm . C̣n đối với người đương thời th́ tùy theo tuổi tác mà xưng hô . Phần lớn phía văn học người ta hay dùng hoặc ông, hoặc quân như Trần quân ( nghe già cóc cách , đôi khi hàm ư lịch sự giả dối).

 

            Có ư kiến nói rằng tín ngưỡng Việt Nam thờ người chết như cư sử với người sống (sự tử như sự sinh) , như vậy khi đàm thoại với người xưa cũng coi như người ấy đang hiển hiện trước mặt ḿnh để mà liệu cách xưng hô cho khỏi mất tôn ty trật tự và địa vị xă hội. Chẳng khi nào một người cháu chắt 5,6 đời lại gọi cụ tổ ḿnh trong khi khấn khứa ngày giỗ chỉ bằng cái tên cúng cơm cộc lốc :Mời Nguyễn Du về hưởng giỗ cả.

 

            Sự xuồng xă trong cách xưng hô đă là minh chứng hùng hồn cho thái độ không tôn trọng người xưa, hay văn hoá truyền thống. Thế mà lúc nào miền Bắc XHCN cũng lấy chiêu bài dân tộc qua việc phát huy, cổ vơ văn học cổ, điển h́nh như gây cả một chiến dịch viết về Nguyễn Du và Nguyễn Đ́nh Chiểu, nhưng lại cố lái họ vào quỹ đạo của ḿnh. Chúng ta đă thấy đường lối này qua bài thơ Nhớ Tố Như của Huy Cận; Nay hăy xem Chế Lan Viên nhận định về Nguyễn Du thế nào ngoài việc xưng hô là anh và gọi xách mé là Nguyễn. Với thói quen từ hồi c̣n viết Điêu Tàn, Chế Lan Viên đă có những ư tưởng rất mơ hồ lồng trong một ngôn ngữ gọi là làm điệu hay lập dị  nhưng rất tối nghĩa, ít chính xác với đối tượng ông muốn đề cập đến, ở đây là Nguyễn Du. Như câu:

Anh sinh vào thế kỷ nhiều tà huy mưa bụi

Quờ tay ra không người đồng điệu nằm bên.

 

Nghe th́ rất kêu . Nhưng hỏi thế nào là thế kỷ nhiều tà huy mưa bụi và thế nào là người đồng điệu ? Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đă có câu thơ diễn tả ư tưởng sinh bất phùng thời : Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ. Thời đại của Vũ Hoàng Chương là thời kỳ Pháp thuộc ; c̣n thời của Nguyễn Du là thời có nhiều biến động  tranh chấp phong kiến, hai hoàn cảnh khác hẳn nhau. C̣n người đồng điệu th́ như Chu Mạnh Trinh viết trong bài Thanh Tâm tài nhân thi tập tự : Bộc bản đa t́nh, cảm thông đồng điệu (Đoàn Tư Thuật dịch: Ta cũng ṇi t́nh, thương người đồng điệu ). Người đồng điệu của Chu Mạnh Trinh muốn nói là Thúy Kiều : Cho hay danh sĩ với giai nhân, cùng một kiếp hoa nghiêm nặng nợ. C̣n Chế Lan Viên muốn nói người đồng điệu của Nguyễn Du là ai, và v́ sao mà quờ tay không gặp người? Ngôn ngữ thơ ở hai người Chu Mạnh Trinh và Chế Lan Viên khác nhau. Chế Lan Viên muốn diễn tả Nguyễn Du cô đơn trong đêm dài lịch sử của chế độ Phong Kiến. Nói rằng nỗi đau anh trùng với nỗi đau nhân loại ấy thế mà vẫn bảo không có người đồng điệu. Thực sự trong lịch sử văn học Việt Nam có biết bao nhiêu tác giả có tinh thần nhân bản, nhưng mỗi người có một lối diễn tả khác nhau. Cung Oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều há chẳng nói tới định mệnh và kiếp sống vô thường của con người đó sao?

 

Nguyễn Du bảo :

Bắt phong trần, phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Th́ Nguyễn Gia Thiều viết:

Cái  quay búng sẵn trên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm .

 

            Nhiều ư tưởng phô diễn trong bài cho người ta có cảm tưởng tác giả muốn cho ḿnh khác người, mà ít khi hỏi lại thật sự điều ḿnh phát biểu có đúng, hợp lư không, để từ đấy mới làm cơ sở nhắm vào đối tượng. Thí dụ như theo tác giả th́ ba triệu sóng gió cuộc đời mới đúc nên châu ngọc, không nói là vu khoát v́ sóng gió cuộc đời chỉ tạo nên con người từng trải; lại thêm vào là ư niệm con số . Đă có lần (h́nh như Nguyễn Chí Thanh th́ phải) hô hào đánh Mỹ đến một triệu năm. Nguyễn Tuân đă nói với người bạn cũng là một nhà văn bằng tiếng Pháp : ông này chẳng có ư niệm ǵ vế con số cả (quel notion de chiffre !) . Cũng trường hợp trên, ba triệu có là một con số ít ỏi ǵ đâu!

 

            Chúng tôi không đặt vấn đề nhận định và phê b́nh thơ ca của Huy Cận và Chế Lan Viên ở đây, mà chỉ chú ư đến vấn đề đối xử với lịch sử và văn hóa cũ của ta. Có nhiều nước mặc cảm v́ bề dày lịch sử và văn hoá , c̣n chính ḿnh th́ lại không chịu t́m hiểu truyền thống mà chỉ đưa những thứ văn hoá mà ḿnh chưa biết ǵ nhiều về thay thế để nuôi thêm bản chất dă thú của con người. Cho đến khi những cái bất cập của chủ thuyết văn hoá ấy đă hiển nhiên phơi bầy, th́ cũng vẫn không chịu thay đổi, vẫn cố chấp bắt nhân dân chịu đựng nó để chỉ riêng tầng lớp giai cấp mới của ḿnh được hưởng thụ .

 

            Văn hoá ở một nghĩa hẹp c̣n là sự đấu tranh của con người để vượt khỏi bản năng dă thú vốn sẵn có trong nhân loại. Không phải chỉ thay đổi bề ngoài mà con người khác với con vật. Phép lịch sự mà có người cho là phiền phức chính lại là sợi dây nối kết con người sống hài hoà trong xă hội. Một trong những biểu hiện của người tử tế lịch sự là cách xưng hô và ư niệm biết ơn lẫn nhau.

 

            Biết ơn người nghệ sĩ là dấu hiệu của nền văn hóa cao. Biết ơn phải đi đôi với kính trọng và ái mộ. Đừng như những người phỉnh lùa nghệ sĩ để lợi dụng họ cho những mục tiêu vô văn hoá. Khi nói rằng một cây bút có sức mạnh bằng cả một sư đoàn, mới nghe tưởng là người ta ái mộ và kính trọng nhà văn lắm, nhưng có biết đâu ng̣i bút ấy chỉ mạnh khi nó phá hoại cơ sở tinh thần của đối phương.

 

            Các cán bộ văn hoá Cộng Sản đă được Đảng chỉ đạo chính trị và đăi ngộ theo tinh thần và công tác. Văn nghệ sĩ nào bị gạt ra khỏi guồng máy coi như hết đất làm ăn, phải hoặc đổi nghề, hoặc sống đời nghèo khổ đến măn kiếp. Đảng sau thất bại CCRĐ, năm 1956 may mắn vớ được phong trào phản kháng Nhân văn Giai phẩm nên là dịp tốt để trút tất cả cay đắng sang việc khủng bố thành phần trí thức, văn nghệ sĩ c̣n có lương tâm. Họ muốn tẩy sạch dấu vết văn hoá cũ mà thường các trí thức và văn nghệ sĩ là những người tiêu biểu. Những phản ảnh bất lợi của Đảng qua những sáng tác của văn nghệ sĩ có thể làm lung lay ư thức hệ Mác-xít xây dựng trên căm thù và đấu tranh giai cấp, trên sự nói dối  và lừa đảo , hủy diệt nhân tính, như một t́nh cảm nhân đạo mà ngày trước được tuyên xưng, khuyến khích, th́ nay bị phê phán là phản động:

Nếu ghét được đứa bé

Ḷng thảnh thơi bao nhiêu.

 

            T́nh thương là nhất điểm lương tâm của con người mà cũng bị cấm đoán đến làm cho thui chột, th́ rồi người ta sẽ chỉ c̣n nh́n thấy chung quanh ḿnh là kẻ thù. Người ta nhận  đồng chí, tuân kỷ luật Đảng là v́ an toàn và quyền lợi. Cái di hại của thứ văn hoá ấy bây giờ đang tác quái trong xă hội Việt Nam. Người ta không vun trồng tinh thần nhân bản và liêm xỉ của con người, th́ làm sao kêu gọi người ta có tinh thần trách nhiệm, có liêm xỉ mà dừng tay gây tội ác. Tôn thờ sự nói dối và lừa gạt không chỉ với người đương thời, mà c̣n cả với lịch sử ( hướng lịch sử, văn hoá theo đúng nhận định của Đảng không cần để ư đến sự thật khách quan, chân lư khoa học) (5)

 

            Bao giờ th́ người ta chữa lại được những biểu hiện văn hoá của một nền văn hiến xây dựng trên sự kính trọng phẩm cách con người, ít ra là ở biểu hiện tương quan xă hội qua ngôn ngữ và cách hành xử. Ở xă hội Miền Nam ngày trước, người ta cảm thấy xấu hổ khi gọi đối phương là thằng nọ con kia : thí dụ thi sĩ Vũ Hoàng Chương góp ư với Đoàn Phú Tứ (lúc ấy đang sống trong chế độ Cộng Sản ở miền Bắc) về Kiều vẫn dùng Ông Đ.P.T.. C̣n nhan nhản trong các bài viết để đả kích Miền Nam th́ :thằng Thiệu, thằng Kỳ, bọn bồi bút, bọn biệt kích văn hoá v.v...cùng với những lời nguyền rủa tục tằn mà người ta chỉ thấy ở những người vẫn được coi là thiếu giáo dục.

 

            Ngày trước có lần người ta đă phàn nàn khi đọc được bài thơ trong có hai câu:

                                    Ai về Địa phủ hỏi Gia Long,

                                    Khải Định thằng này phải cháu ông?

 

Bài thơ dù là do một nhà khoa bảng làm cách mạng chống Pháp và Triều đ́nh Huế cũng là thiếu nhă nhặn, biểu lộ một thái độ nóng nảy, thô lỗ.

            Sự phá hoại văn hoá truyền thống Việt Nam của Đảng Cộng Sản c̣n biểu hiện ra ở nhiều mặt khác nữa. Ngày trước v́ kém cỏi, v́ học chưa tới người ta vô t́nh làm hỏng việc, nhưng đây lại là chủ trương, điều khiển bởi những người có bản lĩnh th́ phải nên coi là trọng tội chứ không thể giảm khinh được.

 

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Chú thích:

 

(*) Cung văn, chữ dùng của Nguyên Vũ

(1)   Vũ Ngọc Phan - Nhà Văn Hiện đại  Q3 trg 785

(2)   Nt trg 791

(3)   Nguyễn Du (1756-1820) , Huy Cận sinh năm 1919

(4)   Tựa đề của quyển sách này  là một mớ bát nháo về từ ngữ. Vũ Ngọc Phan đă nhận xét:Đă có một sự sống mà c̣n cầu một sự sống cao hơn th́ cũng như người đă có một đứa con trai nhưng nó không vừa ư ḿnh, nên muốn cầu một đứa con trai nữa thông minh hơn.Nếu suy xét như thế, tôi dám chắc Huy Cận sẽ không dùng hai chữ cầu tự, v́ cầu tự nghĩa là cầu trời cho ḿnh một đứa con trai nối giơi, bởi ḿnh hiếm hoi, chưa có một đứa con trai nào.C̣n về sự sống, như tôi đă nói trên, ḿnh đă có rồi, bây giờ chỉ cầu lấy một sự sống đầy đủ hơn th́ có thể nào dùng hai chữ cầu tự được. Hai chữ cầu tự tác giả dùng đây chỉ để cho lạ tai, chớ về nghĩa, thật vô nghĩa. Hăy nghe tác giả cầu nguyện, ta sẽ thấy cái sự sống mà tác giả cầu là sự sống như thế nào: Hỡi Chúa Đời! (xin nhận kỹ, không phải Chúa Trời) Cho chúng sinh sự sống nhiều hơn nữa, sự sống đầy tràn, phăng mạnh.