SẤM TRẠNG TRÌNH NÓI GÌ VỀ CUỘC VƯỢT BIÊN,

VƯỢT BIỂN CỦA NGƯỜI TỴ NẠN CỘNG SẢN ?

                                                                                             Đông Biên

Ai trong chúng ta cũng ít nhất một lần nghe nói đến Sấm Trạng Trình và các giai thoại ly kỳ của cụ Trạng. Vậy cụ Trạng Trình có nói gì đến biến cố có một không hai của cuộc vượt biên vượt biển tỵ nạn cộng sản trong giai đoạn lịch sử đau thương vừa qua hay không ? Chúng ta sẽ tìm hiểu xem cụ nói gì. Nhưng trước hết tìm hiểu tiểu sử và một vài giai thoại về tài tiên tri của cụ.

Tiểu sử cụ Trạng Trình.

Trạng Trình tên thật là Nguyễn Bỉnh Khiêm, sinh năm Tân Hợi (1491), năm Hồng Đức thứ 21, triều Lê Thánh Tôn, tại làng Trung Âm, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Thân phụ là Văn Định, học rộng tài cao, có đức tốt và đã có lần sung chức Thái học sinh. Thân mẫu được phong tặng tước Từ Thục phu nhân, bà là con gái quan Hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lân.

Năm 7 tuổi, cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm vì có sự bất hòa nên mẹ bỏ đi. Nguyễn Bĩnh Khiêm phải sống một mình với cha. Lớn lên theo học với Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, nhờ đó cụ hấp thụ được một nền học vấn uyên thâm. Chính Lương Đắc Bằng đã trao cho cụ quyển sách Thái Ất Thần Kinh, vì thế mà cụ thông suốt lẽ trời đất, có tài tiên tri.

Cụ sống vào thời nhà Mạc trị vì. Cụ đã bỏ qua 2 lần thi hội không dự. Mãi đến năm 1535, lúc cụ đã 45 tuổi, lúc đó thời cuộc đã ổn, cụ mới ra thi và đỗ Tiến sĩ cập đệ. Sau đó cụ đỗ Trạng Nguyên và ra làm quan chức Đông các Hiệu thư rồi thăng tới chức Lại bộ Tả thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ. Cụ được phong tước Trình Tuyền Hầu, sau đó lại thăng tước Thái phó Trình Quốc Công. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đậu Trạng nguyên lại được phong tước Trình quốc công nên dân chúng gọi cụ là Trạng Trình.

Cụ làm quan với nhà Mạc được 8 năm, thấy một  số người chuyên quyền lộng hành nên dâng sớ chém đầu 18 người làm gương. Thấy không được vua lưu ý nên cụ cáo quan về làng vào năm 1542, lúc đó cụ mới 52 tuổi.

Từ quan về quê, cụ dựng am Bạch Vân và thu nạp môn sinh. Môn sinh của cụ  có nhiều người đỗ đạt cử nhân, tiến sĩ, trở thành những triều thần danh vọng của triều Lê, trong số học trò của cụ có ông Phùng Khắc Khoan. Cụ cũng thường ngao du các nơi danh lam thắng cảnh, khi  thả thuyền dạo chơi, khi chống gậy trèo núi, thừa hứng ngâm vịnh, quên cả sớm chiều.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm từ trần năm Ất Dậu (1585) đời Mạc Mậu Hợp, thọ 95 tuổi. Cụ để lại tập thơ chữ Hán nổi tiếng “Bạch Vân Am Trình Quốc Công Thi Tập” gồm gần một nghìn bài, tập thơ chữ Nôm “Bạch Vân Quốc Ngữ” và nhất là tập “Sấm Ký Trạng Trình”.

Giai thoại về tài tiên tri.

Giai thoại về tài tiên tri của Trạng Trình có rất nhiều, chỉ xin đan cử một ít.

Trong thời Trạng Trình, tình hình nước Đại Việt ở trong tình trạng chia ba xẻ bốn. Ngoài Bắc thì nhà Mạc trị vì. Ở trong Thanh, Nghệ nhà Lê Trung Hưng trị vì. Nhà Lê lại có Chúa Trịnh nắm mọi quyền hành, cùng lúc Chúa Nguyễn cũng muốn hùng cứ một phương. Cả ba bốn nhà đều nghe tiếng tài tiên tri của cụ Trạng Trình nên đều đến vấn kế cụ. Đối với ai đến cầu, cụ Trạng Trình đều chỉ bảo.

1. Với Chúa Nguyễn. Ông Nguyễn Kim giúp nhà Lê  trung hưng lại và giữ phần đất từ Thanh Hóa trở vào còn từ Sơn Nam đổ ra thuộc nhà Mạc. Ông Nguyễn Kim bị tướng nhà Mạc đầu độc chết. Bao nhiêu binh quyền đều do Trịnh Kiểm là con rể nắm giữ. Ông Nguyễn Kim có hai con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Trịnh Kiểm sợ các em vợ tranh quyền nên đã giết Nguyễn Uông. Nguyễn Hoảng sợ cũng bị hại như anh nên cho người ra Hải Dương vấn kế cụ Trạng Trình. Trạng Trình chỉ đàn kiến ở hòn non bộ nói với sứ giả :

“ Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”  (có nghĩa là một dãy Hoành Sơn (Trường Sơn) có thể dung thân vạn đời.)

Sứ giả về nói lại, Nguyễn Hoàng hiểu ý nên nói với chị là bà Ngọc Bảo xin với chồng cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa. Trịnh Kiểm thấy đây là dịp tốt đẩy người em vợ đi xa khỏi tranh quyền nên đồng ý. Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa và từ nơi đó gây nên sự nghiệp.

2. Với chúa Trịnh.  Trinh Kiểm quyền hành lấn át vua Lê. Vua Lê Trang Tôn không có người thừa kế, Trịnh Kiểm định tự lập làm vua nhưng còn do dự mới cho người bí mật ra Hải Dương hỏi ý kiến Trạng Trình. Trạng Trình không nói gì chỉ sai người nhà sửa soạn cho cụ ra chùa thắp hương và nói : “Làm sải chùa thì ăn oản”. Cụ lại nói với người nhà rằng : “Năm ngoái mất mùa, thóc không tốt đi tìm giống cũ mà gieo mạ”. Ý cụ Trạng muốn nhắn nhủ rằng  nên tìm dòng giòi nhà vua cũ mà tôn lên làm vua,  chúa Trịnh chỉ như ông sải chùa, tôn thờ Phật thì được ân huệ, chúa phò vua thì mới có quyền hành.

Sứ giả trở về tường thuật lại lời nói cử chỉ của cụ Trạng, Trịnh Kiểm hiểu ý không cưỡng đoạt ngôi vua nữa rồi cho người tìm được cháu ông Lê Trừ là anh ruột của vua Lê Thái Tổ tên là Lê Duy Bang đem về lập làm vua.

Về sau con cháu chúa Trịnh nhiều người muốn truất ngôi nhà Lê để tự lập làm vua nhưng cụ Trạng khuyên : “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”. Ý cụ khuyên, nhà Lê tuy suy nhược nhưng nhà Lê còn thì chúa Trịnh mới còn, nếu nhà Lê mất thì chúa Trịnh cũng tiêu vong. Quả nhiên như vậy, khi nhà Tây Sơn tiến ra Bắc, vua Lê Chiêu Thống mất ngôi thì chúa Trịnh cũng mất quyền.

3. Với nhà Mạc. Trạng Trình từ quan về ẩn dật nhưng các vua nhà Mạc vẫn kính trọng cụ như bậc thầy và thường hỏi ý kiến cụ khi có hữu sự. Lúc cụ bệnh nặng, Mạc Mậu Hợp cho con tới thăm cụ và hỏi kế hoạch cho tương lai. Lúc đó chiến tranh giữa nhà Mạc và nhà Lê đang đến hồi quyết liệt. Cụ bảo : “Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế” có nghĩa đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng cũng dung thân được vài đời. Ý cụ là nếu thua chúa Trịnh thì lên ẩn náu nơi đất Cao Bằng.

Nhà Mạc nghe lời, khi thất thế chạy lên chiếm cứ Cao Bằng và làm vua được vài đời nữa, kéo dài thêm 96 năm nữa.

Vài giai thoại lúc cụ còn sống và sau khi chết :

1. Lấy số tử vi cho cây quạt. Trời mùa hè, bà Trạng đi chợ mua cho cụ cây quạt giấy. Cụ tính ngày giờ rồi lấy số tử vi cho cây quạt. Cụ đoán ra ngày chết của cây quạt. Cụ thầm nghĩ :

“Cây quạt bằng giấy, nếu đem dủng thì nó sẽ rách hay thất lạc mất thì cái đó là sự thường, nhưng nếu đem cất đi hay treo lên không cho ai đụng đến mà đến ngày giờ đó nó bị chết thì quả là có số mệnh do tiền định.”

Thế rồi cụ niêm phong cây quạt và treo lên ở đầu giường, không cho ai đụng đến.

Đến ngày như lá số cho biết cây quạt sẽ chết, thế mà nó vẫn còn nguyên. Cu Trạng ớ nhà quanh quẩn nơi giường cả ngày để xem cây quạt nó chết ra làm sao. Cụ ngắm nghía, thỉnh thoảng lại lấy phất trần phủi bụi cho cây quạt.

Trưa hôm đó, có người cháu gọi bà Trạng bằng cô, trong nhà có chút việc sang mời cụ qua chơi. Cụ đang mải mê xem quạt chết như thế nào nên từ chối không sang. Đến mấy lần không mời được cụ sang, người cháu tưởng cụ giận anh ta việc gì nên đến than thở với bà Trạng để nhờ bà nói dùm cụ sang cho, vì công việc nếu không có cụ Trạng thì không thành.

Bà Trạng từ sáng tới giờ thấy cụ cứ ngắm nghía, phủi bụi quạt đã thấy ngứa mắt lắm rồi, nay thằng cháu sang mời qua nhà nó chơi lại không chịu đi. Bà lên nhà trên nói dùm cháu nhưng cụ cũng không chịu đi nên bực mình la lối om sòm :

- Ông ở nhà làm gì mà ngắm với nghía cây quạt, chốc chốc lại  phủi bụi cho nó. Con cháu có việc mời ông sang chơi ông lại từ chối. Tôi mua quạt cho ông để quạt chứ có phải để ông làm tôi tớ phủi bụi cho nó đâu.

Vứa la lối bà Trạng vừa nhảy lên với cây quạt xé ra tan tành từng mảnh :

- Này quạt với chả quạt, mua nó về để quạt chứ có phải để ông ngắm nghía phủi bụi cho nó đâu.

Cụ Trạng thấy vậy cả cười nói :

- Ta tưởng nó chết như thế nào, thì ra là như vậy.

Cụ bà ngẩn ra không hiểu như thế nào. Cụ Trạng lúc đó mới khăn áo chỉnh tề sang nhà người cháu và kể lại đầu đuôi câu truyện cái quạt chết như thế nào. Mọi người đều phục cụ giỏi lý số và có tài tiên tri.

2- Thằng Trứ Phá Đền.  Ông Nguyễn Công Trứ là một nhà cai trị, quân sự, văn chương, kinh tế giỏi giang. Ông có lúc làm đến thượng thư, đại tướng nhưng cũng có lúc bị giáng chức xuống làm lính. Những người dân ở các huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình là nơi do ông lập dinh điền khai khẩn, ngày nay nhiều nơi lập đền thờ tôn ông làm Thần làng. Năm ông làm Tổng đốc Hải Yên (Hải Dương và Quảng Yên) cho đào kinh dẫn thủy nhập điền. Con kinh đi qua làng cụ Trạng Trình và đình thờ cụ. Lúc này cụ Trạng đã mất. Ông Nguyễn Công Trứ ra lệnh cho phá đền để đào sông. Dân làng ra xin ông đừng phá đền nhưng ông Nguyễn Công Trứ cho rằng việc đào sông là cần thiết cho việc khẩn hoang nuôi dân chúng vả lại việc ông làm là do vâng lệnh vua, nhà vua lớn hơn thần vì nhà vua còn phong sắc cho bách thần huống chi là Trạng.

Thế rồi ông cứ cho người phá đền. Lúc người phá đền đem bát hương ra thấy ở dưới có tấm bia bằng đá phủ vải điều. Ông sai giở tấm vải ra thì thấy có mấy câu thơ như sau :

             Minh Mạng thập tứ,

             Thằng Trứ phá đền.

             Phá đền thì phải lập đền,

             Nào ai đụng đến Doanh điền nhà bay.

Quả thật, năm đó dưới thời Minh Mạng thứ 14 và đúng là tên Trứ phá đền để lập dinh điền. Ông Nguyễn Công Trứ đọc mấy câu thơ, sợ toát mồ hôi, vội cho người sửa sang lại đền và không dám nghĩ đến phá đền nữa.

Nhưng điều làm cho Trạng Trình nổi tiếng là tập Sấm Ký.

SẤM KÝ TRẠNG TRÌNH.

Sấm là lời đoán trước những việc lớn của nước non sẽ xẩy ra sau này, ghi thành văn vần với ý nghĩa khó hiểu ( Tđ. Lê Văn Đức). Sấm ký là sách chép các lời sấm. Sấm ký Trạng trình là sách chép các lời tiên tri của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm về các việc đất nước với những lời lẽ khó hiểu, chỉ khi sự việc đã xẩy ra mới có người giải đoán, nhưng có khi trúng khi trật, lại cũng có người thấy một việc đã xẩy ra rồi nghĩ ra một câu nào đó cho hợp với việc đó mà nói là sấm Trạng Trình tiên đoán.

Các sách của cụ được viện Viễn Đông Bác Cổ cho người ghi chép trong đó có Sấm Trạng Trình. Về sau có nhiều người, nhiều nhà xuất bản in sấm Trạng Trình. Trong các sách đó có cuốn “Thành ngữ, Điển tích, Danh nhân từ điển” của Trịnh Văn Thanh xuất bản năm 1966 ở Saigon là nói đầy đủ nhất về “Nguyễn Bỉnh Khiêm và toàn bài Sấm ký”.  Bài Sấm Ký này ngoài 14 câu cảm đề, có 248 câu “Sấm Ký”, chia ra thành những đoạn thơ, có khi 2 câu, có khi 4 câu.. Ngoài ra cũng có một vài người cho in các bài thơ nói là sấm Trạng Trình, so sánh thì chỉ có ít câu giống với bản của Trịnh Văn Thanh còn ngoài ra khác rất nhiều. Chúng ta lấy bản “Nguyễn Bỉnh Khiêm và toàn bài Sấm ký” của Trịnh Văn Thanh làm chuẩn.

- Khởi nghĩa Yên Bái.  Sấm Trạng Trình nổi tiếng vì tiên đoán cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Sấm viết :

              Kìa kìa gió thổi lá rung cây

             Rung Bắc rung Nam , Đông tới Tây.

            Tan tác Kiến kiều An đất nước,

            Xác sơ Cổ thụ sạch Am mây.

            Lâm Giang nổi sóng mù Thao cát,

           Hưng địa tràn dâng Hóa nước đầy.

          Một ngựa một Yên ai sùng Bái,

         Cha con nhà Vĩnh Bảo cho hay. 

Những chữ in đậm trong các vần thơ trên liên hệ tới các địa điểm của cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng trong thập niên 1930.

Yên Bái cô Nguyễn Thị Giang giả làm người buôn bán, móc nối với cai Thiết và tổ chức binh đoàn Yên Bái tấn công thành Yên Bái cùa Thiếu tá Le Taron đêm 9- 3- 1930. Cũng tại Yên Bái, sau khi cuộc khởi nghĩa bất thành, quân Pháp đã đem 13 nghĩa sĩ Quốc Dân Đảng trong đó có Nguyễn Thái Học ra xử bắn.

Cũng trong đêm 9-3-1930, tư lệnh chiến khu một gồm Hà Nội, Hà Đông, Kiến An, Hải Phòng là Nguyễn Khắc Nhu tiến đánh Lâm Thao rồi Phú Thọ, Hưng Hóa, Sơn Tây.

Đồng thời ở huyện Vĩnh Bảo, Trần Quang Khải vào huyện lỵ cho tri huyện là Hoàng Gia Mô hay tin khởi nghĩa để tên này sợ bỏ chạy lên Hải Dương. Khi tên này vừa rời cách huyện lỵ 2 cây số, bị nghĩa quân do Đào Văn Tập cầm đầu chận lại, giết chết.

Vì Trần Quang Diệu quê ở Cổ Am nên quân Pháp cho máy bay đến ném bom triệt hạ làng này. Người ta nói khi máy bay ném bom làng Cổ Am thì tìm thấy quyển Sấm ký của cụ Trạng Trình và từ đó được phổ biến rộng rãi trong dân chúng.

-        Nhà Tây Sơn.  Nói về nhà Tây Sơn, Trạng Trình có câu sấm :

            Hà thời biện lại vi vương,

          Thử thời Bắc tận, Nam trường xuất bôn.

Câu này có nghĩa là : khi nào biện lại lên làm vua thì miền Bắc mất mà miền Nam cũng phải chạy dài.

Trong lịch sử Việt Nam chỉ có Nguyễn Nhạc xuất  thân từ chức biện lại lên làm vua. Nguyễn Nhạc được hai em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ phò tá chiến đấu trong 7 năm lên ngôi Thái Đức Hoàng đế (1778).

Trong Nam, chúa Nguyễn bị quân chúa Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc tức Quận Việp đánh phải chạy vào Quảng Nam, ở đây bị Tây Sơn đánh, chúa Nguyễn phải truyền ngôi cho cháu là Nguyễn Ánh lên chức Đông cung để lo khôi phục. Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định bôn ba cùng khắp miền đồng bằng Cửu Long.

Ngoài Bắc, Tây Sơn do Nguyễn Huệ cầm binh ra diệt chúa Trịnh, trả ngôi cho vua Lê. Sau khi vua Lê Hiển Tông mất, vua Lê Chiêu Thông lên ngôi, dòng dõi chúa Trịnh lại trở về. Vua Lê Chiêu Thống phải triệu Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra đánh đuổi đám con cháu chúa Trịnh. Sau khi dẹp tan chúa Trịnh, Nguyễn Hữu Chỉnh lại chuyên quyền và ra mặt chống nhà Tây Sơn.

Nguyễn Huệ thấy vậy mới sai tướng Vũ Văn Nhậm đem binh ra đánh Chỉnh. Chỉnh đem vua Chiêu Thống chạy trốn. Chỉnh bị Nhậm bắt còn vua thì chạy thoát trốn sang cầu cứu với vua Tàu là Càn Long.

 Sấm nói vể Nguyễn Hữu Chỉnh như sau :

                Chim bằng cất cánh về đâu ?

                Chết tại trên đầu hai chữ quận công.

Chim bằng chỉ Nguyễn Hữu Chỉnh vì Chỉnh được vua Lê Chiêu Thống phong tước Bằng Quận Công. Vì hai chữ Quận Công đó mà nghênh ngang tự tại đến phải chết.

Vua Càn Long cho tướng Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân đem vua Chiêu Thống về nước. Nguyễn Huệ lên ngôi vua lấy hiệu Quang Trung đem binh ra Bắc đánh Tôn Sĩ Nghị. Việc này sấm Trạng Trình nói :

              Bao giờ trúc mọc qua sông,

              Mặt trời lại sẽ đỏ hồng phương Tây.

Tôn Sĩ Nghị đem quân qua sông Hồng vào Thăng Long phải cho lính đẵn tre làm cầu nổi cho quân qua sông, nên mới nói trúc mọc qua sông. Khi quân vua Quang Trung đánh rát vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị phải vội vã qua sông chạy về Tàu và sợ quân Tây Sơn đuổi theo nên cho chặt cầu làm chết đuối đám lính Tàu không biết bao nhiêu mà kể. Mặt trời đỏ hồng phương Tây có ý chỉ nhà Tây Sơn và Nguyễn Huệ (trong Kinh Dịch, Đoài cung chỉ phương Tây là em Nguyễn Huệ, còn Chấn cung là phương Đông chỉ người  anh Nguyễn Nhạc).

Về vận số vua Quang Trung, sấm viết :

             Đoài cung một sớm đổi thay,

             Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.

            Đầu cha lộn xuống chân con,

            Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

Đoài cung chỉ Nguyễn Huệ là em bị thay đổi thì Chấn cung là anh Nguyễn Nhạc cũng chẳng còn. Còn câu đầu cha lộn xuống chân con ý nói vua Quang Trung, viết theo chữ nho thì chữ Quang có chử tiểu ở trên đầu. Con là Nguyễn Quang Toản hiệu là Cảnh Thịnh, chữ Cảnh có chữ tiểu ở dưới, nên mới nói đầu cha lộn xuống chân con.  Quang Trung và Cảnh Thinh làm vua được mười bốn năm thì mất ngôi.

Nói về Nguyễn Ánh (Gia Long) và Pháp sấm Trạng Trình có câu :

                  Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,

                 Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.

Phụ nguyên theo chiết tự thì đầu chữ phụ ghép với chữ nguyên thành chữ Nguyễn. Nguyễn đây chỉ Nguyễn Ánh thuộc ngành chính thống nhà Nguyễn. Trong khi bôn ba ở miền Nam đã nhờ Bá Đa Lộc cầu viện nước Pháp và vì thế ước Pháp để ý đến Việt Nam để sau đó đem quân chiếm Việt Nam . Dê ở đây ý nói đến người phương Tây tức Dương nhân, dương tức dê.

Tiếp theo các câu :

                     Để loài bạch quỷ Nam xâm,

                     Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly.

Các câu này nói bạch quỷ chỉ người da trắng tức người Pháp thôn tính nước Việt Nam làm cho dân chúng khổ sở.

Khúc dưới nói đến kết thúc cơ nghiệp nhà Nguyễn :

                      Chó kêu ầm ỉ mùa đông,

                      Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi.

Mùa đông năm 1946 Bính Tuất (năm con chó) vua Bảo Đại thoái ngôi trao ấn kiếm cho Việt Minh kết thúc kỷ nguyên nhà Nguyễn.

Sấm Trạng Trình cũng nói đến cuộc thế chiến thứ hai :

                        Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,

                        Can qua xứ xứ khổ đao binh,

                        Mã đề dương cước anh hùng tận,

                       Thân dậu niên lai kiến thái bình.

Long vĩ  là đuôi rồng tức năm Canh Thìn 1940 và xà đầu là đầu rắn tức năm Tân Tỵ 1941 cuộc chiến bắt đầu mọi xứ đều khổ vì đao binh. Đến khi Mã đề dương cước  là móng dê chân ngựa tức cuối năm  Ngọ 1942 năm Mùi 1943 thì Hitler chết. Qua năm Thân Dậu tức năm Khỉ 1945, năm Gà 1946, thiên hạ thái bình.

Trong khi thế chiến bùng nổ thì Việt Nam ra sao ? cụ Trạng viết :

                          Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,

                         Rắn mới hai đầu khó chịu thay.

                         Ngựa đã gác yên không người cưỡi,

                        Dê không ăn lộc ngảnh về Tây.

Năm Rồng như trên ta biết là năm 1940 người Nhật như con rồng ở ngoài biển đâu có biết sức mạnh của nó. Đến năm Rắn mới, rắn là tỵ, mới là tân,  tức năm Tân Tỵ 1941 Nhật vào nước ta và cùng lúc với thực dân Pháp cai trị nước ta nên mới nói Rắn mới hai đầu . Rắn hai đầu là cùng lúc cả Pháp cả Nhật cai trị nước ta làm dân ta hai triệu người bị chết đói .

Câu tiếp theo Ngựa đã gác yên không người cưởi  nói về cuộc chiến tranh Pháp Việt đến năm Ngọ 1954 thì đình chiến như con ngựa yên cương sẵn sàng ra trận thì nay đình chiến như ngựa gác yên không người cưởi. Đó là Hiệp Định Geneva năm 1954 chấm dứt chiến tranh chia đôi đất nước. Miền Bắc giao cho Cộng sàn, Pháp phải rút vào trong miền Nam .

Câu sau Dê không ăn lộc ngảnh về Tây  Dê như trên đã nói dê cũng hiểu là dương chỉ người Tây Dương tức Pháp. Năm dê tức năm Ất Mùi 1955 người Pháp đã bị chính phủ Ngô Đình Diệm đuổi về nước như con dê hết được ăn lộc cỏ non bòn rút dân Việt mà phải lùi thủi rút về Tây.

Biến cố Tết Mậu Thân 1968, hơn bảy ngàn (7000) người dân thành phố Huế bị cộng sàn giết và trên tất cả các thành phố khác khắp Miền Nam bị cộng sản tấn công vào ngày Tết  giết hại bao nhiêu dân lành khác, sấm Trạng Trình viết :

                     Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,

                     Gà kia vỗ cánh chập chùng bay.

Khỉ là năm Thân. Khỉ nọ ôm con cho ta thấy ngoài khỉ mẹ còn có khỉ con, khỉ nhỏ, khỉ ít tuổi. Ít tuổi, chữ nho là mậu niên. Ta thấy rõ ràng năm thân này là năm Mậu Thân, dl. là 1968. Đầu năm, ngày Tết, ngày thiêng liêng của dân tộc, cộng sản miền Bắc đã bất thần, bất chấp lệnh hưu chiến đã ban, tấn công vào các thành phố trên khắp Miền Nam giết hại biết bao nhiêu dân lành mà nặng nề nhất là thành phố Huế với hơn bảy ngàn sinh linh bị tàn sát rất dã man. Và chẳng ai trong chúng ta đã không phải ôm con mà khóc mếu !

Qua năm gà tức năm Kỷ Dậu 1969, gà kia vỗ cánh chập chùng bay , máy bay của Mỹ với đủ loại từ B52, tới các loại F105, F111, các loại máy bay trực thăng đã bay như gà vỗ cánh trên khắp các miền đất nước. Cách đây hơn 500 năm, ai dám nghĩ tới các loại máy bay bay trên trời như chim như gà ? Thế mà cụ Trạng Trình đã tiên đoán ra, sợ cụ thật.

Về Việt Minh Cộng sản cụ Trạng Trình viết :

                     Đầu thu gà gáy sôn sao,

                     Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.

Mùa thu tháng tám dương lịch tức tháng 7 âm lịch năm Dậu (con gà) 1945 thì Hồ Chí Minh vào Thăng Long. Chữ gà xưa là cổ nguyệt, chiết tự chữ cổ và chữ nguyệt thành chữ Hồ.

Tháng bảy mùa thu là tháng tưởng nhớ cô hồn các đẳng. Gà xôn sao vì các vong linh tìm vễ cõi thế, vì các tay trộm cắp đi rình rập. Đêm khuya trăng sáng vàng vọt là lúc các tay đạo chích đi ăn đêm, là lúc các vong linh đi tìm ăn cháo lá đa. Hồ và các bộ hạ lâu la vào Thăng Long cướp chính quyền như kẻ cắp đột nhập khổ chủ ban đêm. Cụ Trạng Trình đã nhìn thấy rõ chân tướng của đám người này nên mới cho đi vào Thăng Long lúc đêm khuya như kẻ trộm chứ đâu được quang minh chính đại giữa thanh thiên bạch nhật !

Sau khi ký hiệp định Geneva chia đôi đất nước, sấm viết :

                          Cửu cửu càn khôn dĩ định,

                          Thanh minh thời tiết hoa tàn.

                         Trực đáo dương đầu mã vỹ,

                         Hồ binh bát vạn nhập Trướng An.

Cửu cửu càn khôn dĩ định  có nghĩa số trời đã định 9 lần 9 là 81 năm thì Pháp hết cai trị Việt Nam . Vào lúc thanh minh đầu năm ngựa Dương đầu, cuối năm dê Mã vỹ thì Hồ binh  vào Tràng An. Tràng An xưa là kinh đô của Tàu,  hiểu chung là kinh đô, đây hiểu là Hà Nội.

Cả đoạn trên có ý nói là sau 81 năm cai trị Việt Nam, Pháp phải rút vào Miền Nam để cho Cộng Sản vào tiếp thu Hà Nội.

Hồ binh có người hiểu là bộ đội “cụ Hồ”. Chữ Hồ đây không hẳn là chỉ Hồ Chí Minh. Chữ Hồ còn có nghĩa là người Hồ, dân tộc sống ở vùng Tây Vực tức vùng Trung Bắc Á. Người Hồ thường hay vào đánh phá nước Tàu, bởi vậy người Tàu phải xây dựng Trường Thành để ngăn cản bước xâm lăng của giồng dân này. Người Tàu gọi giống dân này là “rợ Hồ” với nghĩa miệt thị. Để mua chuộc các lãnh tụ giống dân này, vua Tàu thường phải gả công chúa cho họ, nổi tiếng nhất lả truyện “Chiêu Quân cống Hồ”.

 Cụ Trạng Trình đã biết đám Hồ binh nhập Tràng An không phải là binh của dân tộc mà là loại lính đánh thuê cho Quốc Tế Cộng Sản do người Hồ cầm đầu. Người Hồ đây là Cộng sản Nga Xô, cũng là giống Hồ.  Khi cộng sản miền Bắc xâm lăng miền Nam vẩn thường đưa ra khẩu hiệu “làm nghĩa vụ quốc tê” tức hy sinh cho việc bành trướng đế quốc Nga Xô. Cụ Trạng trình đã biết như vậy nên mới gọi là Hồ binh mà không gọi là Quân ta. Hồ binh nhập Trường An cũng có nghĩa như Hán/Hoa quân nhập Việt nghĩa là Giặc đến nhà. Hồ binh là giặc, nếu không phải vậy sao khi nghe tin Hồ binh nhập Trường An tức cộng quân tiếp thu Hà Nội, dân chúng đã ùn ùn chạy trốn suôi Nam làm thành một phong trào tỵ nạn cộng sản, chỉ trong 3 tháng lên đến một triệu người. Nếu không có các cuộc đàn áp đẫm máu như ở Ba Làng tỉnh Thanh Hóa, như ở Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An… thì con số di cư tỵ nạn còn cao hơn nữa. Và vào năm 1975, đám Hồ binh này xâm chiếm miền Nam đã làm dân chúng chạy trốn tỵ nạn cộng sản khiến cả thế giới bàng hoàng sửng sốt.

 Dưới sự cai trị của đám Hồ binh, dân chúng sống như thế nào ? Sấm viết :

                           Đấng hiên ngang nào ai biết trước,

                          Tài thao lược yêm bác vũ văn.

                          Ai còn khoe trí khoe năng,

                         Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.

 Dưới chế độ cai trị sắt máu của đám Hồ binh thì những lãnh tụ, những người trí thức, học lực uyên thâm, văn võ toàn tài là những mục tiêu bị triệt hạ trước tiên, nay cấm cái này mai cấm cái kia rồi thì bị bắt  bị thủ tiêu. Biết bao lãnh tụ quốc gia, các nhà trí thức, văn học thi sĩ đã bị giết như Lý Đông A, Trương Tử Anh, Huỳnh Phú Sổ v.v… như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm…

 Đối với quảng đại quần chúng thì :

                          Chưa từng thấy nay đời sự lạ,

                         Chốc lại mòng gá vạ cho dân,

                         Muốn bình sao chẳng lấy nhân,

                         Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình.

                         Chưa từng thấy nay đời sự lạ.  

Sự lạ đó là mưu mô thâm độc của Hồ binh là bần cùng hóa nhân dân để dễ bề sai khiến. Đối với nông dân thì triệt hạ địa chủ là mục tiêu chính với các cuộc đấu tố rùng rợn, các cuộc chém giết địa chủ dã man như thời Trung cổ. Thuế nông nghiệp lấy hơn phần nửa lúa sản xuất được khiến cho dân đói chỉ còn biết lo kiếm miếng ăn hết đường chống đối. Khi thu thuế lúa không còn hiệu quả thì bắt dân đem ruộng đất gia nhập nông trường tập thể, biến nông dân thành nông nô vô sản như dưới chế độ phong kiến mà lãnh chúa địa chủ là đám Hồ binh cộng sản.

 Đối với dân thành thị thì các thương gia là mục tiêu triệt hạ, ghép họ vào thành phần “tư sản mại bản” để tịch thu của cải, chiếm đóng nhà cửa, đuổi họ đi về các vùng rừng thiêng nước độc. Với các người buôn thúng bán bưng thì thuế công thương nghiệp nặng nề đã làm họ phải tán gia bại sản.

 Nay hết học tập này mai tẩy não khác, chốc lại mòng gá vạ cho dân, con cái đấu tố cha mẹ, bà con hàng xóm tố cao lẫn nhau, làm mọi người lo lắng bất an, lúc nào cũng hồi họp, bị bắt đi tù cải tạo bất cứ lúc nào, khiến cụ Trạng Trình phải than : Muốn bình sao chẳng lấy nhân, Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình !

 Với chế độ bất nhân như thế của đám Hồ binh thì dân chúng năm 1954 đã bỏ nhà bỏ cửa ở miền Bắc mà di cư vào Nam . Năm 1975 khi Hồ binh nhập Ngọc Bích Thành (tên cụ Trạng Trình gọi Saigon (Bắc hữu Kim thành tráng, Nam hữu Ngọc bích thành) thì một cuộc tỵ nạn kinh thiên động địa của dân chúng nổ ra. Cụ Trang Trinh nói về cuộc Vượt Biên, Vượt Biển như sau :

                          Cũng có kẻ non trèo, biển lội,

                         Lánh mình vào ở nội Ngô, Tề.

 Non trèo là vượt biên giới phải trèo đèo vượt núi, băng rừng lội suối.  Biển lội là thuyền nhân dùng ghe thuyền vượt biển đến các nước tự do.

 Lánh mình vào ở nội Ngô, Tề  là đi tỵ nạn ở các nước Ngô, Tề. Ngày xưa nước Ngô và nước Việt là hai nước thù nghịch. Việt Câu Tiễn bị Ngô Phù Sai bắt làm tù binh phải đi giữ ngựa, nếm phân. Khi được thả về nước, Việt Câu Tiễn đã phục thù đánh giết Ngô Phù Sai. Sấm nói lánh mình vào Ngô là người dân Việt biết Ngô là thù địch thế mà vẫn chạy vào để lánh nạn vì Hồ binh quá tàn ác thà chết dưới tay quân thù còn hơn sống nhục nhã ê chề dưới chế độ cộng sản Hồ binh. Đi vào thưc tế ngày nay, thù địch là chế độ Khmer Đỏ tàn sát dân Miên cả hai triệu người, biết vậy mà người Việt tỵ nạn cộng sản vẫn chạy vào vì thà rằng chết do Khmer Đỏ giết còn hơn sống dưới chế độ bất nhân tàn ác của lũ cộng sản Hồ binh, và nếu chạy thoát được ra đất tự do thì có đời sống sẽ sung sướng hơn, tinh thần tự do thoải mái hơn.

 Tề là nước xa xôi đối với nước Việt, muốn đi đến đó phải dùng ghe thuyền. Ngày nay nước Tề là các nước tự do Âu Mỹ. Thuyền nhân Việt đã lao mỉnh vào biển cả bao la, sóng gió, phó thác số mệnh cho trời đất. Đã có biết bao nhiêu người vùi thây dưới lòng biển cả, biết bao nhiêu người bị hải tặc giết, phụ nữ bị hãm hiếp. Thế mà vẫn cứ ùn ùn đổ xô ra biển, lội biển mà đi, chỉ mong thoát khỏi chế độ tham tàn ác độc, chết cũng cam lòng.

 Tương lai đất nước sẽ ra sao ? Sấm viết tiếp theo hai câu trên :

                          Có thầy Nhân Thập đi về,

                        Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh.

 Sẽ có lãnh tụ là thầy Nhân Thập đi về. Ở đâu đi về, đi về đâu ? Hẳn là ở hải ngoại đi về quốc nội để tổ chức, để kêu gọi đồng bào nổi lên chống cộng, chống đám Hồ binh. Thầy được các cộng sự tả hữu phò tá, có quần chúng đông như kiến cỏ theo, kết thành quân binh tiêu diệt Hồ binh cộng sản. Thầy Nhân Thập hẳn chỉ là một ký hiệu của lãnh tụ, chưa biết là ai. Thầy đã xuất hiện hay chưa, không biết, sấm không nói rõ năm nào. Tuy nhiên sấm cũng hé cho ta biết và có lời khuyên :

                   Này những lúc thánh nhân chưa lại,

                   Chó còn nằm đầu khải cuối thu,

                   Khuyên ai sớm biết khuông phù,      

                   Giúp cho thiên hạ Đường Ngu ngõ hầu.

 Cuộc chiến sẽ là cuộc chiến nhân nghĩa, chẳng tàn hại dân. Có thể là cuộc nổi dậy của dân chúng dưới sự lãnh đạo của thầy Nhân Thập, đánh đuổi giặc cộng sản Hồ binh. Thời buổi hòa bình thịnh trị hội thái lai sẽ đến với dân tộc và những người tham dự can qua chiến trận sẽ được thưởng công :

                          Những người phụ giúp thánh minh,

                        Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai.

                        Phùng thời nay hội thái lai,

                       Can qua chiến trận để người thưởng công.

 Chờ xem lời sấm ứng nghiệm như thế nào.