An Dương Vương
 

                         

AN DƯƠNG VƯƠNG HỌ GÌ ?

                                                         ĐỖ HUY

 

   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Kỷ Nhà Thục viết về An Dương Vương như sau : “Họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa)…”

    Việt Sử Tiêu Án viết : “An Dương Vương tên là Phán, người Ba Thục ở ngôi 50 năm…”

    Toàn Thư nói An Dương Vương họ Thục, còn Tiêu Án không nói họ gì mà chỉ nói tên là Phán. Cả Toàn Thư  Tiêu Án đều nói An Dương Vương là người Ba Thục.

    Nguyễn Hiến Lê chú thích trong bản dịch Sử Ký Tư Mã Thiên về Ba Thục :

   “Ba Thục là tên của nước Ba và nước Thục gộp lại.

   Ba : là một nước ở phía nam nước Tần, sau nhà Tần chiếm và đổi thành Ba quận, nay là phía đông tỉnh Tứ Xuyên.

   Thục : là một nước, sau Tần chiếm đổi thành Thục quận, nay là tây bộ tỉnh Tứ Xuyên và một phần đất Tây Khương cũ.”

    Ba Thục phía bắc có dãy Tần Lĩnh, núi non trùng điệp, phía tây giáp cao nguyên Thanh Hải, phía nam giáp tỉnh Vân Nam, phía đông có Tam Giáp hay Tam Hiệp là ba quả núi ở giáp bên sông Dương Tử : Cù Đường Hiệp, Vu Hiệp và Tây Lăng Hiệp, dài tất cả 204 km. nay chỗ này xây đập Tam Hiệp, cho nên đường vào Ba Thục rất hiểm trở khó khăn.

    (Nơi bắt đầu Tam Hiệp có thành Bạch Đế là điểm hiểm yếu thủy lục, cửa ngỏ phía đông của Ba Thục, giáp với đất Sở. Thời Tam Quốc, Bạch Đế thành là nơi Lưu Bị, sau khi thân chinh đánh Đông Ngô bị thất bại, lui về cố thủ, năm sau bị bệnh chết. Trước khi lâm chung Lưu Bị đã phó thác con mình là Lưu Thiện cho tể tướng Khổng Minh. Gần Bạch Đế Thành có “Bát Trận Đồ” bao gồm Thủy bát trận và Hạn bát trận, tương truyền là nơi Gia Cát Lượng Khổng Minh diễn tập binh pháp, bài bố binh trận khi đem quân từ Kinh Châu vào đất Thục để ngăn chặn quân Đông Ngô đuổi theo.)

    Từ Ba Thục đến nước Văn Lang tức Bắc Việt ngày nay đường xá diệu vợi, phải vượt qua tỉnh Hồ Nam, dãy Ngũ Lĩnh, qua Quế Châu, Quảng Tây mới đến vùng thượng du Bắc Việt, toàn là núi non trùng điệp. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhận xét : “Nước Thục từ năm thứ 5 đời Thận Tỉnh Vương nhà Chu (Chu Noãn, 316 tr CN) đã bị nước Tần (Huệ Công) diệt rồi còn làm gì có vua nữa ? Huống chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiện Vi (ngày nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, Cùng, Túc, Nhiễm Mang v.v…, cách nhau hàng hai ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vựot qua được các nước ấy mà sang đánh lấy Văn Lang ? Hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp nước Văn Lang còn có họ Thục khác mà sử cũ nhận là Thục Vương chăng ?”

    Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược cũng đồng ý với nhận xét của Cương Mục : “Huống chi lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) sang đến Văn Lang (Bắc Việt) cách bao nhiêu đường đất và có bao nhiêu núi sông ngăn trở, làm thế nào quân nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ dàng vậy ?”

    BA THỤC.

    Ba Thục là tên gồm nước Ba và nước Thục, ngày nay là tỉnh Tứ Xuyên, xung quanh núi non trùng điệp bao vây, có sông Dương Tử chảy qua.

    Dân Ba và dân Thục đều thuộc chủng Thái (Sử Ký Tư Mã Thiên gọi là Nhung, Địch). Thái hay Tày là tên có từ thế kỷ 13 khi bị Hoa tộc lấn đất dữ dội, họ phải bỏ xứ mà Nam thiên xuống các vùng phía Nam như Miến Điện, Vân Nam, Lào, Xiêm, Bắc Việt. Thái có nghĩa là “Thoát khỏi, Tự do, Thong thả”. Trước đó họ tự gọi là Âu. Chi Âu cùng với chi Lạc trong huyền thoại cha Lạc Long, mẹ Âu Cơ đẻ Trăm Trứng. Năm mươi con chi Âu theo mẹ lên núi, năm mươi con chi Lạc theo cha xuống biển. Bởi vậy người Thái (Âu) phần nhiều ở núi, người Việt (Lạc) ở đồng bằng.

    Phía bắc nước Ba Thục có dãy Tần Lĩnh núi non cheo leo hiểm trở, muốn qua phải làm cầu, đường bằng cây đan treo vào núi gọi là sạn đạo. Phía bắc dãy Tần Lĩnh là nước Tần. Tần Hiến Công nuôi mộng bá chủ chư hầu nên chuẩn bị quân lương. Nước Tần thì khô khan ruộng nương ít, cần tìm đất đai. Phía Đông có nhiều ruộng tốt nhưng đã có chủ khó lòng chiếm đoạt nên nhìn qua dãy Tần Lĩnh có Ba Thục là vùng đất có sông  Dương Tử chảy qua, đất đai phì nhiêu, cần chiếm đoạt. Vào năm 316 tr. CN, tướng Thục là Tư Mã Thác vượt Tần Lĩnh, từ Hán Trung vào đánh chiếm nước Ba rồi nước Thục. Hai nước này không phòng bị, Tần chiếm dễ dàng.

    (Về đường sạn đạo, Sử Ký cùa Tư Mã Thiên viết : “Đường Sạn đạo nghìn dặm thông tới Thục Hán”. Hiện nay đường sạn đạo không còn nhưng vẫn “còn nhiều lỗ khoan đục trên vách núi, xếp thành ba tầng, trên, giữa và dưới, lỗ đục tầng giữa là để cắm cọc gỗ, trên cọc lát ván gỗ liền nhau để làm đường đi, tầng dưới là lỗ để cắm giá đỡ, tầng trên là lỗ để lắp đặt mái chống mưa. Mỗi lỗ rộng khoảng 30 centimét, sâu khoảng 50 centimét. Sạn đạo trông xa như gác hành lang lơ lửng, nên gọi là gác mây. Lý Bạch làm bài “ Thục đạo nan “ có câu :

   Y hư hi, nguy hồ cao tai,

   Thục đạo nan nan ư thướng thanh thiên !….

tạm dịch :

   Ôi chao, ghê thay! Nguy hiểm và cao làm sao!

  Đường lên xứ Thục khó đi, khó hơn cả lên trời xanh!….

 Đường sạn đạo này để lại nhiều truyền thuyết, Thục Vương Bản Kỷ viết rằng : “Tần Huệ Vương muốn đánh nước Thục, liền tạc năm con trâu đá và để vàng sau đuôi. Người Thục thấy vậy, cho rằng trâu ỉa ra vàng được. Hơn nữa trâu lại có lính chăm sóc, nên càng chắc mẫm là trâu nhà Trời, ỉa ra được vàng. Vua Thục tin là thật, lập tức góp một nghìn lính, cử đi năm lực sĩ, lôi kéo trâu đá đi tạo thành đường, tới Tam Mai ở Thành Đô. Tần có được đường đi tới Thục là nhờ công sức của trâu đá. Sau cử Thừa tướng Trương Nghi theo đường trâu đá đánh Thục”.

  Hoa Dương quốc chí - Thục chí lại có truyền thuyết năm cô gái vào đất Thục : “ Thục có năm lực sĩ, dời được núi, nâng được đỉnh vạn cân… Tần Huệ Vương biết vua Thục hiếu sắc, hứa cho năm cô gái đẹp đến Thục. Thục sai năm lực sĩ đi đón, trên đường trở về đến Từ Đổng, thấy một con rắn lớn chui vào trong hang, một người túm lấy đuôi rắn kéo nhưng không được, thế là cả năm người cùng kéo, hò reo kéo rắn, núi đá sụt lở đè chết năm người cũng như năm cô gái nước Tần và những người đi theo. Núi lở và chia thành Ngũ Lĩnh”.)

    Đây có lẽ là lần đầu tiên chi Âu bị Hoa tộc xâm lăng. Chi Lạc thì đã bị Hoa tộc cướp đất từ lâu, mất phần đất Hoàng Hà từ thời Thần Nông (2697 tr.CN. Hiên Viên đánh Xuy Vưu, cướp ngôi, cướp nước của Đế Du Võng). Hoa tộc kể từ đời Tần Thủy Hoàng sẽ còn tiến chiếm chẳng những đất của chi Lạc mà cả của chi Âu để thành lập đế quốc gọi là Trung Hoa hay Trung Quốc, hình thành tộc Hán.

    Chi Âu còn giữ được phần đất ở Vân Nam gọi là Nam Chiếu, lấy thành Đại Lý làm kinh đô nên cũng gọi là nước Đại Lý.

   ( Nước Đại Lý. Vào thế kỷ 2, người Hán bắt đầu dòm ngó vùng Vân Nam, một vùng gồm các giống dân Bách Việt, đa số là người Thái, sống một cách biệt lập. Năm 120, người Hán mở được một đường thông thương sang Ấn qua vùng Cửu Long Thượng (Lan Thương) Salween và Irrawaddy, nhưng chẳng bao lâu sau, các bộ tộc Thái kết tụ lại dần và kiểm soát được thung lũng Thái Hòa (sau này là vùng hồ Đại Lý), nên đường thông thương Hoa-Ấn bị tắc nghẽn. Bẵng đi mấy thế kỷ, tới năm 648, nhà Đường lại tính mở lại đường này, nên đem quân đến chiếm khu vực Thái Hòa. Các bộ tộc Thái lúc ấy đã lập thành 6 tiểu quốc, cùng sát cánh đánh lui được quân Đường.

   Năm 713 (có sách chép 730) thủ lãnh ở miền Nam là Bì La Cáp (Piloko) thống nhất được 6 tiểu  quốc lập ra vương quốc Đại Mông. Đại Mông đổi là Đại Lệ và sau cùng là Đại Lý. Ngày nay thành Thái Hòa, thủ phủ của vương quốc này vẫn còn được gọi là thành Đại Lý (Tali). Thành Thái Hòa tọa lạc ở một vùng hồ có núi bao bọc mặt tây và mặt đông và là cửa ngỏ từ bắc xuống nam dọc theo triền sông. Từ vị trí kiên cố ấy, Đại Lý đã chống đỡ và đánh bại được hai cuộc tấn công cùa quân nhà Đường vào năm 751 và 754.

   Về nguồn gốc tập thể Thái của vương quốc Đại Lý, có người cho là “từ nhóm Bách Việt sinh tụ chủ yếu ở miền nam sông Dương Tử, thiên di theo hướng tây nam vào miền Vân Nam…” vào khoảng thiên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Thật ra thì từ trước, vùng Vân Nam cũng vốn đã có những bộ tộc Bách Việt sống rải rác nhưng chỉ sau khi đế quốc Nam Việt bị Hán thôn tính thì vùng này mới quy tụ đông đảo. Vì người Thái chẳng ai đâu xa lạ, chính là bộ tộc Lý thuộc nhóm Âu Việt ở Quảng Tây trong đế quốc Nam Việt cũ. Họ bỏ quê hương đi vì không chịu sống dưới sự đô hộ của người Hán và cũng bởi thế mới tự xưng là Thái, có nghĩa là tự do, là thoát khỏi. Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam Trích Quái cũng kể lại là sau khi Nam Việt bị nhà Hán thôn tính, một phần dân Nam Việt đã bỏ nước  di cư lập ra nước Nam Chiếu (Đại Lý). Tuy nhiên, trên phần đất cũ vẫn còn nhiều người Lý ở và họ đã đóng góp xương máu vào cuộc khởi nghĩa chống Hán của Hai Bà Trưng. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Triều Biên đã ghi quân Hai Bà tới đâu như gió lướt  tới đó, các bộ tộc Man, bộ tộc Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo.

   Khi quốc gia vững mạnh, Đại Lý liền đem quân sang đánh quân Tàu (nhà Đường) ở Giao Châu. Trận dánh này cũng có quân địa phương nội ứng (Đỗ Trừng, Chu Cổ Đạo) Thủ phủ Đaị La (Hànội) đã hai lần thất thủ. Lần thứ nhất vào năm 860, quan đô hộ nhà Đường là Lý Hộ phải bỏ thành mà chạy về Tàu. Lần thứ hai năm 863, quan đô hộ Thái Tập phải tự tử, tướng nhà Đường là Nguyên Duy Đức bị tử trận. Năm 866, quân Đại Lý ở Giao Châu bị Cao Biền đánh bại hẳn…)

(Phạm Việt Châu, Trăm Việt Trên Đường Định Mệnh)

     Đến thế kỷ 13 (1253) Đại Lý bị tướng Ngột Lương Hợp Thái (Wouleangotai) Mông Cổ đánh chiếm, rồi sau đó bị nhà Minh của Tàu rồi nhà Thanh của Mãn Châu rồi Cộng đảng sáp nhập vào đế quốc Trung Hoa. Những người chi Âu không chịu ách đô hộ của Hoa tộc đã Nam thiên xuống miền Đông Nam Á và tự xưng là Thái, là Tày nghiã là người Tự Do. Trong cuộc Nam thiên này họ đã cất hát bài hành ca bi tráng:   

          Phải đi đường con don, con dím,

          Đường con trâu, con bò lẫn trong rừng.

          Ai có bò, bện thừng mà buộc,

          Ai có trâu làm xẻo mà lôi,

          Ai có con đeo địu, mang nôi…..

              (Trăm Việt trên đường Định mệnh, Trần Việt Châu)

     Và họ đã lập nên nước Thái Lan, nước Lào, vùng tự trị Shan, Karen  ở Miến Điện, vùng Xishuangbanna (12 bản ruộng) ở Vân Nam, vùng Xịp Soong Châu Thái (12 châu Thái) ở Bắc Việt, tỉểu bang Nagaland, Assam ở Ấn Độ….

    Trở lại đất Thục. Tả Truyện chép sau khi bị Tư Mã Thác đem quân Tần chiếm nước Thục thì dân Thục bỏ xứ chạy sang nước Ba rồi tràn vào nước Sở. Dân Thục chạy sang nước Ba nhưng không ở lại đó vì nước Ba cũng đã bị Tần chiếm rồi. Họ nhờ đường nước Ba để sang nước Sở. Nước Sở là địa bàn của Việt tộc nhưng đã Hoa hóa nhiều rồi, bởi thế dân Thục không có ở lại đất Sở mà họ di cư xuống miền Nam, vượt Ngũ Lĩnh xuống Quý Châu.

    Quý Châu cũng là đất cùa người Thái tuy có nhiều người Mèo ở. Đất Quý Châu là đất núi non, khí hậu xấu mà nghèo, nơi “trời không ba ngày sáng, đất không ba thước bằng”  nên họ không ở đó. Họ lại đi xuống nữa đến vùng Quảng Tây. Quảng Tây, Quảng Đông cũng là địa bàn của người Thái sinh sống. Đám người Thục di tản đó ở lại Quảng Tây, ngày xưa gọi là Tây Âu. Có một nơi gọi là Đông Âu, ngày nay là tỉnh Giang Tây cũng là địa bàn của chi Âu tức Thái.

    Cuộc thiên di của người Thục tới Tây Âu (Quảng Tây) hẳn là có vất vả và phải nhiều năm mới tới nơi định cư. Đất Quảng Tây cũng là núi non, ít đồng bằng. Những vùng  ruộng nương thì người trước đã chiếm cả rồi nên dân Thục đến sau đành phải ở nơi triền núi, rừng hoang. Vì dân Thục đến sau nên những người ở trước gọi họ là Khách Trú tức Hakka hay Hecka tức người Hẹ.

    Hakka, Khách Trú, Hẹ

    Nước Tàu luôn luôn có loạn lạc, từ các ông vua ông chúa cướp ngôi của nhau, chiếm đất của nhau đến bọn lục lâm thảo khấu cướp của giết người đốt phá làng mạc. Bởi vậy từng thời, từng lớp người bỏ đi xuống phương Nam lánh nạn. Những lớp người lánh nạn đó đến thì đất đai đã do người địa phương chiếm hết cả rồi, họ phải ở ngụ cư làm công việc lặt vặt, phu phen, có khi làm nghề buôn bán, thày thuôc v.v… Dân địa phương gọi họ là Khách Gia, tiếng Quảng Đông gọi họ là Hạc Cá, người Pháp gọi là Hakkas, người Việt miền Bắc gọi là Khách Trú, người miền Nam gọi trại thành Cắc Chú.

    Khách trú này có nhiều đợt, có nhiều sắc tộc khác nhau. Phần nhiều họ là người phương Bắc gốc Hoa xuống phương Nam là đất của dân Việt nên họ không hòa nhập được, hoặc giả với tánh tự kiêu họ sống riêng rẽ chờ một ngày kia trở về khôi phục ngôi báu hay phục quốc.

    Người Hakkas trong thời hiện đại ở Trung Hoa đã có những người, những gia đình nắm giữ vai trò trọng yếu trong chính trường cũng như tài chánh, như gia đình họ Tống, gốc người Hakkas ở Hải Nam : bà Tống Khánh Linh vợ của Tôn Dật Tiên, quốc phụ Trung Hoa Dân Quốc. Bà Tống Ái Linh, vợ nhà tài phiệt Khổng Tường Hy cháu 75 đời của Khổng Tử, đã chi phối nền tài chánh Trung Hoa. Bà Tống Mỹ Linh, vơ Tưởng Giới Thach, Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc. Họ là ba chị em của gia đình họ Tống, đã khuynh đảo lịch sử  và đời sống của cả dân tộc Trung Hoa cận đại.

    Ông Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew), cựu Thủ tướng Tân Gia Ba là người Hakka. Ông kể lai lịch gia đình ông như sau : “Lịch sử gia đình tôi tại Singapore bắt đầu với ông cố nội tôi, Lee Bok Boon, một người Hakka. Người Hakkas là người Hán miền đồng bằng Hoa Trung và Hoa Bắc di cư đến Fujian (Phúc Kiến), Guangdong (Quảng Đông) và các tỉnh khác ở Hoa nam khoảng 700 đến 1000 năm trước và vì là kẻ đến sau, họ chỉ có thể sống chen chúc trên những mảnh đất đồi kém màu mỡ không có dân địa phương cư ngụ. Theo văn bia trên mộ ông cố ở sau căn nhà của ông tại Trung Quốc, Lee Bok Boon ra đời năm 1846 tại làng Tangxi, quận Dabu, Guangdong. Ông theo tàu di cư sang Singapore…” (Hồi Ký Lý Quang Diệu, Phạm Viêm Phương và Huỳnh Văn Thành dịch)

    Bà Han Suyin (Hàn Tố Anh), một nhà văn viết nhiều truyện trong đó có cuốn “Mùa Hè Vắng Bóng Chim” là người Hakka. Bà viết về gia đình bà như sau :”Giòng họ Tchou của bà (Hansuyin) gốc ở lưu vực Hoàng Hà di cư xuống các tỉnh Phước Kiến, Quảng Đông nhưng tới nơi các miếng đất đã có chủ phải đi làm thuê, lãnh canh, gánh thuê, bán rong, buôn muối lậu, làm giặc, nổi loạn. Vào thế kỷ XI chạy giặc Mông Cổ. Thế kỷ XVII, Tứ Xuyên chống cự xâm lược Mãn Châu, bị tàn sát, một phần bị dịch hạch, hầu như không còn người nào. Nhà Thanh dùng chính sách di dân bắt những người Hakkas lại lập nghiệp ở các vùng hoang vu. Thế kỷ XIX họ tổ chức các đoàn quân Hakkas để dẹp loạn trong miền. Người Hakkas lúc đó rời Quảng Đông mà lên miền Tứ Xuyên Tây Bắc, họ theo những chuyến chở muối đi trên các kinh và những đường mòn trong núi mà bọn buôn lậu vẫn thường dùng. Họ định cư ớ các thung lũng phì nhiêu và cánh đồng Thành Đô, trong đó có Pihsien phì nhiêu, cách Thành Đô 12 km, phong phú, mỗi năm có thể làm hai hoặc ba vụ mùa lúa được”. (Nguyễn Hiến Lê dịch)

    Người Triều Châu cũng gọi là Tiều là dân Hakkas đồng hóa với dân bản địa mà thành.  Gia đình họ Tống vốn là dân Hakkas từ Sơn Tây xuống Hải Nam nay đồng hóa với dân bản địa trở thành Triều Châu.

   Còn người Thục di cư xuống Quảng Tây thì họ cũng ở vào trường hợp như các thứ dân Hakkas khác, tức là họ không có đất để canh tác, họ trở thành khách gia.

    Ông Bình Nguyên Lộc trong “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”, viết về trường hợp dân Thục ở Quảng Tây như sau : “Cách đây không lâu, nhà bác học Trung Hoa, ông La Hương Lâm, có nghiên cứu một nhóm người thiểu số ở Quảng Tây mà người Tàu gọi là khách gia và khám phá ra rằng khách gia đích thị là người Ba Thục di cư xuống nước Tây Âu, sau khi bị Tư Mã Thác diệt quốc… Từ Quảng Tây sang Chợ Lớn, người khách gia, Quảng Đông đọc là Hạc Cá, Pháp gọi là Hakkas, nhưng Nam Việt gọi là Hẹ vì họ tự xưng là Hẹcka, tức là nói tiếng Tàu sai giọng, Hẹcka bị thu lại còn Hẹ”.

    Hakkas, Khách Trú là những đám người chạy loạn từ Hoa Bắc, Hoa Trung xuống Hoa Nam. Họ gồm nhiều chủng tộc khác nhau. Họ có thể là người Hoa của nhà Thương, nhà Chu ở vùng Hoàng Hà. Họ có thể là người Việt ở vùng Dương Tử. Họ là người Thái ở Ba Thục. Họ là người Mán, người Mèo bị người Hoa săn đuổi.

   Theo ông Nguyên Nguyên (Truyền Thuyết Hùng Vương 17- Lạc Long Quân và người Hakka) trên mạng Viendu.com thì  người Hakka  hay là người Hẹ chính là người Cửu Ly hay Cửu Lê hay Bộc Việt phát xuất từ sông Bộc, Sơn Đông. Lãnh tụ của họ là Xuy Vưu bị Hiên Viên tức Hoàng Đế của tộc Hoa đánh bại và họ phân tán đi Triều Tiên và các nhóm xuống miền nam trở thành người Hakka. Người Hoa gọi họ là Cửu Li, Bộc Việt hay Đông Di.

   Hakka là âm của người Quảng Đông gọi họ mà tiếng Việt đọc là Khách Gia. Từ thời cổ người Hoa dùng một từ Luo tức Lạc bộ trãi, từ Luo này phát âm rất giống Hẹ để gọi giống người này (Cửu Lê). Từ Lạc trong Lạc Long Quân cũng phát âm Luo hay Hẹ. Luo = Lạc = Hẹ.

   Từ thời cổ người Hẹ và người Miêu sống gần nhau người Hoa dùng một từ là Lạc bộ trãi tức là Luo (Lạc) hay Hẹ hay Đông Di để gọi họ. Họ gần nhau đến độ có thể Xuy Vưu là nhà lãnh đạo chung cho cả hai nhóm, gọi chung là Cửu Ly (Jiu Li).

   Chỉ có người Việt Nam gọi người Hakka là Hẹ, giống như thời cổ vì người Hẹ là người Lạc Việt.

   “Nhà Lý do Lý Công Uẩn thiết lập (1010) có hậu thuẫn là nhóm người Bộc Việt và Miêu sống tập trung ở bình nguyên sông Hồng. Bởi lý do đó Lý Thái Tổ lập tức dời kinh đô về thành Đại La (Thăng Long), ra khỏi khu vực chủng Thái cổ là  vùng Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) ngày nay. Đặc biệt để ý, vào năm Canh Thìn 1160 vua Lý Anh Tôn cho xây đền thờ Hai Bà Trưng và Thánh Tổ Miêu tộc là Xuy Vưu (Tsiu Yawg) ở phường Bố Cái. Xuy Vưu là lãnh tụ chung cho các nhóm rợ Đông Zi (cũng mang tên Cửu Lê) bao gồm 2 tộc chủ lực Hẹ và Miêu. Xuy Vưu cũng chính là Quốc Tổ của dân Triều Tiên y như Hiên Viên của Hoa tộc và Thần Nông của Thái-Việt cổ. Về sau, khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh thuộc Mân Việt (Phúc Kiến, Triều Châu), triều đại nhà Lý cáo chung. Một nhóm hoàng thân quốc thích họ Lý sợ Trần Thủ Độ truy bắt và tận diệt, lên tàu bôn đào về hướng Sơn Đông-Triều Tiên, nơi chôn nhau cắt rún của tổ tiên họ. Dòng nhà Lý lưu vong đó hãy còn sinh tồn cho đến ngày nay. Có vị làm đến chức tổng thống nước Đại Hàn, tức Nam Triều Tiên. Họ Lý cũng là một họ rất phổ biền trong tộc Miêu-Dao. Sau chính biến Lý-Trần rất nhiều người Việt họ Lý đổi sang họ Nguyễn. Họ Nguyễn nhiều nhất ở người Việt cũng từ lý do đó.

   Ông Nguyên Nguyên kết luận :

 1-      Theo bộ Nhĩ Nhã, do các môn đệ của Khổng Tử soạn, có miêu tả nhóm rợ du mục ở phía bắc nước Tàu, viết theo chữ Lạc với bộ Trãi đặt bên trái. Nhóm rợ này đặc biệt nhuôm răng xâm mình. Cũng theo Nhĩ Nhã, nhóm rợ này còn mang tên Đông Di (hay Bộc Việt) có địa bàn ở sông Bôc thuộc tỉnh Sơn Đông.

2-      Luo (Lạc) phát âm rất giống Hẹ tiếng Việt, có nghĩa “nhóm rợ du mục ở phía bắc nước Tàu”. Người Hakka  tức Khách Gia là nhóm người du mục xuất phát từ bắc nước Tàu có tên gọi tiếng Việt là Hẹ. Chỉ có người Việt gọi đó là người Hẹ.

3-      Do đó người Hẹ chính là người Lạc Việt cổ xuất xứ từ nhóm Đông Zi với địa bàn quanh khu vức Sơn Đông ngày nay. He = Lạc = Luo (Lạc bộ Trãi).

    THỤC VƯƠNG – AN DƯƠNG VƯƠNG.

     Người Ba Thục sống trên vùng cao nguyên có sông Dương Tử chảy qua tưới cho đất thêm màu mỡ. Họ đã tiến bộ, văn minh lắm. “Nước Thục rất văn minh, ít lắm cũng bằng Trung Hoa vào thuở đó và có vài nét, họ hơn hẳn Trung Hoa, vì thuở đó, họ đã biết nghề sơn mài, còn Trung Hoa thì chưa. Món Tương Tàu, thật ra là phát minh của dân Ba Thục. Đất cao nguyên của họ là quê hương của đậu nành, chớ không phải đất Tàu.” (BNL. Sđd)

    Họ sống thanh bình trên sự phồn thịnh của ruộng đất nên có lẽ ít quan tâm đến võ bị, nhất là xung quanh đất nước họ có núi non trùng điệp hiểm trở, tưởng không ai dám vượt qua cướp nước. Thế mà có bọn lăm le rình rập để xâm chiếm. Đó là đám vua quan nhà Tần ở vùng Thiểm Tây đất đai khô cằn luôn tìm cơ hội cướp đất, cướp tài sản kẻ khác. Họ đã bất thần làm sạn đạo để vượt dãy Tần Lĩnh như đoàn thiên binh từ trời rơi xuống khiến quân dân Ba Thục đành thúc thủ mất nước. Đó là năm 316 trước Công Nguyên, đời Tĩnh Vương nhà Chu, chúa nước Tần là Tần Huệ Công, thừa tướng là Trương Nghi, tướng chỉ huy cuộc xâm lăng là Tư Mã Thác.

    Họ Tư Mã này trong nhiều thế kỷ sau, vào đời Tam Quốc, lại một lần nữa xâm chiếm Ba Thục. Đó là Tư Mã Ý, tướng nhà Ngụy đánh chiếm nước Thục của Lưu Bị và Gia Cát Lượng.

    Tư Mã Thác đánh chiếm đất Ba Thục và giết vua Thục cùng hoàng gia và dân chúng Ba Thục. Việc giết vua Thục còn để lại một câu truyện trở thành điển tích của các vua mất nước : Vua Thục bị giặc giết và chiếm nước, chết đi hóa thành chim quốc sáng ngày tối đêm  cứ kêu “quốc quốc” tỏ ý uất hận vì bị giặc cướp mất nước. Sự tích này đã gợi hứng bà huyện Thanh Quan viết thành bài thơ bất hủ :

              …Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

                Thương nhà mỏi miệng cái gia gia…

   Vua Thục và một số quan lại triều đình cũng như hoàng gia bị Tư Mã Thác giết thì cũng có một số hoàng thân quốc thích, binh tướng cùng dân chúng chạy thoát xuống phương Nam, trong đó có thái tử con vua Thục, mới sanh hoặc một bà phi nào đó đang mang thai.

     “Tả Truyện có chép đám di cư tỵ nạn này bị nước Sở đón đánh tại Hồ Nam là đất Nam Sở. Đó là tài liệu cổ nhất về con vua Thục di cư nhưng ít ai để ý tới. Họ chọn đường Hồ Nam cho dễ đi. Nhưng gặp người Tàu lai Việt ở đó là Sở, khác giống, họ bị đánh bật ra, mà dùng con đường khó đi hơn, là đường Quí Châu”. (BNL, sđd)

    Đám di cư Ba Thục này từ Quí Châu xuống Quảng Tây (Tây Âu), được ít lâu thì Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc rồi cho tướng Đồ Thư đem năm mươi vạn (500 ngàn) quân xuống chiếm đất Lĩnh Nam. Đồ Thư chiếm Quảng Đông (Nam Hải) dễ dàng và đặt bản doanh tại Phiên Ngung gần thành phố Quảng Châu ngày nay.

    Đồ Thư tiến đánh Tây Âu tức Quảng Tây ngày nay. Đồ Thư bị dân Tây Âu do Trạch Hu Tống lãnh đạo chống cự mãnh liệt. Trạch Hu Tống bị Đồ Thư giết. Dân Tây Âu mất chủ tướng nhưng không chịu hàng, họ rút vào rừng núi sống cùng cầm thú, đêm ra đánh giặc Tần, ngày rút vào rừng nghỉ ngơi, khiến quân Tần mất tinh thần. Sau quân Tần bị chết nhiều, tướng Đồ Thư bị giết, quân Tần hao tổn tới vài trăm ngàn, phần bị giết, phần vì không chịu được lam sơn chướng khí. Quân Tần phải ngừng lại không tiến đánh Tây Âu nữa mà chỉ thiết lập bộ máy cai trị ở phần đãt đã chiếm được là Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận. Vì quân Tây Âu chống cự mãnh liệt quá, quân Tần không tiến chiếm được, nên vua Tần gọi dân Tây Âu là Lục Lương, có nghĩa là bọn cứng đầu cứng cổ, cho bõ ghét ! Dân Tây Âu này có lẽ là dân tộc Choeng (Tráng) của tỉnh Quảng Tây ngày nay)

    Dân Tây Âu sau khi Trạch Hu Tống bị giết, ai đã đứng ra lãnh đạo cuộc kháng chiến khiến quân Tần phải thất bại, Đồ Thư bị giết ?

    Theo Hoài Nam Tử  thì trong lúc tù trưởng Trạch Hu Tống bị hại, nhóm Tây Âu vô chủ thì người kiệt tuấn được dân Tây Âu cử ra  lãnh đạo công cuộc chống Tần là Thục Phán vào khoảng năm 219 đến 207 trước Công Nguyên.

    Theo đó thì người lãnh đạo cuộc kháng chiến của dân Tây Âu là Thục Phán. Đám vong quốc Ba Thục bị quân Tần chiếm nước, mới xuống định cư ớ Tây Âu chưa được bao lâu thì quân Tần lại theo bén gót đánh phá. Dân Ba Thục đang căm giận mất nước thì nay có dịp mặt đối mặt với kẻ thù, ắt hẳn mọi người đều liều chết cùng dân Tây Âu đánh giết quân Tần. Thục Phán, con của Thục vương vừa mới mất, được dân Ba Thục cử lên nối ngôi (vua lưu vong) và với tinh thần dũng cảm, nhiều mưu mô nên cũng được dân Tây Âu đồng lòng tôn xưng làm thủ lãnh.

    Khi Thục Phán giết được Đồ Thư và làm thiệt mạng đến vài chục vạn quân Tần thì nhà Tần không còn nuôi mộng chiếm Tây Âu nữa. Thục Phán và dân Tây Âu có được một khoảng thời gian nghỉ ngơi.

    Thời gian này, Thục Phán nhớ lại lời trăn trối của cha là Thục Vương, phải trả thù cái nhục bị vua Hùng Vương nước Văn Lang từ chối gả công chúa Mỵ Nương cho. Thục Phán kéo quân qua đánh nước Văn Lang.

    Thủy Kinh Chú viết : “Về sau, con vua nước Thục cầm đầu ba vạn quân, đến diệt Lạc Vương, Lạc Hầu và chế phục tất cả các Lạc Tướng rồi con vua nước Thục tự xưng An Dương Vương. Đó là đất Âu Lạc vậy”.

    Đất Âu Lạc tức là đất của chi Âu và chi Lạc của đại tộc Việt. Chi Âu tức Thái của mẹ Âu Cơ. Chi Lạc của cha Lạc Long Quân. An Dương Vương đặt tên nước là Âu Lạc với tham vọng thống nhất  hai chi Âu và Lạc, kể từ thời mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi và cha Lạc Long đem 50 con xuống biển. Tiếc rằng cuộc họp chưa lâu thì đã bị chia lìa vì Hoa tộc xâm lăng cướp nước !

    Thục Phán đem ba vạn quân đánh Hùng Vương. Thục Phán lấy quân ở đâu mà nhiều thế ? Dân Thục lưu vong tị nạn tính cả đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ chưa chắc đã có được con số đó, nói chi tới quân lính. Chắc là Thục Phán đã mượn quân của Tây Âu để đánh Văn Lang. Khi chiếm được Văn Lang rồi thì Thục Phán không có sáp nhập Tây Âu vào Văn Lang vì từ nay Thục Phán đã có một nước để cai trị, không muốn chiếm nước Tây Âu là nơi đã đãi ngộ Thục Phán và dân Ba Thục lưu vong.

    Về việc Thục Phán đánh chiếm Văn Lang, Toàn Thư  viết : “Vua (Thục Phán) đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Trước kia vua nhiều lần đem quân đánh Hùng Vương, nhưng Hùng Vương binh hùng tướng mạnh, vua bị thua mãi. Hùng Vương bảo vua rằng : “Ta có sức thần, nước Thục không sợ ư ?” Rồi Hùng Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục Vương.”

   Nhưng truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh” lại cho thấy Hùng Vương truyền ngôi cho Thục Phán. Hùng Vương có con gái là Mỵ Nương Ngọc Hoa,  vua muốn kén rể để truyền ngôi báu cho. Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến xin được cưới Mỵ Nương (công chúa Ngọc Hoa). Hùng Vương thách cưới, ai đem đồ xính lễ đến trước sẽ được cưới công chúa. Xính lễ là : Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. (Phan Kế Bính, Nam Hải Dị Nhân) Sơn Tinh là Sơn Thánh Tản Viên đem đồ lễ đến trước được cưới Mỵ Nương. Thục Phán là Thủy Tinh tức giận đem binh đánh Văn Lang. Sơn Thánh Tản Viên coi nhẹ công danh muốn thảnh thơi ngao du sơn thủy, theo gót Chử Đồng Tử tu tiên, nên khuyên Hùng Vương truyền ngôi cho Thục Phán. Thục Phán được truyền ngôi, lấy hiệu An Dương Vương, đặt tên nước Âu Lạc và dựng cột đá thề, nguyện gìn giữ cơ nghiệp và giá trị nền văn hiến Việt tộc. Bia đá ấy đến nay vẫn còn dấu tích tại đền Hùng ở Phú Thọ.

   (Hùng Vương thách cưới thực ra là khảo sát xem ai thấu hiểu bản “Hồng Phạm Cửu Trù” do đức Kinh Dương Vương sáng lập ra để các vị vua thừa kế tuân theo trong việc trị nước. Hống Phạm Cửu Trù có nghĩa là quy tắc của họ Hồng Bàng có 9 phạm trù phải tuân theo trong việc trị nước, nói theo ngày nay đó là bản Hiến Pháp đầu tiên của Đại Tộc Việt.

  Voi chín ngà : Trù thứ nhất nói về Âm Dương Ngũ Hành : Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, 5 hành cộng với 4 trạng thái tương tác là Tương Sinh, Tương Khắc, Tương Thân, Tương Cụ, cộng chung là 9 .

  Gà chín cựa : Trù thứ 7 nói về Kê  Nghi : Trong việc trị nước, khi có hồ nghi không quyết định được thì hỏi ý kiến của quan, dân, nếu còn do dự thì xin ý trời  bằng bói toán dựa theo Kinh Dịch.

  Ngựa chín hồng mao : Ngựa là phương tiện chiến tranh, lúc thái bình phải chuẩn bị chiến tranh, không được ỷ lại ăn chơi mất cảnh giác. Tất cả đều đưa ra con số 9 có ý nói Hồng Phạm Cửu Trù có 9 trù tất cả.

  Hồng Phạm Cửu Trù được cháu đức Khổng Tử  chép lại trong Kinh Thư và gán cho vua Đại Vũ đi trị thủy ở sông Lạc thấy rùa nổi lên có vòng đen trắng gọi là Lạc Thư mà làm ra. Lạc thư là sách của dân Lạc Việt, nếu vua Đại Vũ có chép lại thì cũng là sao lại của đức Kinh Dương Vương thủy Tổ họ Hồng Bàng. Hồng Phạm Cửu Trù là Chín Phạm Trù của họ Hồng Bàng lập ra cho con cháu tuân theo trong vịệc cai tri đất nước.

  An Dương Vương đã không giữ được nước để mất vào tay Triệu Đà của tộc Hoa. An Dương Vương chạy ra biển được thần Kim Quy đưa xuống thủy cung. Kim Quy là Rùa Vàng. Rùa có liên hệ mật thiết với dân Lạc Việt: căn cứ vào các dấu hiệu trên lưng rùa mà làm ra Hồng Phạm Cửu Trù, Quy Lịch được khắc trên lưng rùa, Mu rùa dùng vào việc bói tóan, Rùa vàng đả giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, Rùa thần lại đưa An Dương Vương vể thủy cung. Từ khi An Dương Vương đứng trên lưng rùa xuống biển thì nền Văn Hiến Lạc Vịệt cũng khép lại để ngàn năm bị đô hộ, bản quyền Văn Hiến bị kẻ thống trị cướp mất.)

     Thành CỔ LOA

   Thục Phán chiếm Văn Lang rồi đổii tên nước là Âu Lạc, xưng vương hiệu là An Dương Vương, xây thành Cổ Loa làm kinh đô. Thành Cổ Loa lại có tên là Trung Quy thành, người nhà Đường gọi là Côn Lôn thành, có ý nói thành ấy rất cao (so sánh với núi Côn Lôn ở vùng Tây Tạng – Tân Cương).

   “Thành Cổ Loa ở làng Cổ Loa (Phúc Yên), cách Hà Nội độ 15 km về phía Bắc. Tục truyền rằng nhà vua xây thành nhiều lần không xong, sau có thần Kim Quy hiện lên giúp mới hoàn tất.

   Thành xây hình con ốc nên gọi là Loa thành. Theo vết tích còn để lại thì thành ngoài hình bầu dục, bề dài 2,8 km, bề rộng 2 km, chu vi độ 8 km. Thành giữa hình đa giác, chỗ lồi chỗ lõm. Thành trong hình chữ nhật bề dài 500 mét, bề rộng 350 mét, chu vi độ 1,7 km.

   Chân thành xây bằng đá tảng lớn, có tảng to bằng mặt bàn. Thành đắp bằng đất, phía chân dầy từ 20 mét đến 39 mét. Người ta đoán rằng thành có thể cao đến 4,5 mét, mặt thành rộng đến 12 mét.

   Ngoài thành là hào sâu. Hào này thông với các sông chẩy chung quanh nên lúc nào cũng có nước.

   Trong thành còn nhiều vết tích của thời An Dương Vương như giếng Ngọc (giếng Trọng Thủy), mộ Mỵ Châu, đền An Dương Vương, gò diễn binh v.v…

   Đặc điểm của thành Cổ Loa là bố trí rất khéo để việc phòng thủ được dễ dàng :

   1- Chung quanh thành có nhiều vực sâu, đầm lớn như vực Dê, vực Tó, đầm Cả, đầm dài chứng tỏ rằng nhiều ngàn năm trước đây thành đắp giữa một vùng đầm lầy. Do đó mới có tích thành xây lên và bị đổ nhiều lần.

   2- Các cửa thành ngoài, giữa và trong, không nằm trên một đường thẳng. Đường nối giữa các cửa thành là đường quanh co, hai bên có các ụ phòng thủ.

   3- Trong thành có 18 ụ cao đắp nhô ra khỏi chân thành vài chục mét khiến cho thành trông như hình con nhím, trên đó các xạ thủ nỏ thần có lợi thế để tiêu diệt địch trước khi chúng tiến lại gần chân thành. (Nguyễn Khắc Ngữ, Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam)

   Nơi  An Dương Vương xây thành Cổ Loa là vùng đất đầm lầy lại chưa phát minh ra gạch mà chỉ dùng đất đắp lên nên dễ bỉ sạt lở. Sau có xứ giả Thanh Giang là thần Kim Quy chỉ cho cách đặt móng thành bằng đá cho vững để khỏi bị đất trùi nên công việc xây thành mới xong. Xứ giả Thanh Giang Kim Quy này có lẽ là một nhân vật thuộc tộc Môn. Người Môn vốn là dân rất giỏi về xây cất, thời đó họ đã lập quốc ở vùng Miến Điện và Thái Lan ngày nay, tên nước là Dvaraveti, kinh đô là Lavo, phía bắc vịnh Thái Lan. Nước người Môn này sau bị người Khmer từ vùng Tây Tạng tràn xuống chinh phục. Chính những thợ người Môn đã xây cất đền Angkor Wath, Angkor Thom cho người Campu chia.

   Dọc theo bờ biển Nghệ An, Thanh Hóa có dấu tích huyền thoại An Dương Vương, Mỵ Châu, Trọng Thủy, thần Kim Quy. Tại Nghi Sơn, Nghệ An có đền Cuông thờ An Dương Vương và truyền thuyết nói An Dương Vương chạy đến đây thì chém Mỵ Châu rồi theo thần Kim Quy xuống thủy cung. Tại Biện Sơn, Tĩnh Gia, Thanh Hóa có Giếng Ngọc nơi Trọng Thủy tự trầm. Theo dấu vết đó, ta có thể cho rằng Thanh Giang sứ giả Kim Quy đã đến nước Âu Lạc từ bờ biển Thanh-Nghệ và ngoài công trình xây thành Cổ Loa lại còn xây nhiều công trình khác dọc bờ biển Âu Lạc.

   An Dương Vương lại được thần Kim Quy cho móng làm lẫy nỏ bắn một phát ra hằng trăm mủi tên khiến Triệu Đà phải lui binh và cho Trọng Thủy sang Âu Lạc làm con tin.

   Thời đó có hai loại võ khí lợi hại là cung và nỏ. Cung là thanh tre hay gỗ uống cong buộc giây hai đầu để bắn tên. Nỏ hay Ná là thứ vũ khí có cán bằng gỗ xẻ rảnh để lắp tên, cánh nỏ bằng tre có giây hai đầu kéo vào để trên lẫy nỏ rồi bật lẫy cho tên bay đi. Thứ nỏ này còn thông dụng ở các dân tộc miền núi Việt Nam, dùng để săn bắn chim muông.

   Ông Cao Lỗ (Ông Nỏ) là người sáng chế ra nỏ, đã giúp An Dương Vương đánh lui quân Triệu Đà và trước đó đánh lui quân Tần, giết Đồ Thư.

   Triệu Đà cho con là Trọng Thủy sang làm con tin và được An Dương Vương gả con gái là Mỵ Châu cho. Ông Cao Lỗ thấy mưu gian của Triêu Đà có ý dùng nội gián để phá thế trận của quân Âu Lạc nên can gián An Dương Vương không nên gả con gái cho Trọng Thủy. An Dương Vương không nghe lại còn giết chêt Cao Lỗ. Võ khí lợi hại là nỏ mất người điều khiển, lại bị Trọng Thủy phá lẫy nỏ, khi hữu sự đem bắn thì lẫy bị gẫy. Triệu Đà tiến đánh, An Dương Vương mất nước.

   Ngày nay người ta đào được tại Cổ Loa hàng ngàn mủi tên đồng. Có lẽ tên được bịt bằng đồng đã bắn thủng áo giáp của lính Triệu Đà. Các ụ phòng ngự ở thành Cổ Loa được lắp đặt các cổ nỏ khổng lồ có thể bắn ra hàng loạt các tên được bịt đồng và bắn đi rất xa làm chết rất nhiều lính Triệu Đà, chận đứng cuộc xâm lăng.

   THỤC PHÁN AN DƯƠNG VƯƠNG HỌ GÌ ?

    Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết rằng “An Dương Vương tên Phán, họ Thục”.

    Nhiều người không tin An Dương Vương họ Thục. Ông Bình Nguyên Lộc viết : “Ông vua Thục lưu vong nầy chết đi, có thể để lại một đứa con trai, có thể quả tên là Phán, như Ngô Sĩ Liên đã chép, nhưng không phải họ Thục như họ Ngô đã lầm”.

    Nói Thục Vương hay vua Thục không có nghĩa là ông vua ấy họ Thục mà chỉ có nghĩa đơn thuần là ông vua nước Thục. Các ông vua nhà Hán không phải họ Hán mà là họ Lưu, Lưu Bang. Ông vua nhà Minh không phải họ Minh mà là họ Chu, Chu Nguyên Chương. Đa số các ông vua Tàu đều đặt tên triều đại khác với họ thật. Cũng như họ viết về ông vua của dân Lạc Việt là Lạc vương, không có nghĩa là ông vua ấy họ Lạc hay hiệu Lạc Vương mà là ông vua của dân Lạc Việt hiệu Hùng Vương, họ Hồng Bàng.

    Vua Thục cũng vậy. Thục là tên nước không phải họ nhà vua. Vậy vua Thục họ gì ? Sử Tàu, sử ta đều không nói đến.

    Tuy nhiên “Sách Hoa Dương Quốc Chí  chép : Vua Đỗ Vũ nước Thục mất nước chết hóa ra chim Đỗ Quyên. Chim Đỗ Quyên hay là Đỗ Vũ là con chim giống chim ô hộ, Tu hú thường kêu suốt ngày đêm”. ( Cung Oán Ngâm Khúc, Vân Bình Tôn Thất Lương chú giải )

               Chim quyên xuống đất ăn trùng,

               Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than !

    Tự điển Lê Văn Đức cắt nghĩa chim quyên là con cuốc trong điển tích vua Thục mất nước hóa ra chim Đỗ Quyên. Bà Huyện Thanh Quan làm thơ tả con chim Quyên kêu cuốc cuốc để tỏ lòng nhớ nước. Ông Bình Nguyên Lộc nói chim Quyên là totem của dân Ba Thục. Ông cho rằng một vài người Mường ngày nay là hậu duệ của An Dương Vương vì họ thờ vật tổ là chim quyên.

   (Ông Vân Bình Tôn Thất Lương cho chim quyên là giống chim ô hộ, tu hú. Tu hú là giống chim không biết làm tổ, chuyên môn đẻ trứng trong ổ quạ, “nuôi như quạ nuôi tu hú”. Tự điển Lên Văn Đức cắt nghĩa con cuốc hay quốc cũng gọi là quấc là giống chim hễ mùa hè thì lìa rừng xuống đồng kiếm ăn. Bà Huyện Thanh Quan gọi chim quyên là con cuốc “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc”. Con cuốc hay quốc thật ra là con gì ? Ông Nguyễn Xuân Quang trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sứ Hừng Việt cho “chim cuốc họ nhà gà, Việt ngữ cũng cho biết con cuốc giống con gà qua câu ví “trông gà hóa cuốc”.Nhưng cuốc sống ờ bờ nước nên là loài gà nước đúng như tiếng bình dân Anh ngữ gọi là Water-hen (gà nước) (…) có đặc tính là chân dài, ngón rất dài để có thế đi trên mặt lá cây ở mặt nước nhưng mỏ rất ngắn. Cuốc liên hệ với Anh ngữ “coot”, một loài chim cùng họ với cuốc; “common coot”  là chim cuốc.”)

    Chim Quyên tức Đỗ Quyên hay Đỗ Vũ, là do ông vua nước Thục mất nước uất ức chết hóa thành, tối ngày sáng đêm kêu quốc quốc. Con chim đó dân ta gọi là chim cuốc.

    Vua Thục Đỗ Vũ hay Đỗ Quyên mất nước bị giết đó có phải là ông vua bị Tư Mã Thác nhà Tần giết khi xâm chiếm nước Thục không ? Nếu đúng thì Thục Phán An Dương Vương là hậu duệ phải mang họ Đỗ. An Dương Vương, họ Đỗ, tên Phán.

   An Dương Vương chém  Mỵ Châu rồi được thần Kim Quy dâng sừng tê bảy tấc mà rẽ nước xuống thủy cung. An Dương Vương có con trai nối dòng không hay chỉ có mình con gái Mỵ Châu ?

   Sau khi diệt An Dương Vương chiếm nước Âu Lạc rồi thì Triệu Đà vẫn cho các Lạc Tướng cai trị phần đất của mình dưới sự giám sát của các điền sứ do ông ta phái qua. Tại vùng Tây Vu gồm các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Phú Thọ mà trung tâm là Cổ Loa, có một tiểu vương cai trị gọi là Tây Vu Vương. Ông Tây Vu Vương này có lẽ là con hoặc cháu của An Dương Vương mà Triệu Đà nghĩ tình suôi gia vả lại thấy An Dương Vương và con dâu là Mỵ Châu chết một cách thảm thương nên tha chết cho con cháu và ban cho một vùng để hưởng lộc. Khi Triệu Đà bị Lộ Bác Đức nhà Hán diệt thì Tây Vu Vương định nổi loạn chống cự nhưng bị tùy tướng là Hoàng Đổng giết. Hoàng Đổng này là người Hán do Triệu Đà  gài để kiểm soát Tây Vu Vương. Vì ông này có công nên được nhà Hán thưởng, có ghi trong biểu Công thần trong Hán Thư, vì vậy ta mới biết sự kiện lịch sử này.

   Sau vụ Tây Vu Vương bị giết, hẳn là con cháu dòng họ An Dương Vương cũng bị hại nhiều, ai còn sống sót cũng bị tứ tán phân ly.

   Dòng họ Đỗ ở Việt Nam có quan hệ huyết thống gì với An Dương Vương không ?*