Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng
 

                         

CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA HAI BÀ TRƯNG

                                                         ĐỖ HUY

 

    Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim viết về Hai Bà Trưng như sau : “Năm Giáp Ngọ (34) vua Hán Quang Vũ sai Tô Định sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo nguợc, chính trị tàn ác, người Giao Chỉ đã có lòng oán giận lắm. Năm Canh Tý (40) ngưởi ấy lại giết Thi Sách, ngưởi ở quận Châu Diên.

  “Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, con gái quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh cùng em gái là Trưng Nhị nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải.

  Lúc bấy giờ những quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng nỗi lên theo về với Hai Bà Trưng. Chẳng bao lâu quân Hai Bà hạ đựoc 65 thành trì. Hai Bà bèn tự xưng làm vua, đóng dộ ở Mê Linh là chỗ quê nhà.

  Năm Tân Sửu (41) vua Quang Vũ sai Mã Viện làm Phục Ba tướng quân sang đánh Trưng Vương. Mã Viện là một danh tướng nhà Đông Hán, đem quân đi men bể, phá rừng đào núi làm đường sang đến Lãng Bạc gặp quân Trưng Vương, hai bên đánh nhau mấy trận. Quân của Trưng Vương là quân ô hợp không đương nổi quân của Mã Viện. Hai Bà rút về Cẩm Khê, Mã Viện tiến quân lên đánh, quân Hai Bà tan vỡ cả. Hai Bà chạy đến xã Hát Môn, thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát Giang mà tử tận. Bấy giờ là mồng 6 tháng 3 năm Quý Mão (43).” VNSL, Trần Trọng Kim.

  Khi Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức đánh chiếm Nam Việt thì nước ta cũng bị đô hộ từ đó, cho đến khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa là được 150 năm (111 tr.CN-40 dl.). Trong 150 bị đô hộ, dân Việt của nước Nam Việt tức là Lĩnh Nam, ngày nay là tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam đã phải chịu biết bao khổ cực, bóc lột, tù đầy, chém giết của bọn Thái thú tàn bạo.

  Các tài liệu viết về Hai Bà Trưng rất ít. Sử ta cũng chỉ dựa theo các tài liệu cùa Tàu mà viết theo nên truyện Hai Bà rất hạn chế. Chúng ta thử tìm hiểu tiểu sử Hai Bà và cuộc khởi nghĩa của Hai Bà dựa theo các tài liệu trong dân gian và các thần phả ở các đền thờ Hai Bà và các tướng của Hai Bà, củng các tài liệu ngoại sử cùa Tàu và ngoại quốc.

  TRƯNG TRẮC, TRƯNG NHỊ.

  Theo thần phả làng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên thì sinh quán Hai Bà ở tại Hạ Lôi. Hạ Lôi thời Hai Bà Trưng có tên là Cổ Lai, thuộc huyện Mê Linh. Lạc tướng họ Trưng giữ chức huyện lệnh Mê Linh, hai tiểu thơ song sinh ra đời tại đây, đó là ngày 1 tháng 8 năm Giáp Tuất (năm 14 Dương Lịch). Nguyên quán của Lạc tướng họ Trưng lại là làng Lâu Thượng thuộc Châu Phong. Nguyên phu nhân của Lạc tướng họ Trưng làm nghề nuôi tằm, ươm tơ, người làm nghề này vẫn gọi kẻn dày là kén chắc, kén mỏng là là kén nhì, nên phu nhân đặt tên cho hai cô con gái song sinh là Chắc và Nhì. Tên Hai Bà về sau bị người Tàu viết chệch ra thành Trắc và Nhị để phỉ báng can tội đánh đuổi quân Tàu đi là phản trắc và nhị tâm. Mẹ của Hai Bà Trưng thuộc dòng dõi vua Hùng nên Hai Bà là cháu ngoại cùa Hùng Vương.

  Theo thần phả ở đền Đồng Nhân thì Bà Trưng Trắc sinh năm Ất Hợi (15 dl.) và Bà Trưng Nhị nhỏ hơn 5 tuổi (20 dl.). Làng Đồng Nhân là nơi thờ tượng Hai Bà. Thần phả làng Đồng Nhân kể rằng, khi Hai Bà nhảy xuống sông Hát tự trầm thì biến thành đá trôi về địa phận bãi Đồng Nhân, dân chúng lập đền thờ Hai Bà ngay trên bãi sông, sau đê vỡ nước to nên di vào trong đê là nơi có đền ngày nay. Làng Đồng Nhân ở ngay sát Hà Nội về phía nam.

  Xã Hát Môn thuộc tỉnh Sơn Tây, nơi Hai Bà trầm mình ngay bên bờ Hát giang cũng có đền thờ Hai Bà gọi là Miếu Hát. Vậy theo thần phả làng Hạ Lôi thì Hai Bà song sinh vào năm 14 dương lịch, năm trầm mình trên sông Hát là năm 43, như thế Hai Bà thọ 28 tuổi. Còn theo thần phả làng Đồng Nhân thì Bà Trưng Trắc sinh năm 15 và Bà Trưng Nhị sinh năm 20.

  Theo cổ sử thỉ quê Hai Bà ở Mê Linh. Mê Linh ở đâu ? Mê Linh nghĩa là gì ? Theo ông Trần Quốc Vượng giải thích : “ Một dải sông Hồng, từ cửa Lấp sông Cà Lồ đến bến phà Chèm. Một dải sông Cà Lồ, bao quanh huyện từ tây sang bắc, sang đông, chừa lại một mủi nhọn, đâm nhô vào miền đồi gò Xuân Hòa, qua hồ Đại Lải tới miền rừng núi Ngọc Thành dưới chân núi Tam Đảo, nơi cư trú của đồng bào Trại (dân tộc Sán Dìu)… Hôm qua đó là đất đai Yên Lãng và một phần Kim Anh của tỉnh Phúc Yên rồi Vĩnh Phúc và Vĩnh Phú. Ngày xưa đó là phần cực nam của đất Văn Lang, bảo hộ nhà Hùng. Đến đời Hai Bà Trưng, người tự xưng là cháu ngoại vua Hùng là mục đích của cả đời mình là dựng lại nghiệp xưa họ Hùng, thì đó đất đai của bộ, rồi của huyện Mê Linh. Để rồi với biến thiên của lịch sử còn mang tên Gia Minh thời Lý Nam Đế rồi Minh Lãng, Yên Lãng thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn…để ngày nay trở về cội nguồn với Mê Linh.”

  Ông Vượng liên hệ các địa danh Văn Lang, Mê Linh, Gia Linh, Yên Lãng với “cái từ cổ Việt lấp láy Bling – Blang, Mling - Mlang, chỉ một loài chim : chim Bling của Tây Nguyên hay chim Kláng, chim Tráng của người Mường.” (Trần Đình Vượng, Theo Dòng Lịch Sử, nxb Văn Hóa, Hà Nội)

  Ông Nguyễn Xuân Quang cho chim Mling, Bling là chim Bổ cắt, hợp với chim biểu Lang, Chàng của Hùng Vương, hợp với truyền thuyết Bà Trưng là cháu chắt bên ngoại cùa Hùng Vương. (Nguyễn Xuân Quang, Khai Quật Cổ Sử Hừng Việt)

  Ông  THI SÁCH.

  Các sử gia của ta đều viết chồng Bà Trưng Trắc là Thi Sách. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết :“Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên”.

  Toàn Thư đã dựa vào “Chú thích bộ Hậu Hán Thư” của Thái tử Lý Hiền đời nhà Đường đã chú thích về Hai Bà Trưng của “Thủy Kinh Chú” rằng : “ Trưng Trắc giả, Mê Linh huyện Lạc tướng chi nữ dã, giá vị Châu Diên nhân Thi Sách thê, thậm hùng dũng”. (nghĩa là : Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh được gả làm vợ một người huyện Châu Diên là Thi Sách, bà rất hùng dũng)

  Tác giả “Thủy Kinh Chú” là Lệ Đạo Nguyên. Lệ Đạo Nguyên vào thế kỷ thứ 6 đã du lịch sang Giao Chỉ đến thăm vùng Mê Linh thu thập tài liệu, khi về nước ông viết sách “Thủy Kinh Chú” nói về Hai Bà Trưng và chồng bà Trưng như sau “ …Châu Diên Lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê. Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc, Mã Viện tương binh thảo, Trắc Thi tẩu nhập Cẩm Khê…” (nghĩa là : Con trai của lạc tướng Châu Diên tên là Thi hỏi [sách] con gái lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ…[Bà] Trắc là người can đảm, cùng [ông]Thi nổi dậy làm giặc, Mã Viện đem quân đánh, [ông bà] Trắc Thi chạy vào Cẩm Khê…)

  Còn “Hậu Hán Thư” thỉ chỉ nói hai chị em bà Trưng khởi nghĩa chiếm hơn 60 thành trì ở Lĩnh Nam mà không nói đến chồng Bà Trưng Trắc.

  Vậy đúng ra tên chồng bà Trưng Trắc là Thi chứ không phài là Thi Sách. “Sách thê” có nghiã là cưới vợ (sách lập là lễ lập hoàng hậu). Thủy Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên viết rõ : “Châu Diên lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê” nghĩa là con trai của Lạc tướng Châu Diên tên là Thi hỏi [sách] con gái lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ… Chỉ tại ông thái tử Lý Hiền chú thích Hậu Hán Thư viết : “Trưng Trắc giả, Mê Linh huyện, lạc tướng chi nữ dã, giá vi Châu Diên nhân Thi Sách thê, thậm hùng dũng” nghĩa là con gái lạc tướng huyện Mê Linh được gả làm vợ một người huyện Châu Diên là Thi Sách, bà rất hùng dũng. Và các sử gia của ta theo đó cũng gọi chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách.

  Các sử gia của ta cũng nói rằng ông Thi [Sách] bị Tô Định giết nên Bà Trưng cùng em nổi lên đánh đuổi Tô Định để báo thù chống.

  Nhưng theo ông Lệ Đạo Nguyên trong “Thủy Kinh Chú” thì chồng bà Trưng Trắc không bị giết mà cùng bà khởi nghĩa. Ông viết : “Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc, Mã Viện tương binh thảo, Trắc Thi tẩu nhập Cẩm Khê”. Nghĩa là [Bà] Trắc là người can đảm cùng ông Thi nổi dậy làm giặc, Mã Viện đem quân sang đánh, [ông bà] Trắc Thi chạy vào Cẩm Khê.

  Theo đó thì Ông Thi [Sách] chồng Bà Trưng Trắc không hề chết vì bị Tô Định giết mà hai Ông Bà Thi và Trắc cùng khởi nghĩa và khi Mã Viện đem quân đánh thì hai Ông Bà chạy vào Cẩm Khê.

Cẩm Khê là vùng tỉnh Sơn Tây ngày nay.

  Tại sao sử gia ta lại viết ông Thi[Sách] bị giết ? Ông Trần Gia Phụng trong bài viết “Hai Bà Trưng khởi Nghĩa” đã giải thích như sau : “…Một tài liệu khác đã giải thích vì sao chồng Bà Trưng bị khai tử trong khi ông vẫn còn sống và cùng vợ khởi nghĩa. Đó là quyển The Birth of Vietnam (Việt Nam khai sinh) của tác giả K.W. Taylor. Trong sách này tác giả Taylor cho rằng do thành kiến trọng nam, các nhà viết sử người Việt của những thế kỷ sau thời Hai Bà Trưng không thể chấp nhận truyện một người phụ nữ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và trở thành vua trong khi ông chồng vẫn còn sống, nên họ đã viết rằng Tô Định đã giết chồng Bà Trưng. Trong khi đó, cũng theo Taylor, những tài liệu Trung Hoa cho thấy rằng ôngThi đã theo Bà Trưng khởi nghĩa.”

  Các tài liệu Trung Hoa, trong đó có quyển Thủy Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên viết : “Con trai của Lạc tướng Châu Diên tên là Thi hỏi con gái Lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ.. Bà Trắc là người can đảm, cùng ông Thi nổi dậy làm giặc, Mã Viện đem quân đánh, ông bà Trắc Thi chạy vào Cẩm Khê…”

  Nếu chồng Bà Trưng không chết mà cùng Bà khởi nghĩa thì tại sao Bà Trưng làm vua mà ông Thi, chồng Bà Trưng thì không ? Chúng ta sẽ bàn chuyện đó ở mục “Nguyên Do Cuộc Khởi Nghĩa Của Bai Bà Trưng”.

  MÃ VIỆN.

  Người được Hán Quang Vũ sai đi đánh Hai Bà Trưng là Mã Viện. Mã Viện là một vị tướng giỏi đã từng phò trợ Hán Quang Vũ, lập được nhiều công lớn “lảm cỏ nước Tiên Lĩnh, phá tan dất Tham Lang” (Ngô Thời Sĩ, Việt Sử Tiêu Án). Khi đã về già, được 70 tuổi thì ở Lĩnh Nam Hai Bà Trưng nổi lên đánh đuổi Tô Định, xưng vương. Quang Vũ phải vời Mã Viện ra cầm quân và phong cho tước “Phục Ba Tướng Quân”. Chinh phụ ngâm có viết : Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử,

                          Tới Man khê bàn sự Phục Ba.

  Phục Ba đây chỉ Mã Viện, tướng đã từng tiến đánh các dân tộc thiểu số ở Vân Nam, đó là nước Đại Lý, Nam Chiếu của dân tộc Thái, của người Miêu (Hmong) ở Hồ Nam, Quý Châu. Tước Phục Ba cũng đã được Hán Vũ Đế phong cho Lộ Bác Đức khi tướng này đem quân đánh nước Nam Việt.

  Mã Viện đánh thắng Hai Bà Trưng rồi, thấy đất Giao Chỉ có nhiều đồng, nào trống đồng, thạp đồng, nồi đồng, chiêng cồng cũng bằng đồng bèn trưng thu các đồ đồng đem đúc “đồng trụ” cắm ở ranh giới và đưa ra câu thề : “Đổng trụ chiết Giao Chỉ diệt” nghĩa là Cột đồng mà gãy thì xứ Giao Chỉ bị diệt. Dân ta vì thế  ai đi qua cũng bỏ vào một cục đá cho đồng trụ khỏi bị gãy. Nay thì đồng trụ đó không biết ở đâu. Có thuyết cho rằng đồng trụ đó ở Hợp Phố, nơi có đồi cỏ “Phân Mao, cỏ rẽ”, cỏ nơi đây một phía quay đầu về phương Bắc, một phía quay đầu về phương Nam, coi như đây là ranh giới Nam Bắc, ngày nay do sự xâm lấn của Bắc phương đồi cỏ và quận Hợp Phố đã bị Tàu xâm chiếm.

  Ông Lê Quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ viết : “Sách Thủy Kinh Chú nói Mã Văn Uyên (Mã Viện) dựng cây nêu bằng kim loại (kim tiêu) để đánh dấu giới han cực Nam (của Trung Quốc). Nêu ấy gọi là Kim tiêu tức cột đồng”….”cách Khâm Châu hơn 300 dặm có Phân mao lĩnh (núi cỏ mọc rẽ đôi hàng), lưng chừng núi ấy có cột đồng trụ lớn hơn 2 thước, không biết ai dựng”. 

  Lại có thuyết nói Mã Viện dựng đồng trụ ở ranh giới Lâm Ấp, ông Lê Quý Đôn lại dẫn sách Thông Giám chép : “Đời Tùy, Lưu Phương đi đánh Lâm ấp vượt sông Chà lệ, phá tan quân Lâm ấp, rồi đuổi quân Lâm ấp quá chỗ Mã Viện dựng cột đồng” …Đỗ Hựu nói : “Về phía nam Lâm ấp, vừa thủy bộ, đi hơn 2.000 dặm, có nước Tây Đồ Di là nơi Mã Viện dựng hai cột đồng để nêu rõ địa giới..”….Tống Bạch nói : “Mã Viện đánh Giao Chỉ đi từ Nhật Nam, đi về phía Nam hơn 400 dặm đến Lâm ấp, lại đi về phía nam hơn 200 dặm đến Tây Đồ Di. Viện đến đấy đúc và dựng ba cột đồng ở biên giới Tượng Lâm để phân biệt địa giới với nước Tây Đồ Di. Kể tử Giao Chỉ đến chỗ cột đồng trụ là 5.000 dặm.”

  Sẵn đồng cướp được của dân Giao Chỉ, “Mã Viện đúc tượng mình (Mã Viện), một tay cầm gươm, một tay nắm tóc Bà Trưng để tại Liễu Châu”. (Toan Ánh, Hội Hè Đình Đám)

  Vì bị Mã Viện lấy đồng để đúc khí giới, trụ đồng nên dân Giao Chỉ đã phải chôn dấu các đồ đồng, trống đồng suốt ngàn năm đô hộ, cho mãi đến hai ngàn năm sau, các nhà khảo cổ mới đào thấy các trống đồng, tìm lại nền văn minh Đông Sơn hùng tráng của dân tộc ta.

  Sử ta chấm dứt nói về Mã Viện đánh Hai Bà Trưng khi đuổi theo tướng Đô Dương tới huyện Cự Phong thuộc Cửu Chân (Thanh Hóa), buộc Đô Dương phải đầu hàng. Nhưng truyện Mã Viện đánh Lỉnh Nam chưa chấm dứt ở đây mà Hậu Hán Thư lại viết tiếp: Mã Viện “bình định Tây Đồ Di”. Tây Đồ Di ở đâu ? Theo ông Bình Nguyên Lộc trong cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” thì Tây Đồ Di là nước của người Chàm nằm ở vùng Quảng Nam.

  Cũng theo ông Bình Nguyên Lộc thì Mã Viện ngoài việc đánh Hai Bà Trưng còn có một sứ mạng khác rất bí mật, bí mật quốc gia, là đi tìm mỏ Đơn sa. Đơn sa (cát đỏ) y giới gọi là Châu sa, Thần sa dùng để trị bệnh. Chất đơn sa rất cần cho việc luyện Kim đơn (alchemy, alchimie). Nước Tàu không có châu sa, cứ phải xuống phương nam tìm mua của người Chàm qua trung gian của dân Giao Chỉ. Nay Mã Viện muốn chiếm đoạt mỏ đơn sa.

  Mã Viện đã tìm thấy mỏ Đơn sa ở Cù lao Chàm và ông ta đã để lại một toán lính để khai thác mà  sử gọi là để giữ đổng trụ (đồng trụ chiết Giao chỉ diệt). Đến đời nhà Tấn thì đám lính này lấy vợ bản xứ sinh con đẻ cháu đông được 4 động tức 4 làng. (Hậu Hán Thư, thiên Địa lý)

  Lại có một tài liệu khác nói về Mã Viện lúc trở về Tàu và bị thất sủng. Ông Trương Nhân Tuấn trong tài liệu “Tìm hiểu về Ải Nam Quan qua một vài tài liệu nước ngoài” trích nhật ký “Lộ trình từ Hà Nội qua ngã Lạng Sơn, Quảng Tây, sông Tây giang để đến Canton năm 1837 của Tsai Tin Lang” :

  “…Ngày 20, sau khi đi được 13 lý, ông Tsai đến Quỷ Môn Quan. Truyền thuyết của dân địa phương cho rằng mười người đi vào cửa Quỷ Môn Quan thì chỉ có một người ra.. Dân chúng tin rằng ngày nay tại đó vẫn còn một khu chợ ma. Các hồn ma đêm hôm tụ họp ở đó để mua bán, người nào đến quấy rầy họ thì sẽ bị trù mà sinh bệnh. Ông Tsai ngừng chân tạm nghỉ dưới tường của Quỷ Môn Quan, nhưng thình lình cả người ông run lên bần bật, tóc trên dầu dựng đứng, ông Tsai phải vội vả đứng dậy.

  Kế bên Quỷ Môn Quan là  đền thờ Phuc Ba, biệt danh của tướng Mã Viện. Viên tướng này cầm quân xâm chiếm Giao Chỉ vào năm 41. Tất cả các viên quan triều đình đi qua đền thờ nổi tiếng này đều vào đề thắp nhang khấn vái. Phía ngoài đền có loại lương thào Y dze (ý dĩ, bobo) mọc. Loại lương thào bo bo được quân lính của Mã Viện đem làm lương thực. Nó có hiệu lực trừ được chướng khí và nước nôi độc địa. Dân địa phương gọi loại lương thảo đó là cô của đời sống và sức khỏe. (theo tự điển của W. Williams, cho rằng Y dze được dịch từ Pearl-barley from de Coix, là một loại lúa mạch có hạt như ngọc trai. Còn theo ông Legrand de la Liraye thì cắt nghĩa vấn đề như sau : người ta tìm thấy trong sử sách của Kouang-Vou rằng Mã Viện đau bệnh vì do phong thổ độc địa không thích hợp. Để chữa trị, Mã Viện đã ăn một lượng lớn Ydze, mà ta đã biết dưới một tên (Ấn độ) là nước mắt của Job (larmes de Job). Loại này người An Nam gọi là bo bo. Khi Mã Viện trở về Tàu thì có cho xe kéo chở theo một số lượng lớn. Nhưng Mã Viện bị trách tội vì không đem nó dâng cho nhà vua. Ông phải chết vì việc này và vợ ông không dám làm lễ an táng cho ông !)

  Đi khoảng 2 lý về phía đông nam của đền thờ, người ta sẽ gặp một ngọn núi đá. Trên đỉnh núi ấy có một trụ đồng tương tự như trụ đồng được cắm trên đỉnh núi Phân Mao thuộc địa phận Khâm Châu (Kin tcheou) Canton (Quảng Đông). Trụ đồng cao khoảng 10 trượng và dầy khoảng 10 phân. Từ xa màu sắc của đồng trụ giống như màu đá vì bao phủ bởi phân chim. Dân địa phương kể rằng người ta thấy những con chhim thần đậu trên trụ đồng….”

  Mã Viện đánh Hai Bà Trưng chiếm Giao chỉ, Cửu Chân xong, không ngừng ở đó mà còn tiến xuống Chiêm Thành. Ông ấy bất phục thủy thổ, bị bệnh phải ăn bo bo chống bệnh. Bo bo hột tròn trằng trông như ngọc trai. Lúc trở về Tàu, Mã Viện cho xe chở về một số lớn bo bo. Ông vua Quang Vũ tưởng Mã Viện chở ngọc trai về mà không trình lên vì Giao Chỉ và Hợp Phố vốn có rất nhiều ngọc trai. Mã Viện vì thế bị tội chết đến nỗi vợ con sợ không dám làm ma chay an táng cho ông ấy.

  Mã Viện bị chết như thế nào ? Theo ông Trần Trúc Lâm viết trong bài “Lịch sử của một dân tôc lưu vong” nói về người Miêu thì : “Năm 41 vua Quang Vũ nhà Đông Hán sai tướng Mã Viện (Ma yuan) sang đánh dep cuộc nổi loạn của Hai Bà Trưng ở quận Giao Chỉ rồi dựng cột đồng ở biên giới. Hai mươi năm sau, quân Hán mở thêm một trận càn quét cuộc nổi loạn của Miêu tộc ở phía nam Hồ Nam và tướng già Mã Viện đã chết cùng trên 2 vạn quân vì bệnh ôn dịch trong khi hành quân ( Mã Viện lúc đánh Hai Bá Trưng đã 70 tuổi. 20 năm sau lại cầm quân đi đánh người Miêu (Hmong), lúc đó ông ta đã 90 tuổi hơn, chắc phải chống gậy hay nằm võng cho lính khiêng đi. Đó là cách trừng phạt Mã Viện của ông vua Quang Vũ vì tội đã không dâng bobo lên cho nhà vua ngự lãm !)

  Mã Viện đã hủy diệt hệ thống Lạc tướng, Lạc hầu, triệt tiêu nền văn hóa, lề luật của dân Lac Việt (cổ Việt Nam). Mã Viện đã tàn phá nền văn minh Trống đồng khi cướp đoạt đồ đồng để đúc ngựa, đúc cột đồng, cốt khoe khoang thành tích của mình. Kể từ Mã Viện, dân ta hoàn toàn bị đô hộ và phải theo mọi quy chế văn hóa của Hoa tộc.

  Nguyên Do Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng.

  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nói lý do cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng Trắc vì chồng bị Tô Định giết : “Mùa xuân tháng hai (Canh Tý), vua (Trưng Trắc) khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Tô Định giết chồng mình, mới cùng em gái là Trưng Nhị nõi binh đánh hãm trị sở ở châu.”

  Hậu Hán Thư không nói lý do cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, nhưng thái tử Lý Hiền đởi nhà Đường chú thích quyển Hậu Hán Thư viết : “…Giao Chỉ thái thú Tô Định dĩ pháp thằng chi, Trắc oán nộ cố phản…” (…Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng luật pháp trói buộc nên (bà) Trắc làm phản…)

  Ông Lệ Đạo Nguyên trong Thủy Kinh Chú viết chồng Bà Trưng Trắc không bị giết mà cùng Bà  khởi nghĩa : “Bà Trắc là người cam đảm cùng ông Thi nổi dậy làm giặc. Mã Viện đem quân sang đánh, ông bà Trắc Thi chạy vào Cẩm Khê”.

  Theo các sử gia thì cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng có 2 lý do :

1-      Bị luật pháp ràng buộc.

2-      Chồng bị giết nên trả thù chồng.

  Lý do thứ 2, chồng Bà Trưng Trắc là Thi(Sách) bị giết, không đứng vững, chỉ có sử ta nói thế còn sử Tàu thì nói trái lại là ông Thi (Sách) không có bị giết mà cùng vợ là Bà Trưng Trắc khởi nghĩa. Dân ta, sau một ngàn bị Tàu đô hộ đã theo chế độ phụ hệ, mọi quyền hành từ trong nhà ra ngoài xã hội đều do người đàn ông chủ trương, các sử gia nay thấy cuộc khởi nghĩa dánh đuổi quân Tàu rồi Bà Trưng Trắc xưng vương còn ông Thi thì không nên đã viết chồng Bà Trưng bị Tô Định giết, vừa có một lý do cho cuộc khởi nghĩa của Bà, vừa giữ thể diện cho phái nam nhi.

   Lý do chồng bị giết không đứng vững, vậy chỉ còn lý do bị pháp luật ràng buộc. Thứ pháp luật gì đã ràng buộc khiến cho Hai Bà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và được toàn dân hưởng ứng nhiệt liệt như vậy ?

   Hậu Hán Thư viết ; “Điều tấu Việt luật dữ Hán luật bác giả thập dư sự’ nghĩa là luật dân Việt và luật nhà Hán khác nhau trên mười điều. Khác nhau trên mười điều có nghĩa khác nhau nhiều lắm, có thể là hoàn toàn khác nhau. Điều đó chứng tỏ người Việt xưa đã có tổ chức đời sống xã hội riêng, có luật pháp, phong tục riêng. Vì thế mà người cai trị muốn xóa bỏ luật Việt để thay thế bằng luật người Hán.

   Sử còn ghi Nhâm Diên và Tích Quang là thái thú Cửu Chân và Giao Chỉ dạy dân biết theo lễ nghĩa và cưới xin theo lễ phép giá thú. Dạy dân theo lễ nghĩa tức là dạy dân ta theo khuôn phép của người Tàu. Dân Lạc Việt hẳn là có lễ nghĩa hôn thú của riêng mình, nhưng người cai trị cho là không được, phải theo lề lối  của người Hán mới đúng.

   Việc cưới hỏi theo khuôn phép giá thú Tàu tức là bắt dân Việt phải theo chế độ phụ hệ mà cho đến bấy giờ dân Việt vẫn theo chế độ mẫu hệ. Các thái thú Tàu bắt dân ta phải bỏ chế độ mẫu hệ để theo chế độ phụ hệ, phụ quyền.

   Tần Thủy Hoàng khi đánh xuống lưu vực sông Trường Giang, thấy dân Việt ở đó thuộc các nước Sở, Ngô, Việt, Mân…vẫn còn theo chế độ mẫu hệ nên ông ta tức giận cho là man di, ra lệnh bắt các chàng rể ở nhà vợ (gọi là rể thừa) phải xung công làm quân dịch tải lương theo quân đánh xuống Lĩnh Nam. Người Hoa thời đó đã theo chế độ phụ hệ, phụ quyền nên bắt các sắc dân Việt, Thái, Mèo…phải bỏ chế độ mẫu hệ mà theo chế độ phụ hệ như họ.

   Các thái thú cai trị Giao Chỉ, Cửu Chân cũng thi hành lệnh bắt dân bản xứ theo lễ phép nhà Hán, cưới hỏi theo tục lệ phụ hệ. Những thái thú Nhâm Diên, Tích Quang còn áp dụng chính sách một cách nhẹ nhàng, lấy tiền bổng mà giúp người nghèo cưới hỏi nên chưa xẩy ra phản ứng gì. Đến khi Tô Định cai trị thì ra tay áp đặt một cách cương quyết thẳng tay.

   Bà Trưng và Ông Thi [Sách] ở trong trường hợp này. Ông Thi [Sách] đã về nhà vợ là Bà Trưng Trắc như tập tục mẫu hệ. Tô Định áp dụng một cách máy móc luật phụ hệ, bắt tất cả các chàng rể, trong đó có có Ông Thi [Sách] phải rời nhà vợ và bắt các bà vợ phải về nhà chồng làm dâu, trong đó có Bà Trưng Trắc.

   Lệnh ban ra lập tức bị phản ứng ngay. Bà Trưng Trắc cùng Ông Thi [Sách] và em gái là Trưng Nhị nổi lên được sự hưởng ứng nhiệt liệt của toàn dân, đánh đuổi Tô Định. Vì Bà Trưng Trắc là cháu gái của Hùng Vương và để chứng tỏ chế độ mẫu hệ là tập tục của Việt tự ngàn xưa, nên  mọi người tôn Bà lên làm vua.

   Đó là lý do vì bị “pháp luật ràng buộc” mà Hai Bà Trưng nổi lên đánh đuổi Tô Định.

   Chế độ mẫu hệ đến nay còn được nhiều sắc dân ở Việt Nam tuân giữ như người Chàm, người Rađê (Rhadé), Rơlai (Rơglai), Giarai (Djarai) v.v…

   Cuộc khởi nghĩa được sử sách nói đến công lao không chỉ một mình bà Trưng Trắc mà còn nói đền bà Trưng Nhị nữa. Tại sao hai chị em cùng sánh vai đuổi giặc ?

   Đó là vì hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị cùng lấy chung một chồng là ông Thi [Sách].

   Sử sách không nói rõ việc hai chị em Bà Trưng cùng lấy ông Thi nhưng theo phong tục xưa dưới chế độ mẫu hệ có thể hai chị em cùng lấy chung một chồng, nhất là hai chị em song sinh như bà Trưng Trắc Trưng Nhị.

  Ta hãy theo rõi “Trường ca Đamsan” của sắc tộc Rhadé, một sắc tộc ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên) còn theo chế độ mẫu hệ để thấy hai chị em H’Ni và H’Bi lấy chung một chồng là Đamsan :

   Ngày cưới chồng :

   “… Trong lúc ấy ở nhà H’Ni ông Tổ trên trời hiện ra, tay phải chống gậy trúc, tay trái chống gậy lê, lần bước xuống để thu xếp cuộc hôn nhân của hai chị em H’Ni và H’Bi lấy Đamsan.

   Trời hỏi : Này cháu, bớ cháu, chẳng hay chồng cháu nó đã về tới chưa ?

  B’Ni : Làm sao cháu biết mà trả lời được. Không biết đàng trai có nhận lời về với hai chị em chúng cháu không. Các anh cháu đã đi hỏi lại việc đó rồi.

  Trời : Việc không xong đâu, cháu ạ, nếu cháu chỉ trông cậy vào các anh cháu. Hai cháu phải thân hành đi lấy mới được, có thế mới thành vợ chồng được.

  H’Bi (gọi tôi tớ) : Bớ các con, sáng mai mặt trời vừa mọc, các con sắm sửa voi cho sẳn sàng nghe.

  Một người tôi tớ : Thưa bà phải bắt voi nào đi ?

  H’Bi : Bắt con voi đực đuôi dài, có đôi ngà đẹp, với lại con voi hùng hổ nhất, từ sáng tới tối chạy không biết mệt.

   Sáng sớm, voi đã từ rừng đánh trở về nhà, được sắm sửa đàng hoàng. Ba con : voi đực, voi cái và voi một ngà. Trên mình voi, đặt một cái bành thật sâu, có lọng che đầu dựng lên. Trong khi đó, H’Ni và H’Bi đang sửa soạn.Hết mặc chiếc váy này vào, không ưng lại tháo ra, thay chiếc khác, cuối cùng mới quyết định chon cái váy rực rỡ nhiều màu có dệt hoa kau  cùng áo huyền có thêu hoa ê-mê. Cái váy có hoa, chính là báu vật gia truyền do ông Tổ giòng họ xưa kia, khi về trời, từ trên trời thả xuống đất, ban cho con cháu, nay tới tay các nàng…” (Hoàng Trọng Miên, Vệt Nam Văn Học Tòan Thư)

   Thế là hai chị em H’Ni và H’Bi cưởi voi đi đón chồng là Đamsan về nhà.

   Thời Hai Bà Trưng, dân Việt còn theo chế độ mẫu hệ, rất có thể Hai Bà cùng lấy một chồng là ông Thi và bị Tô Định bắt phải : 1) Hai Bà Trưng phải về làm dâu nhà ông Thi theo phong tục người Hán. 2) Ông Thi phải bỏ Hai bà Trưng. 3) Nếu không thì bị tù tội, khổ sai hoặc bị giết. Và có thể ông Thi [Sách] đã bị Tô Đinh giết, vì thế Hai Bà nổi lên khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định để được giữ phong tục cổ truyền dân Việt. Ông Lệ Đạo Nguyên mãi đến thế kỷ thứ 6 đi du lịch xứ Giao Chỉ thu thập tài liệu về Hai Bà Trưng nói là ông Thi [Sách] không có bị giết mà cùng bà Trưng Trắc khởi nghĩa, nhưng sử Tàu không nói đến nên không lấy đâu làm bằng chứng khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa ông Thi [Sách} có còn sống hay không.

   Năm Mã Viện cầm quân với tước hiệu Phục Ba thì đã 70 tuổi, điều đó chứng tỏ khì thế của Hai Bà rất mãnh liệt khiến Quang Vũ lo lắng phải sai viên tướng khai quốc đi đánh dẹp. Theo truyền thuyết của ta thì Hai Bà thua trận đã nhảy xuống sông Hát tự trầm còn sử Tàu thì nói Hai Bà  bị Mã Viện giết và gởi đầu Hai Bà về Tàu. Hai đầu dó , có thật sự là đầu của Hai Bà hay không ?

  Diễn Biến Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng.

  Nước Văn Lang của Hùng Vương mất về An Dương Vương. An Dương Vương đổi tên nước  là Âu Lạc. Nước Âu Lạc bị Triệu Đà đánh chiếm và sáp nhập vào nước Nam Việt. Triệu Đá vẫn để cho quý tộc Văn Lang được tự trị với các Lạc tướng, Lạc hầu, như vùng Tây Vu (Phú Thọ, Phong Châu) có Tây Vu Vương cai trị. Nhà Hán chiếm nước Nam Việt, vùng đất Văn Lang, Âu Lạc cũng bị nhà Hán đô hộ, chia nước Văn Lang cũ (Âu Lạc) làm các châu : Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, đặt các thái thú cai trị. Các thái thú này bắt dân Việt phải bỏ tục lệ cũ mà theo khuôn khổ luật lệ Tàu, nhất là bắt dân Việt phải bỏ chế độ mẫu hệ mà theo chế độ phụ hệ, phụ quyền. Thời thái thú Nhâm Diện, Tích Quang đem thi hành chính sách cải cách này nhưng còn nhẹ tay, dân Việt tuy có bất mãn nhưng chưa có sự chống đối đáng kể. Đến thời Tô Định thì tỏ ra thẳng tay đàn áp, áp dụng chính sách Tần Thủy Hoàng là bắt tất cả các chàng rể (rể thừa) về ở nhà vợ phải đi làm khổ sai, bị tù hoặc đày biệt xứ, hoặc bị giết. Bắt các cô gái phải về nhà chồng làm dâu.

  Ở đất Mê Linh, Lạc tướng Thi [Sách] lấy bà Trưng Trắc và về ở nhà vợ đúng như phong tục Lạc Việt. Ông Thi [Sách] bị Tô Định bắt phải bỏ vợ nếu không sẽ bị đi đày hoặc bị giết chết. Bà Trưng Trắc nổi giận cùng chồng và em gái là Trưng Nhị nổi lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định dành quyền tự chủ cho dân Việt để được tự do sống theo luật pháp Việt tộc. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được sự hưởng ứng nhiệt liệt không những chỉ ở phạm vi nước Văn Lang cũ mà ở toàn cõi Lĩnh Nam. Bà Trưng Trắc được suy tôn lên làm vua.

  Khí thế của Hai Bà Trưng rất hăng say khiến vua nhà Hán là Quang Vũ phải cử tướng Mã Viện đi đánh. Mã Viện là viên tướng nổi tiếng của nhà Hán, ông có công đánh Vương Mãng là người đã cướp ngôi nhà Hán để đưa Quang Vũ lên làm vua dựng lại cơ nghiếp nhà Hán (Hậu Hán). Mã Viện đã từng có kinh nghiệm đánh các nước của dân tộc Thái, Di ở vùng rừng núi Vân Nam. Mã Viện cũng là xuôi gia với Hán Quang Vũ.

  Năm Mã Viện nhận chức Phục Ba đi đánh Hai Bà Trưng đã 70 tuổi, điều đó chứng khí thế của Hai Bà Trưng rất lớn lao làm Hán Quang Vũ rất lo sợ đến phải đưa một viên tướng khai quốc đi đánh dẹp. Mã Viện tiến quân qua Quỷ Môn Quan, phá rừng vượt suối phải mất từ tháng 4 năm Tân Sửu (41) đến tháng 5 năm Quý Mão (43) mới chiếm được đất Văn Lang cũ.

  Theo truyền thuyết của ta thì Hai Bà Trưng khi thua trận đã nhảy xuống sông Hát giang tự trầm. Còn sử Tàu thì nói Mã Viện chém đầu Hai Bà  gởi về Tàu. Hai đầu mà sử Tàu nói đó có thật là của Hai Bà Trưng không ?

  Kể từ khi Hai Bà Trưng thua thì Mã Viện và các thái thú kế tiếp đã áp dụng chính sách hà khắc, bãi bỏ các chức tước Lạc tướng Lạc hầu để quan Tàu trực trị, bắt dân ta tuân theo luật pháp Tàu, bỏ chế độ mãu hệ, bắt theo chế độ phụ hệ. Tuy vậy hàng trăm năm sau, Bà Triệu Thị Trinh lại nổi lên đánh quân Tàu, chứng tỏ chế độ mẫu hệ vẫn còn được dân Việt ấp ủ nuôi dưỡng để cho một nữ nhi đủ sức tung hoành.

  Quân Tướng của Hai Bà và Địa bàn hoạt động.

  Sử Tàu đã không nói đến các tướng lãnh của Hai Bà, nhất là các nữ tướng. Họ chỉ nói đến một tướng mà lại là nam nhân vì tướng đó đã đầu hàng Mã Viện, đó là tướng Đô Lương.

  Nhưng căn cứ vào các thần phả và di tích thì có nhiều các vị anh hùng cùng nổi lên với Hai Bà, tính ra có đến 162 vị, nguyên chỉ ven sông Đáy có đến 94 vị được thờ kính. Các vị nữ tướng có Bà Lê Chân, đem chiến thuyền từ Hải Dương đến. Thánh Thiên Công Chúa đem binh tới gia nhập nghĩa quân của Hai Bà. Bà Lê Thị Hoa lập chiến khu ở vùng Nga Sơn Thanh Hóa. Bà Trần Vĩnh Huy khởi binh gần Hà Nội. Bát Nàn Công Chúa ở vùng Thái Bình, chồng Bát Nàn Công chúa cũng bị Tô Đinh giết. Bà Man Thiện là Mẹ Hai Bà cũng đã cùng con tham gia đánh quân Tàu. Các nam tướng có tướng Trần Công Minh, Đặng Công Hoán…

  Về địa bàn hoạt động của Hai Bà thì sử Trung Hoa, sau này sử ta chép lại chỉ ghi phạm vi ảnh hưởng ở các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, đây là vùng đất cũ của nước Văn Lang. Nhưng địa bàn hoạt động của Hai Bà không chỉ trong phạm vi nước Văn Lang cũ mà còn lan rộng trên khắp vùng đất Lĩnh Nam tức là nước Nam Việt của Triệu Đà.

  “ Các chiến tích của nghĩa quân Việt tại Hoa Nam chẳng những được các thần phả ghi chép, các sách ngoại sử của Trung Hoa nói đến, mà hiện nay, gần hai ngàn năm sau, vẫn còn nhiều di tích chiến trận, nhiều đền thờ Đức Trưng Nữ Vương và các danh tướng đương thời, tại bờ Hồ Động Đình cũng như tại nhiều nơi ở các tỉnh Hồ Nam. Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam của Trung Quốc”. (Nam Thiên, Kinh Việt)

  “ …Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư  viết năm 1479 dl, thì ở Phiên Ngung, thủ đô của Triệu Đà đời xưa, cũng có đền thờ Đức Trưng Nữ Vương. Gần đây, năm 1793 dl, vào thời Tây Sơn, khi đặc sứ Ngô Thời Nhiệm cùng phái đoàn đi ngang phía nam Hồ Động Đình, ông đã đến viếng đền thờ Đức Trưng Nữ Vương. Ông cũng ghi : quân Đức Trưng Nữ Vương đã đánh với quân Mã Viện ở Hồ Nam.

  “ Tại Khúc Giang, Quảng Đông, hiện có đền thờ Nữ tướng Đàm Ngọc Nga, tước Nguyệt Điện Công Chúa. Tại đây còn nhiều di tích của trận đánh long trời lở đất của Bà với quân Mã Viện. Cũng tại Khúc Giang, có đền thờ Nữ tướng Trần Thị Phương Châu, tước Nam Hải Công Chúa. Bà tuẫn quốc tại đây vào đầu cuộc khởi nghĩa, năm 39 dl. Sử ta ghi là năm 1288 dl, vua Trần Nhân Tôn đã sai đại thần Đoàn Nhữ Hài qua Khúc Giang trùng tu đền thờ Ngài.

  “ Tại Quảng Tây và Quảng Đông có nhiều đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thánh Thiên, tức Thánh Thiên Công Chúa. Bà đã hy sinh tại vùng này năm 42 dl. Tại suốt dọc bờ biển Quảng Đông, Phúc Kiến và đảo Hải Nam, hiện còn rất nhiều đền thờ Bà Trần Quốc, tước Gia Hưng Công Chúa. Dân trong vùng tin Bà là Giao Lomg Tiên Nữ giáng trần.

  “ Tại vùng Hồ Động Đình và thủ phủ Trường Sa của tỉnh Hồ Nam, cho đến ngày nay, gần hai ngàn năm sau, người dân địa phương còn nhắc nhở và khiếp sợ trận đánh của Nữ tướng Phật Nguyệt. Hiện nay tại vùng này còn bốn nơi thờ Ngài. Tại cửa Thẩm Giang chảy vảo Hồ Động Đình, lại còn có miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu Lan. Suốt cả ngàn năm qua, mỗi lần các sứ thần nước ta đi ngang qua đây, đều đến tế lễ Ngài. Hiện nay ở đó vẫn còn mộ của Ngài.

  “ Chúng ta cũng còn di tích của các trận đánh lớn, như trận chiếm giữ thủ phủ Trướng Sa của Hồ Nam; trận đánh kinh hồn của Nử tướng Phật Nguyệt chiến thắng Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí ở Hồ Động Đình; trận thủy chiến lừng lẫy của Nữ tướng Trần Quốc ở Uất Lâm; trận Vĩnh Hoa Công Chúa đánh thắng đại tướng Ngô Hán ở Độ Khẩu, Vân Nam; trận Khúc Giang, trận đảo Hải Nam…

  “ Tất cả đều chứng tỏ binh lực của Đức Trưng Nữ Vương đã tung hoành khắp vùng Lĩnh Nam và đã có lúc Đức Trưng Nữ Vương là Hoàng Đế toàn thể Lĩnh Nam.” (Nam Thiên, Kinh Việt)

  Tàn Quân của Hai Bà Trưng đi đâu ?

  Sử viết rằng, khi Hai Bà thua ở Cẩm Khê thì tàn quân chạy vào phía nam, đến Cư Phong (Cửu Chân, Thanh Hóa ngày nay), tướng Đô Dương phải đầu hàng. Hai Bà Trưng bị thua, tướng Đô Dương đầu hàng, chưa hẳn quân tướng còn lại của Hai Bà đã chịu thúc thủ dưới tay Mã Viện. Một số lớn đã ẩn lánh vào rừng, một số chạy xuống phía nam, cũng có một số chạy lên phía bắc ở Vân Nam hay Quảng Tây.

  Số người ẩn lánh lên rừng núi là tổ tiên của những người Mường, người Tày. Họ còn giữ được chế độ Lạc tướng Lạc hầu như thời Văn Lang của Hùng Vương. Những nhà quý tộc Mường hay Tày đều mang tước hiệu Tạo (Thao) sử ta gọi là Phụ Đạo tức là Phu Tạo, tương đương chức Lord của Anh hay Seigneur của Pháp. Các nhà quý tộc, phú tạo, hay địa chủ (thổ ty, landlord) đều mang họ Lang. Họ còn giữ được gốc Lang của các con Hùng Vương, được cho đi trấn giữ các địa phương, các trang, sách tức các mường, các bản.

  Những  cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng, những dòng vua chúa Việt Nam, phần lớn là người Mường: Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lê Lợi, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng.

  Quân của Hai Bà không những chỉ chạy lên rừng, lên phía bắc mà phần lớn chạy suôi nam lập nên nước Phù Nam ở vùng sông Cửu Long và nước Lâm Ấp sau này là nước Chiêm Thành. một số khác lên vùng Cao nguyên Trung phần (Tây nguyên) thành người Thượng (Ra đê, Ba na, Ma, Koho v.v…), họ cũng xuống bán đảo Mã Lai, Indonesia, các đảo Thái Bình Dương v.v… Đặc điểm của cuộc di tản lớn lao này là họ cố duy trì nếp sống thời Văn Lang và mang theo Trống Đồng nếu có thể mang theo được, vì thế ta thấy Trống Đồng rải rác trên khắp vùng Đông Nam Á từ Quảng Tây, Vân Nam xuống tới Indonesia.

  Ông Phạm Việt Châu viết về số người lập ra nước Lâm Ấp như sau : “Khi đại quân của Hai Bà Trưng tan vỡ ở Cẩm Khê (Vĩnh Yên) và thế bức Hai Bà phải tự vận (năm 43) thì bọn tùy tướng còn lại dẫn tàn quân chạy về quận Cửu Chân (vùng Thanh-Nghệ). Sau Mã Viện đem quân vào đánh, một số tướng lãnh trong đó có Đô Dương bị thua đành phải ra đầu hàng, còn một số khác lui về phía cực nam, giữ huyện Tượng Lâm và tiếp tục kháng cự. Mãi 59 năm sau (năm Nhâm Dần đời Hòa Đế nhà Đông Hán, tức năm 102), nhà Đông Hán mới đặt xong nền cai trị ở đất này.

  Tuy nhiên, Tượng Lâm vẫn còn là đất quật khởi. Năm 192 dưới sự lãnh đạo của Khu Liên (Ch’u Lien hay K’iu Lien) dân Tượng Lâm (Hsiang Lin) khởi nghĩa đánh chiếm huyện đường và giết được viên huyện lệnh người Hán.Thứ sử đất Giao Chỉ là Phàn Diễn thống lãnh binh đội Giao Chỉ và Cửu Chân hơn một vạn người xuống đàn áp, nhưng quân sĩ không những không tuân lệnh mà lại còn tỏ ra ủng hộ phe khởi nghĩa và trở lại chống kẻ đô hộ. Trước tình thế cực kỳ rối ren, Hán triều đành cử Chúc Lương xuống làm thái thú Cửu Chân, Trương Kiên làm thứ sử Giao Chỉ để lo việc bình định. Tuy nhiên sau nhiều cuộc giao tranh, quân Hán vẫn không lấy lại được phần đất nam quận Nhật Nam (Jenan) do Khu Liên chiếm giữ.

  Khu Liên mong Bắc tiến đoạt lại toàn thể đất Lạc Việt cũ, nhưng với một lực lượng quá nhỏ, mộng lớn không thành, ông đành dừng lại phía Nam mà xưng vương. Vùng đất được giải phóng mệnh danh là Lâm Ấp (Lin Yi) gồm huyện Tượng Lâm và một vài huyện khác cũng thuộc quận Nhật Nam, bao gồm khu Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay. Sau khi xưng vương, một mặt Khu Liên lo chỉnh đốn nội trị để làm vững mạnh căn cứ và một mặt xếp đặt công cuộc thâu đoạt lại Giao Châu và truyền ý chí đó lại cho con cháu.

  Năm 270 dòng dõi Khu Liên thất truyền, Phạm Hùng (Fan Hsiang) là cháu ngoại lên ngôi, lại khởi binh đánh phá Nhật Nam và Cửu Chân. Việc đã khiến cho Đào Hoàng, thứ sử Giao Châu phải dâng sớ về triều đình nhà Tấn trình bày tự sự để xin giữ nguyên binh số khi nhà Tấn có ý định giảm quân ở các châu huyện. Năm 349, Phạm Văn (Fan Wen) mang quân đánh vào tới tận miền nam đồng bằng sông Hồng. Nhưng không may ông mất trên đường hành quân nên thứ sử Giao Châu là Nguyễn Phu đã đoạt lại tất cả đất đai ông chiếm được, Năm 399, Phạm Hồ Đạt (Fan Hu Ta) mang quân chiếm Nhật Nam, Cửu Chân rồi đánh thốc vào Giao Chỉ, nhưng bị thái thú Đỗ Viện đánh bại năm 413. Phan Hồ Đạt một lần nữa lại tấn công Cửu Chân, song rốt cuộc cũng bị đánh bại và lần này bị thứ sử Giao Châu là Đỗ Tuệ Độ mang quân sang tận Lâm Ấp chém giết tàn hại (năm 420).

  Sử dụng quân sự mãi không xong, đã có lần người Lâm Ấp dùng ngoại giao để xin lĩnh lại Giao Châu với Tống triều. Việc không những không đạt được kết quả mà lại gây thêm sự chú ý cho Bắc phương, nên chẳng bao lâu sau quân Tống không dưng tiến quân đánh sâu vào nội địa Lâm Ấp, tàn sát, đốt phá khủng khiếp và cướp mất trên 100.000 cân vàng (năm 446). Từ đó Lâm Ấp không còn dịp nào gây rối dược quân đô hộ nữa. Những nhà lãnh đạo Lâm Ấp bèn tính đường tiến xuống phía nam. Xứ Lâm Ấp cũng có thời được gọi là Hòan Vương (Huan Wang) nhưng từ năm 808 về sau thì đổi hẳn là Chiêm Thành (Champa). (Trăm Việt trên vùng định mệnh, Phạm Việt Châu)

  Về nước Phù Nam, ông Phạm Việt Châu viết : “Thời kỳ Phù Nam lập quốc tương ứng với thời kỳ Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Khi Hai Bà thất thế, có thể có nhiều toán rút về Nam bằng đường biển, vậy biết đâu họ lại chẳng là những người sáng lập ra một tân quốc gia ở bán đảo này là Phù Nam. (Phạm Việt Châu, bài đã dẫn)

  Nước Chiêm Thành thành lập bởi nhiều bộ tôc, trong đó có hai bộ tộc lớn nhất là bộ tộc Cây Dừa (Narikelavamca) ở vùng Indrapura và bộ lạc Cây Cau (Kramukavamca) ở phía nam vùng Panduranga. Bộ tộc Cây Dừa tức Lâm Ấp và bộ tộc Cây Cau là Tây Đồ Di. Ngoài hai bộ tộc lớn đó, còn có các bộ tộc Churu, Djarai, Rhadé v.v…Tuy hợp nhất với nước Chiêm Thành nhưng các bộ tộc ở vùng Cao Nguyên này vẫn tự trị.

  Ngoài Lâm Ấp do tàn quân của Hai Bà Trưng thành lập, các sắc tộc ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên) cũng là những di dân của người Đông Sơn (Lạc Việt). Tại vùng này người ta đã khám phá ra nhiều trống đồng Đông Sơn. Hẳn là khi quân Bai Bà tan vở, tàn quân của Hai Bà và dân chúng không chịu khuất phục đã di cư vào đây mang theo cả Trống Đồng để không bị lọt vào tay Mã Viện. (Năm 1996, người ta lại tìm thấy một trống đồng ở xã Ea Pau, huyện Ea Ka, tỉnh Đắc Lắc. Trống có đường kính 0,8 m. cao 0,8 m. Trống có 3 vòng tròn, vòng ngoài có hình 4 con cóc, vòng thứ hai có hình 6 con hạc, vòng trong cùng có hoa văn hình ngôi sao 10 cánh. Trong lòng trống có một xác người và nhiều đồ trang sức bằng đồng và gốm. (TVTS. số 558. 4.12.1996).

  Những người Đông Sơn (Lạc Việt) không những chỉ đi xuống ở bán đảo Đông Nam Á mà còn đi xuống quần đảo Nam Dương, Phi Luật Tân, các đảo Thái Bình Dương và đến tận  Mỹ châu và đảo Madagasca ở Phi chấu.

  Ông Olov R.T. Janse, nhà khảo cổ đã chứng minh người Inca ở Mỹ châu là người Việt Nam :

  “Did the Dongsonian mariner reach the South American mainland ?” của tác giả Olov R.T. Janse đăng trên quý san Southeast Asian số 3, phát hành mùa hè năm 1973 ờ Singapore, tác giả cho rằng người Da Đỏ ở Bắc Mỹ chính là người Việt Nam, gốc Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tác giả căn cứ vào những khai quật ở tỉnh Bahia xứ Ecuador miền Nam Mỹ châu và những khai quật ở Óc Eo và Đông Sơn của Việt Nam. Bài báo dài và đầy đủ dẫn chứng khoa học. Bahia có thể là Bà Hai hay Bà Hia gì đó. (Trà Lũ. Miền Đất Hứa, Da Đỏ Việt Nam).

  Mới đây các nhà khoa học lại chứng minh tổ tiên dân ở các đảo Thái Bình Dương là người Việt :

  “Giả thuyết trước đây cho rằng các nền văn hóa Polynesi và Châu Đại Dương có nguồn gốc từ Đài Loan và từ đó phát triễn nhanh chóng ra khắp các đảo ở Thái Bình Dương. Tuy nhiên trong bài báo trên tạp chí Proceeding of the National Academy of Science, nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Durham và Oxford đứng đầu là tiến sĩ Keith Dobney cho biết sau khi nghiên cứu loại gene của 781 con heo ngày nay và gene heo sống từ thời xa xưa lấy từ các viện bảo tàng, đã khám phá thấy có mối liên quan về gene rõ ràng giữa heo hiện nay ở Việt Nam và heo ở các đảo Sumatra, Java, New Guinea, New Oceania cùng nhiều đảo nam Thái Bình Dương. Từ đó các vị kết luận phần lớn các cư dân sống ở trên các đảo này có nguồn gốc từ Việt Nam chứ không từ Đài Loan. Tiến sĩ Gregor Larson nói rằng heo tuy bơi giỏi, nhưng không đến nước có thể bơi đến tận Hawaii. Chúng phải được người di cư chuyên chở đến đó. Theo ông, tổ tiên các cư dân trên các hòn đảo xa xôi đã rời Việt Nam cách dây khoảng 3.600 năm, đi qua nhiều hòn đảo trước khi đến các đảo nam Thái Bình Dương”. (TiVi tuần san số 1096, 23.3.2007)

  Và từ các đảo ở Thái Bình Dương, người Đông Sơn (Việt Nam) đã cập bến ở Mỹ châu. Tài đi biển của người dân các đảo Thái Bình Dương đã được kiểm chứng qua cuộc hành trình của họ từ đảo Maui trong quần đảo Hawaii đến Haiti, nam Thái Bình Dương, dài 3.000 mile (khoảng 4.600 cây số). Họ đi trên con tàu đóng theo sự mô tả của thuyền trưởng James Cook thấy hồi năm 1770 khi ghé Tahiti, trong cuộc thám hiểm ở Thái Bình Dương. Đó là con tàu được ghép bởi hai chiếc ghe với hai cột buồm, dài 60 foot (khoảng hơn 30 m.). Con tàu chở 17 người gồm 13 người Hawaii, 2 người Mỹ da trắng, 1 người New Zeland, 1 người Micronesian, mang theo thực phẩm gồm khô cá, dừa, khoai lang, chuối, trứng và chó, gà, heo sống. Con tàu mang tên Kokule’a, khởi hành ngày 3 tháng 6 năm 1976, đến dích ngày 4.7.1976. Hai người Mỹ đi dể chụp hình và tường trình có đem theo dụng cụ đo đạc hải hành nhưng không dùng đến mà để cho toán người Polynesia hoàn toàn định hướng, hướng dẫn con thuyền theo phương cách cổ truyền của cha ông họ là theo sao, mặt trời, mặt trăng hướng gió mà đi. (National Geographic, David Lewis, Hokule’a follows the stars to Hahiti, october 1976)

  Một chứng minh khác do ông Thor Heyerdahl, người Thụy Điển thực hiện để chứng tỏ người thổ dân Mỹ châu đến từ các đảo ở Thái Bình Dương. Năm 1947, ông Thor đóng một bè gỗ có cột buồm, đặt tên là Kon-Tiki, xuất phát từ Peru đi ngang qua Thái Bình Dương để tới Tahiti. Ông đi gần tới thì bị đụng phải đá ngầm ở đảo san hô Raroia gần Tahiti. 39 năm sau, cháu ông Thor là Olav Heyerdahl lại thực hiện một chuyến vượt Thái Bình Dương theo gương ông nội. Chiếc bè gỗ của Olav tên là Tangaroa, ra đi cũng từ Peru vào tháng 4 năm 2006 và 70 ngày sau đó đến Tahiti bình yên. (National Geographic, Alan Maison)

  Với tài đi biển, người Việt Đông Sơn đã đổ bộ lên Mỹ châu để trở thành người Thổ dân, người Inca, người Maya..

  Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã tạo nên một chấn động làm nức lòng dân tộc dành tự chủ cho đất nước, khiến triều đình nhà Hán lo sợ phải phái một viên thượng tướng như Mã Viện đi đánh Hai Bà. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà không chỉ gây tiếng lớn lao nơi người Việt mà trong lịch sử nhân loại Hai Bà Trưng  là người đàn bà đầu tiên và cho đến nay chưa thấy có người đàn bà nào can đảm dũng lược cầm đầu một cuộc khởi nghĩa như vầy.

  Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tuy thất bại, nhưng đã un đúc khí phách người Việt để nghìn năm sau dành lại tự chủ tự do cho đất nước. Cuộc thất trận của Hai Bà lại là dịp để Việt tộc trải dài xuống phương Nam, tới các đảo Nam Dương, tới đảo Madagasca ở phía tậy, tới các đảo Thái Bình Dương ở phía dông và cả ở Mỹ châu.

  Hai ngàn năm sau cuộc di tản của Việt tộc hồi Hai Bà Trung, một lần n ữa dân tộc Việt lại có một cuộc di tản lớb lao trải dân tộc Việt khắp mặt địa cầu khi cộng sản xâm chiếm miền Nam Việt Nam.

 Những lần thất trận lại là những khúc anh hùng ca của dân tộc Việt vươn mình ra khắp hành tinh trái đất này. Cha Lạc Long đem 50 con xuống biển, hình như vẫn tiềm tàng tiếng réo gọi của biển cả kêu gọi dân Việt vượt biển khơi đi chinh phục vùng đất mới.