HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC

 

 Lời nói đầu.  Thưa quý chiến hữu, Đại Hội tháng 12 năm 2008 tại Adelaide thảo luận về vần đề Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc. Cuộc thảo luận khá sôi nổi nhưng chưa nêu lên được sự lợi hại cụ thể. Đây là một đề tài rất quan trọng hiện đang trở nên tranh luận trên mọi diễn đàn, khiến tôi trăn trở nên tìm đọc các sách báo, tài liệu và cả trên internet, nhìn  lại trang sử từ năm 1945 đến nay để tìm hiểu và thấy rằng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc quả là quan trọng và vô cùng nguy hiểm. Chính nó, Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc là mấu chốt đưa đến mất Miền Nam Việt Nam, làm cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi sống đời lưu vong. Hòa Giải Hòa Hợp lại đang theo đuổi  Người Việt Hải Ngoại để tròng vào cổ ách nô lệ cho chế độ cộng sản. Xin quý chiến hữu theo dõi bài viết ngắn sau đây để thấy tầm mức cực kỳ nguy hiểm của giải pháp Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc như thế nào. Chí Linh

Hiện đang có những tổ chức hay cá nhân cổ võ cho giải pháp Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc, kêu gọi người Việt hải ngoại, sau 30 năm chấm dứt chiến tranh, hãy quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù mà bắt tay hòa giải hòa hơp với quốc nội để xây dựng đất nước. Tổ quốc đang bị Bắc phương hăm dọa xâm lăng. Đất nước lâm nguy, thất phu hữu trách. Người Việt dù trong hay ngoài nước phải đồng lòng gánh vác trách nhiệm trước lịch sử.

Việc phương Bắc có xâm lăng hay không cũng như cộng sản Việt nam đã phải cúi đầu nhường đất dâng biển là một đề tài lớn, cần thảo luận. Ở đây chỉ sẽ chỉ nói đến Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc với những diễn biến và hệ lụy của nó từ khi cộng sản cướp chính quyền dưới cái tên Việt Minh đến nay xem nó đã tác động đến dân tộc ta như thế nào. Tạm thời chia ra làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1 (từ 1945 – 1946)

Giai đoạn này được gọi là Đoàn Kết Dân Tộc, Liên Hiệp Quốc Cộng. Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945, cũng được gọi là “Cách mạng mùa thu”. Danh từ “cướp” chính quyền là do chính cộng sản Việt Minh gọi chứ chẳng phải ai dùng để nói xấu cái “Cách mạng mùa thu” đó cả. Lúc cướp đươc chính quyền rồi thì Việt Minh cộng sản gặp nhiều khó khăn trở ngại. Trong Nam , Pháp theo chân quân Anh vào tước khí giới Nhật để đặt lại nền đô hộ. Ngoài Bắc, quân Tàu của Tưởng Giới Thạch qua để giải giới quân Nhật. Cùng lúc đó các toán quân của các đảng phái quốc gia cũng theo chân quân Tàu trở về. Các đảng phái hồi đó có: 

1.      Việt Minh tên gọi tắt của Việt Nam Độc lập Đồng Minh do Hồ Chí Minh đứng đầu. (Cộng sản)

2.      Việt Cách tên gọi tắt của Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội do Nguyễn Hải Thần đứng đầu. (Quốc gia)

3.      Việt Quốc tên gọi tắt của Đại Việt Quốc Dân Đảng do Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam lãnh đạo.(Quốc gia)

( Lúc bấy giờ ở bên Tàu có 3 Hội do 3 nhà Cách Mạng lão thành chủ trì: 1. Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do cụ Hồ Học Lãm chủ trì. 2. Việt Nam Giải Phóng Đồng Minh Hội do cụ Trương Bội Công chủ trì. 3. Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội do cụ Nguyễn Hải Thần chủ trì. Hồ Chí Minh bị Tưởng Giới Thạch bắt bỏ tù vì hoạt động cho cộng sản. Hồ Chí Minh van lạy cụ Hồ Học Lãm can thiệp xin tha. Cụ Hồ Học Lãm thương tình, cụ vốn có uy tín với Quốc Dân Đảng Trung Hoa nên Hồ Chí Minh được tha. Hồ Chí Minh xin gia nhập VNĐLĐMH của cụ Hồ Học Lãm và xin về nước chống Pháp, làm chỉ điểm cho Đồng Minh. Về nước Hồ Chí Minh mượn danh nghĩa Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của cụ Hồ Học Lãm nhưng bỏ chữ Hội  chỉ còn Việt Nam Độc Lập Đồng Minh và gọi tắt là Việt Minh để hoạt động, được Đồng Minh (Mỹ, Trung Hoa) giúp đỡ. Hồ Chí Minh đã gom góp các đảng viên cộng sản như Trường Chinh Đặng Xuân Khu, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp để tổ chức lại đảng cộng sản. Lợi dụng lúc quân Nhật đầu hàng, Hồ Chí Minh đã phỗng tay trên cướp chính quyền. Người Quốc gia vốn dể tin, bao dung mà cộng sản thì quỷ quyệt nên cứ bị lừa hoài)!

 Hồ Chí Minh thấy tình thế bấp bênh, có thể bị quân Pháp, quân Tàu hay quân Việt Quốc hất cẳng bất cứ lúc nào. Để hóa giải thế tứ bề thọ địch, Hồ Chí Minh đã tung ra lời kêu gọi lòng ái quốc, tinh thần đoàn kết toàn dân, hòa giải mọi phân biệt đảng phái, hòa hợp dân tộc để chống thực dân Pháp đang lăm le trở lại Việt Nam.

Để lấy lòng các đảng phái quốc gia, Hồ Chí Minh đề nghị thành lập chính phủ Liên Hiệp kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 2.3.1946, chính phủ Liên Hiệp Lâm Thời ra đời. Hồ Chí Minh dành cho các đảng phái quốc gia và nhân sĩ  5 ghế bộ trưởng :

1.      Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân Chính) giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao.

2.      Trần Đình Chi (Việt Cách) giữ chức Bộ trưởng bộ Xã hội và Y Tế.

3.      Bồ Xuân Luật (Việt Cách)  giữ chức Bộ trưởng bộ Canh Nông.

4.      Chu Bá Phượng (Việt Quốc) giữ chức Bộ trưởng bộ Kinh Tế.

5.   Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc) giữ chức Bộ trưởng bộ Quốc Phòng. Hồ Chí Minh “lột” chức của Vũ Hồng Khanh bằng cách cho làm trưởng phái đoàn dự hội nghị Đà Lạt. Bộ này giao cho Phan Anh, rồi Phan Anh cũng bị mất chức vì “được” đi theo Hồ Chí Minh dự hội nghị Fontainebleau. Rốt cuộc Võ Nguyên Giáp nắm bộ Quốc Phòng, chuẩn bị cho việc đàn áp các đảng phái Quốc Gia.

Các bộ khác do Việt Minh nắm giữ. Hồ Chí Minh (cộng sản) giữ chức Chủ Tịch, Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) giữ chức phó Chủ tich chính phủ. Vĩnh Thụy (Bảo Đại) làm cố vấn chính phủ.

Ngoài ra, Hồ chí Minh còn dành cho các đảng phái quốc gia 72 ghế Dân Biểu trong Quốc Hội mà không phải thông qua một cuộc bầu cử nào. (Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 22 ghế). Rốt cuộc người thì bị bắt, bị giết, cũng có người chạy thoát được, thật hú hồn !

( Năm 1992, Việt công tung tin sửa đổi Hiến pháp, cho “Việt Kiếu” hải ngoại về tham gia bầu cử. Nhiều người nhiều tổ chức lăng xăng chuẩn bị đáp ứng cuộc bầu cử. Và chỉ là cái bánh vẽ to tướng. Ngày nay VC lại tung ra mồi nhử qua các “Đại hội Việt kiều” khiến nhiều anh được mời dự đại hội lấy làm hãnh diện, về viết bài ca tụng : “có xe còi hụ dẫn đầu..”. Thật không biết nhục !)

Toàn dân lúc đó nô nức phấn khởi vì sự đoàn kết, hòa hợp của các đảng phái quốc gia và cộng sản, một lòng kháng chiến chống thực dân Pháp. Ở các cấp Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chánh, từ tỉnh xuống huyện, xã đều có các nhân sĩ quốc gia tham dự

Người Pháp sau khi theo chân quân Anh vào Miền Nam và củng cố cơ sở ở đây và Cao Miên rồi, họ lại muốn tiến ra Miền Bắc và  Lào. Họ điều đình với Tưởng Giới Thạch để quân Pháp ra Miền Bắc Việt Nam tước khí giới quân Nhật thay cho người Tàu. Cuộc điều đình được ngã giá. Người Pháp sẽ nhường con đưởng xe lửa Vân Nam – Hà Nội khúc từ Vân Nam đến Lào Kay cho Tàu và trả lại nhượng địa Quảng Châu Loan (thuộc Quảng Đông) cho Tàu. Đổi lại Tưởng Giới Thach rút quân Tàu khỏi Miền Bắc Việt Nam và Lào, nhường lại cho quân Pháp kiểm soát.

Hồ Chí Minh thấy tình thế sớm muộn quân Pháp cũng sẽ kéo ra Miền Bắc nên đã ký Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6.3.1946 cho quân Pháp vào Việt Nam. Với bản chất quỷ quyệt, Hồ Chí Minh đã đẩy Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc) làm trưởng phái đoàn và ký Hiệp Ước tại Đà Lạt. Hồ Chí Minh đã giăng bẫy cho người quốc gia chịu chung tội rước Pháp vào Việt Nam, hơn nữa với mưu kế đó, đã đẩy Vũ Hồng Khanh ra khỏi chức Bộ trưởng bộ Quốc Phòng để một mình Võ Nguyên Giáp tự tung tự tác trong việc thanh toán người quốc gia.

Hồ Chí Minh cho một phái đoàn qua Trùng Khánh gọi là để điều đình với chính phủ Tưởng Giới Thạch, trong đó có hầu hết các bộ trưởng quốc gia, có cả cụ Nguyễn Hải Thần, cố vấn Vĩnh Thụy, rồi không cho họ trở về. Vĩnh Thụy tức vua Bảo Đại đã bị bỏ rơi lại ở sân bay Vân Nam , một thân một mình, không đồng tiền dính túi, không quen biết ai, không biết một tiếng Tàu !

Bất thần đêm 27.6.1946, lúc đó quân Tàu đã rút, quân Pháp vào thay thế, Võ Nguyên Giáp ra lệnh tấn công vào các cơ sở tôn giáo và đảng phái quốc gia, qua vụ Ôn Như Hầu. Cuôc tấn công này đã bắt đem đi thủ tiêu hay  giết tại chỗ các lãnh tụ, cán bộ và Quốc dân quân lên đến năm chục ngàn (50.000) người.

Cuộc tàn sát lần thứ hai xẩy ra đêm 19.12.1946 còn khốc liệt hơn. Khoảng 20 giờ đêm 19.12.1946, Hồ Chí Minh ra lệnh nổ súng trên toàn thành phố Hà Nội, vừa tấn công các đồn bót Pháp, vừa lùng bắt các lãnh tụ và cán bộ các đảng phái quốc gia và tôn giáo trên toàn quốc. Số người bị giết lần này còn cao hơn lần trước bội phần. Nhà Cách mạng Trương Tử Anh, đảng trưởng đảng Đại Việt bị giết trong đợt này. Nhà Cách mạng Lý Đông A đảng trưởng đảng Duy Dân, Đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Hòa Hảo cũng bị giết trong đợt này.

Thế là Hòa Hợp, Đoàn Kết, Liên Hiệp mà toàn dân kỳ vọng đã bị Hồ Chí Minh cho ra mây khói. Cái bẫy Hòa Hợp, Liên Hiệp, Đoàn Kết do Hồ Chí Minh giăng ra đã xập, giết hại gần như toàn bộ các lãnh tụ, cán bộ quốc gia vì tin lời đường mật của hắn trong chiêu bài Liên Hiệp Kháng Chiến chống thực dân.

(Quốc Dân Đảng Trung Hoa và Tưởng Giới Thạch đã có thể nghiền nát đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông, nhưng vì tin tưởng có thể sống chung hòa bình Quốc Cộng mà rốt cuộc bị cộng sản đánh bại. Cái gương sờ sờ ra đó, ta không nhập tâm mà cứ để bị lừa hoài ! Cộng sản chỉ khi nào bị áp lực nặng nề của quần chúng hay bị thất bại, bị dồn vào thế cùng mới tỏ vẻ hòa dịu hay nhượng bộ như năm 1945 bí áp lực của QDĐ Trung Hoa, của Pháp nên mới nhượng bộ thành lập chính phủ Liên Hiệp, nhưng khi Tàu rút về liền mở cuộc thanh toán người Quốc gia. Cũng như sau năm 1980, bị cô lập vì cấm vận, bị Tàu cộng “dạy cho bài học” nên phải ve vuốt người Tỵ Nạn “khúc ruột ngoài ngàn dặm” để kiếm “kiều hối”. Nhưng khi chúng nó có đủ sức thì trở nên cao ngạo và độc ác bội phần, trở mặt chém giết không gớm tay).

Những người quốc gia còn sót lại và tầng lớp có máu mặt ở nông thôn bị quy vào thành phần địa chủ, cường hào ác bá thì bị Hồ Chí Minh thanh toán trong chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất”. Đợt tàn sát này đã giết hại hàng trăm ngàn người. Nó chẳng tha ai, dù những người có công với kháng chiến, nuôi Hồ Chí Minh và bè lũ trong nhà, như bà Cát Hanh Long  tức bà Nguyễn Thị Năm cũng bị chúng nó đem ra đấu tố và bị giết. Trường Chinh Đặng Xuân Khu là trưởng ban Cải Cách Ruộng Đất Trung Ương cũng đem cha mẹ ra đấu tố. Trước cảnh thương luân bại lý “long trời lở đất” đó một vị túc nho có câu đối :

Đấu tố phụ mẫu, tôn thờ Mác Lê, nhục ấy đời chê thằng họ Đặng,

Hãm hại sĩ nông, đảo điên văn hóa, tội kia sách chép đứa tên Khu !

Khi về Hà Nội, Hồ Chí Minh và đồng bọn lại dở trò “Cải Tạo Công Thương Nghiệp” để tịch thu nhà cửa, của cải, vàng bạc châu báu rồi đầy ải những thành phần  “Tư Sản Mại Bản” này đi lao động, đi vùng kinh tế mới nơi đèo heo gió hút, chốn rừng thiêng nước độc cho chết dần chết mòn. Còn thành phần buôn bán nhỏ hay buôn thúng bán bưng gọi là “Tiểu Tư Sản” bị truy thu “Thuế Lợi Tức” đến tán gia bại sản, nhiều người đã phải tự tử.

Đối với giới trí thức, Hồ Chí Minh giăng cái bẩy “Trăm Hoa Đua Nở” để triệt hạ các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ, trong “Nhân Văn Giai Phẩm”. Thế là Hồ Chí Minh đã hoàn thành chủ trương :

Trí, Phú, Địa, Hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ.

Và chỉ còn lại một mình một chợ, Hồ Chí Minh và bè lủ cộng sản tha hồ tác yêu tác quái trên đầu trên cổ dân tộc Việt Nam !

Tổng kết các vụ chém giết của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản trên toàn quốc từ năm 1945 đến năm 1975, từ thanh toán đảng phái Quốc Gia, địa chủ, số người chết trong các cuộc chiến, số thanh niên bị đẩy vào chiến trường “sinh  Bắc tử Nam”, gây nên cảnh chém giết kinh hoàng ở Miền Nam Việt Nam từ năm 1960 đến năm 1975, kể cả vụ Mậu Thân. Rồi sau đó là bãi lầy chiến trường Cao Miên, và cái gọi là “Dạy cho một bài học” của Trung cộng. Rồi thiên Bi Hùng Ca của các Thuyền Nhân nơi Biển Đông chạy trốn chế độ cộng sản đi tìm Tự Do. Con số nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam đã lên hơn mười triệu (10 triệu) sinh linh bị chết tức tưởi oan uổng, cả  triệu người bị thương tật !

( Ngày 23.12.2008, Ba Vân là vợ Lê Duẫn trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC : “Anh Ba (Duẩn) nói với lãnh đạo Trung quốc rằng : Chúng tôi đã hy sinh 10 triệu người rồi, nếu Trung quốc chi viện cho chúng tôi thì chúng tôi thắng thằng Mỹ với những hy sinh thấp hơn, còn Trung quốc không chi viện chúng tôi dù phải hy sinh vài triệu người nữa, chúng tôi vẵn thắng thằng Mỹ”.)

GIAI ĐOẠN  2  (từ 1960 – 1975)

 Để hổ trợ cho tham vọng xâm chiếm Miền Nam Việt Nam, sau khi ký kết Hiệp Ước Geneva chia đôi Việt Nam, Hồ Chí Minh cho thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTGP) để dùng một số người khoa bảng thân cộng sản và tranh thủ dân miền Nam khi cộng quân miền Bắc vào xâm lăng miền Nam.

Cuộc chiến leo thang, người Mỹ muốn can thiệp đưa quân vào Việt Nam nhưng bị Tổng thống Ngô Đình Diệm phản đối nên đã giết đi để thành lập chính phủ kế tiếp thân Mỹ. Và người Mỹ đã đổ quân vào Việt Nam, có lúc lên đến hơn nửa triệu quân. Võ khí Mỹ ào ạt đưa vào chiến trường. Võ khí Nga cộng, quân lương Tàu cộng liên miên tiếp tế cho cuộc xâm lăng của cộng sản Hà Nội.

Để hổ trợ cho mặt trận quân sự, cộng sản Hà Nội nổ lực quấy phá hậu phương miền Nam với những cuộc biểu tình đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Mỹ rút quân, đòi chính phủ từ chức, ngăn cản quân đội đi hành quân, với các tổ chức ngụy hòa như “Vận Động Hòa Bình Thế Giới”, như “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình và Hạnh Phúc Dân Tộc”, như “Dân Tộc Tự Quyết”, như “Lực Lượng Hòa Giải Dân Tộc”.

Người Mỹ thấm mệt, hay là chiến lược của họ sang trang, họ đinh rút quân khỏi Việt Nam . Người Mỹ bắt tay với Trung cộng, đi đêm với Việt cộng và hội nghị Paris thành hình.

Nguyễn Văn Thiệu phản đối bị Mỹ dọa cắt viện trợ. (liệu chừng, gương Ngô Đình Diệm còn sờ sờ ra đó, thuận ta thì sống, chống ta thì chết) !

Cộng sản Hà Nội phản đối đòi những điều kiện gắt gao, bị Mỹ oanh tạc liên miên 12 ngày đêm xuống Hà Nôi, thả mìn phong tỏa cảng Hải phòng, chịu không thấu, phải thuận theo.

Hiệp Định Paris đươc ký kết, người Mỹ vội vàng rút quân, cắt mọi nguồn viện trợ, mặc cho cộng sản Hà Nội đem quân vào xâm chiếm Miền Nam . Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thiếu võ khí đạn dược, săng dầu, đành bó tay đưa đến thảm họa 30 tháng 4 năm 1975.

Nhưng nếu  chỉ vì bị cắt viện trợ, thì chưa chắc gì Việt Nam Cộng hòa đã bị mất mà nguyên nhân chính là những tổ chức, những phần tử đón gió, trở cờ, bọn nằm vùng, cổ động cho giải pháp Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc đem dâng Miền Nam cho cộng sản Hà Nội.

TạI hội nghị Paris, với thành phần 4 bên là Hoa Kỳ, cộng sản Bắc Việt, Việt Nam Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã bị hạ xuống ngang hàng với MTGPMN, cộng sản Hà Nội lại muốn lấn thêm một bước để làm suy yếu chính quyền VNCH là đưa đề nghị thành lập một “Hội Đồng Quốc Gia Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc”, sau khi ngưng bắn. Hội Đồng này gồm 3  thành phần là VNCH, MTGPMN và các thành phần ở giữa. Lúc đầu cộng sản Hà Nội cương quyết đòi Hội đồng này phải được tổ chức từ trung ương xuống đến địa phương như là một chính quyền song hàng với chính phủ VNCH. Cộng sản Hà Nội tin rằng Hội Đồng này sẽ nắm quyền thực sự và với MTGPMN và các thành phần ở giữa thân cộng sản, chính quyền VNCH sẽ bị loại, không cần phải đánh, cộng sản Hà Nội cũng sẽ nắm chính quyền ở Miền Nam.

Phía VNCH không chịu giải pháp thiên lệch có lợi cho cộng sản, thiệt hại về phía người quốc gia như vậy. Cuộc cải vã dây dưa khiến tiến trình rút quân của Mỹ bị đình trệ nên họ đã ném bom liên tiếp 12 ngày đêm xuống Hà Nội, phong tỏa cảng Hải Phòng,  khi đó cộng sản Hà Nội mới chịu giải pháp là “Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc” chỉ giới hạn vào việc bầu cử.

Đó là điều 12 của Hiệp định Paris về việc thành lập “Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hơp Dân Tộc”. Chính điều khoản này đưa đến việc làm sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa do các thành phần ở giữa hay gọi là thành phần thứ ba gây ra.

Hiệp Định Paris vừa ký xong thì các thành phần thân cộng, thành phần đón gió, thành phần trở cờ vội vàng thành lập “Lực Lượng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc” và giao cho luật sư Vũ Văn Mẫu làm chủ tịch. Vũ Văn Mẫu tỏ ra sốt sắng hãnh diện với chức vụ này. Ngày 29.3.1975 Việt cộng chiếm Đà Nẵng, LL. Hòa Giải Hòa Hợp tại Đà Nẵng đứng ra kêu gọi quân nhân, công chức cũ ra trình diện, bắt “thành phần ác ôn” giao cho bộ đội VC. trừng trị. Tại Sài Gòn Vũ Văn Mẫu tuyên bố một cách hãnh diện : “Quân Giải phóng đã vào Đà Nẵng, nay chỉ còn một lá cờ duy nhất được tung bay trên thành phố này mà thôi, đó là lá cờ của Lực Lượng Hòa Giải của Phật Giáo”.

Tình hình đầu năm 1975 rất xôi động, biến chuyển từng ngày. Người Mỹ vội vả rút quân, Cộng sản tiến chiếm Ban Mê Thuộc, kéo quân vào vùng I và vùng II. Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 21.4.75 trao quyền Tổng Thống cho Trần Văn Hương rồi chạy ra ngoại quốc. Trần Văn Hương tuyên bố chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Người Mỹ rất sợ một ông tổng thống chủ chiến như vậy vì sẽ làm hỏng kế hoạch rút quân và phải dính líu vào cuộc chiến nếu như các nhân viên dân sự, tòa Đại sứ bị quân lực Việt Nam Cộng Hòa bắt làm con tin, bởi thế Mỹ bắt ông Trần Văn Hương phải từ chức.

Cộng sản Hà Nội đã tiến quân vào cửa ngõ Sài Gòn. Bị áp lực Mỹ nên Trần Văn Hương phải trao chức Tổng Thống cho Dương Văn Minh. Trần Văn Hương làm Tổng Thống được 5 ngày thì phải trao chức cho Dương Văn Minh, con bài chủ chốt của Lực Lượng Hòa Giả Hòa Hợp Dân Tộc.

Dương Văn Minh nhận chức Tổng Thống vào chiều ngày 28.4.1975 lúc 17 giờ 30. Trưa ngày 29.4.1975 lúc 11 giờ 30, Vũ Văn Mẫu được Dương Văn Minh trao chức Thủ Tướng, thành lập Chính Phủ Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc với các thành phần thân cộng, thành phần thứ ba như sau:

Tổng Thống  :      Dương Văn Minh

Phó Tổng Thống : Nguyễn Văn Huyền

Thủ Tướng :        Vũ Văn Mẫu

Tỗng Trưởng Thông Tin :  Lý Quý Chung

Tổng Tham Mưu QĐ :       Nguyễn Hữu Hạnh …

Vũ Văn Mẫu vừa nhậm chức Thủ Tướng đã vội vã lên đài đọc lời kêu gọi người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ, để cho người Việt Nam với nhau bàn định công việc, người Mỹ không được dính líu vào. Trong khi đó, Lý Quý Chung oang oang kêu gọi “người anh em bên kia” hãy cùng nhau gặp gỡ thảo luận hòa giải hòa hợp dân tộc trong tình huynh đệ. Còn Dương Văn Minh thì liên lạc với thượng tọa Thích Trí Quang hỏi sao đã thành lập chính phủ hòa giải hòa hợp dân tộc mà quân cách mạng cứ còn tiến công hoài, thượng tọa Thích Trí Quang trả lời rằng phần việc của ông đã lo xong, còn về quân sự thì đại tướng tự lo liệu lấy, Dương Văn Minh than trời như bọng : “thày giết tôi rồi” !

Người Mỹ được Vũ Văn Mẫu thông báo phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ đã thở phào nhẹ nhõm như vừa thoát khỏi cơn ác mộng. Họ đã lập ngay cầu không vận với những chiếc trực thăng chinook khổng lồ từ hạm đội 7 ngoài khơi vần vũ bay vào Sài Gòn bốc các nhân viên tòa đại sứ, các nhân viên  viện trợ quân sự (DAO) ra khỏi Việt Nam. Chiều ngày 29.4.1975, người Mỹ đã hoàn toàn rút hết khỏi Việt Nam , sau 10 năm đổ quân vào Việt Nam .

Trưa ngày 30.4.1975, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Nguyên văn lời kêu gọi như sau :

“Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng xâu xa vào sự hòa giải của người Việt Nam khỏi thiệt hại xương máu của người Việt Nam, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tỉnh không nổ súng và đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong trật tự, tránh đỗ máu vô ích của đồng bào.”

Việt cộng cho xe tăng ủi xập cổng dinh Độc lập bắt Dương Văn Minh và chính phủ hòa giải hòa hợp dân tộc tới đài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng do tên thiếu tá Việt cộng soạn như sau :

“Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng  Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam .”

Tiếp theo sau Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu nhân danh tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc hân hoan đọc lời kêu gọi:

“Trong tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc và trở lại sinh hoạt bình thường. Nhân viên của cơ quan hành chánh quay về vị trí và dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng”.

Chính phủ Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc của Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu sống vỏn vẹn được 36 tiếng đồng hồ từ chiều 28.4.1975 đến trưa ngày 30.4.1975. Thời gian tuy ngắn nhưng đã làm nên lich sử : Khai tử chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đuỗi Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam , đầu hàng và trao trọn Miền Nam Việt Nam cho giặc !

 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày tang tóc của nhân dân Miền Nam, cha mất con, vợ mất chồng, con cái mất cha mẹ. Nguyễn Hộ đã nói thay cho giặc Cộng: “Nhà ngụy ta ở, vợ ngụy ta lấy, con ngụy ta sai” !

Các thành phần hòa giải hòa hợp dân tộc tỏ ra hồ hởi phấn khởi sau lời kêu gọi đầu hàng  của Dương Văn Minh, đã tổ chức các cuộc đón tiếp liên hoan chào mừng quân “giải phóng”. Dưới sự điều  động của Nguyễn Trực, thượng tọa Thích Minh Châu, viện trưởng  viện Đại học Vạn Hạnh đã hướng dẫn Ban Giám học và sinh viên ra ngã tư Bảy Hiền đón quân “giải phóng” về thành.

Những sinh viên này và bọn “cách mạng 30” đeo băng đỏ ở tay áo đứng nghênh ngang ở các ngã đường để giữ trật tự.

Nhưng vở tuồng cải lương “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc” đã hạ màn. Cộng sản Hà Nội vội vàng khai tử Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam và cái đuôi Lực Lượng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc. Bây giờ chỉ còn một lá cờ, lá cờ máu, đúng như Vũ Văn Mẫu đã mong muốn. Những công thần MTGPMN, những binh sĩ tập kết, các cựu kháng chiến đều cho về vườn. Một vài người được giữ lại làm cảnh cho chế độ như Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định. Những thành phần bất mãn thì bị cô lập, cắt trợ cấp hay đi tù, hoặc giả bị mưu sát, thủ tiêu, như Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ, Trần Văn Giàu. Có người mau chân thì trở thành thuyền nhân tỵ nạn cộng sản như Trương Như Tảng.

Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch MTGPMN, trước khi chết đã than thở với Trần Bửu Kiếm : “Thấy sai mà không được sửa. Thấy tội ác mà không được tránh. Tất cả phải cúi đầu tuân lệnh đảng”. Nguyễn Hữu Thọ viết di chúc cho con có đoạn : “Bài học thất bại trong cuộc đời làm cách mạng của cha là bài học chọn lầm lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa cộng sản, và sai lầm nhất của cha là tự nguyện trở thành đảng viên cộng sản Việt Nam . Nhưng điều đáng lên án nhất là tính cách phục tùng mù quáng đến hèn nhát của cha đối với những mệnh lệnh phi nhân bất nghĩa của tập đoàn lãnh tụ độc tài chuyên chế đã mất hêt tình tự dân tôc” ! (Lê Minh Tùng)

Còn thành phần ở giữa hay gọi là thành phần thứ ba thì cũng bị đối xử như ngụy quân, ngụy quyền, ngụy dân. Cũng bị tịch thu nhà cửa, của cải, bị đi tù cải tạo lao động. Rồi có cơ hội cũng chạy theo chân người vượt biển để trở thành thuyền nhân tỵ nạn cộng sản. Số phận những người lãnh đạo Lực Lượng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc thì sao ? Nguyễn Hữu Hạnh được cho làm chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc thành Hồ. Dương Văn Minh cuối đời được cho ra ngoại quốc để thưởng công lao đã đầu hàng. Vũ Văn Mẫu âm thầm nhìn cảnh tang thương đau khổ của đồng bào mà trút hơi thở. Còn nhóm lãnh đạo gây nên cảnh “Biến Động Miền Trung” vào thập niên 1960 thì Thượng tọa Thích Trí Quang cho đi an trí ở một ngôi chùa, Thượng Tọa Thích Thiện Minh bị giết trong tù. Nguyễn Trực, một trong tam đầu chế của “Biến Động Miền Trung”, người mang lon trung úy VC, chỉ huy Đại học Vạn Hạnh đi ra ngã tư Bảy Hiền đón Việt Cộng vào thành thì bị 4 năm tù vì tổ chức vượt biển, nhưng đã kịp thời gởi được đứa con đi Hoa Kỳ.

Dương Văn Minh lấy lý do phải đầu hàng để cứu sinh mạng đồng bào, để khỏi bị đổ máu vô ích. Có thật vậy không ? Dương Văn Minh và bè lũ ham sống sợ chết đã rước cộng sản vào để đầy đọa đồng bào. Dân Miền Nam Việt Nam đã phải sống nhục nhã đói khát, rách rưới, bị cư sử kỳ thị như thế nào dưới sự cai trị khắt khe độc ác của cộng sản, những ai đã từng trải qua những ngày đen tối đó, hẳn chưa quên.

Dân Miền Nam có sợ chết hay không ? Những gương anh dũng tự sát để khỏi sống dưới sự cai trị cộng sản còn vang danh lừng lẫy. Lại cả một làn sóng dân Miền Nam đổ xô ra biển, vào rừng xanh để chạy trốn chế độ cộng sản đã làm cả thế giới sững sờ. Đã có hơn 2 triệu người liều chết vượt biên tới được bến tự do và cũng ngần ấy người bất hạnh đã bỏ mình dưới lòng biển cả hay chốn rừng sâu. Ai phải chịu trách nhiệm cho những oan hồn đó ?

Nhớ xưa, khi quân Mông Cổ sang xâm chiếm Đại Việt, vua Trần Nhân Tôn với lòng từ bi của một Đại Sư sợ dân bị quân giặc quá hung bạo tàn sát đã muốn hàng, nói với Bắc Bình Vương Trần Hưng Đạo : “Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân tàn hại, hay là trẫm chịu hàng đi để cứu muôn dân”. Hưng Đạo Vương đã khẳng khái tâu : “Bệ hạ nói câu ấy thì thật là lời nhân đức nhưng mà Tông Miếu Xã tắc thì sao ? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần đi đã rồi sẽ hàng sau”.

May mắn thay cho đất nước Đại Việt vì câu nói khẳng khái đó của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mà quân dân ta 3 lần đánh bại quân Nguyên để đất nước được độc lập tự chủ, nếu không thì số phận Việt Nam đã trở thành một tỉnh của Tàu rồi. Nước Đại Lý cùng thời đã đầu hàng quân Nguyên mà ngày nay mất nước để trở thành một tỉnh của Trung Quốc, tỉnh Vân Nam .

Buồn thay cho nước Việt Nam Cộng Hòa không có một Trần Hưng Đạo mà chỉ có những Trần Ích Tắc !

Sự đầu hàng của Dương Văn Minh/Vũ Văn Mẫu đã đặt cả nước Việt Nam dưới sự cai trị của cộng sản đem đến nghèo khổ, lao lý, chậm tiến, tụt hậu, mất một phần đất biên giới và Biển Đông, nay lại đang đứng trước thảm họa giặc Phương Bắc lăm le xâm lăng !

GIAI ĐOẠN  3.  Từ Sau 1975.

Qua những ngày hồ hởi phấn khởi vơ vét chiến lợi phẩm ở Miền Nam (thời kỳ gọi là 4 V: vào, vơ vét, về), Việt cộng rơi vào tình trang khủng hoảng. Nga sô và các nước Đông Âu không còn viện trợ nữa, lại bị sa lầy ở Cao Miên, phía Bắc bị Trung cộng xua quân tràn qua biên giới cướp phá, đối ngoại thì bị cấm vận.

Trong nước với các đợt “Cải Tạo Công Thương Nghiệp” đánh tư sản vơ vét của cải, nhà cửa, đất đai, đuổi dân thành phố đi vùng nước độc gọi là “vùng kinh tế mới”. Lại đổi tiền để bòn rút tận cùng tầng lớp khố rách áo ôm. Trả thù chế độ VNCH: bắt quân nhân, công chức, cán bộ, hương chức, chính khách, tư sản, văn nghệ sĩ đi “Cải Tạo” trong các trại giam nơi thâm sơn cùng cốc.

Đối với nông dân, vì không còn tầng lớp địa chủ do chinh phủ VNCH đã mua ruộng đất của họ phát cho nông dân trong chiến dịch “Người Cày Có Ruộng” nên không còn đấu tố nhưng Việt cộng bắt tập trung tất cả ruộng đất của nông dân vào “Hợp Tác Xã Nông Nghiêp”. Sản xuất vì thế đình trệ, thất thu, khiến cho cả nước đói ăn, tình trạng chết đói xẩy ra hằng ngày.

Toàn dân Miền Nam , rồi sau lây sang cả dân Miền Bắc chạy trốn chế độ cộng sản. Mọi người lũ lượt tuôn ra biển, chạỵ vào rừng xâu. Một cuộc chạy trốn, vượt biên chưa từng có trong lịch sử Việt Nam và có thể nói trong cả lịch sử nhân loại. Làm chế độ cộng sản lung lay tận gốc.

Để cứu vãn chế độ, sau đại hội đảng kỳ 6, Việt cộng đã phải cởi mở, hòa hoãn. Nguyễn Văn Linh tuyên bố “Cởi Trói Văn Nghệ”. Mặt khác Việt cộng ve vuốt người tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại, gọi người tỵ nạn cộng sản là Việt kiều yêu nước là “Khúc Ruột Ngàn Dặm  (Ví von này rất hay, đúng như câu tục ngữ: “Đồng Tiền Liền Khúc Ruột”, người Việt hải ngoại vì có tiền nên trở thành khúc ruột lòng thòng cho sán lãi Việt cộng rút rỉa !). Toàn thể câu ca tụng “Khúc Ruột Ngàn Dặm” như thế này : “Họ là da thịt của chúng ta. Họ là máu mủ của chúng ta. Họ là khúc ruột của chúng ta ngoài ngàn dặm” !

(Thật khác xa cái luận điệu của Phạm Văn Đồng, tên Thủ tướng  ký giấy bán Biển Đông cho Trung cộng, gọi người tỵ nạn cộng sản là “rác rưởi, trôi dạt khắp năm châu bốn biển, không ai thèm vớt, nếu có vớt cũng chỉ vì bắt buộc”. Còn Đỗ Mười, nguyên là anh hoạn lợn, hoạn chết lợn người ta bị rượt đánh chạy trối chết, tuyên bố xấc láo : “Chúng là bọn du đảng đĩ điếm, trốn chạy theo Mỹ Ngụy ra nước ngoài để có bơ thừa sữa cặn mà  ăn”. Vậy thì bây giờ đảng cộng sản đang kiếm ăn cái gì nơi khúc ruột lòng thòng của lũ du đảng đĩ điếm ăn bơ thừa sữa cặn đây ?)

Những gia đình có người tỵ nạn, trước đây bị cho vào sổ đen, bị công an theo rõi nghiêm ngặt thì nay được trọng vọng, được mời lên phường lên xã hội họp, chỉ vẽ mọi cách thức moi tiền của thân nhân ở hải ngoại. Dạy bài ca “Con cá sống vì nước”! Gia đình nào có thân nhân gởi tiền về nhiều, đều đặn, được tuyên dương làm gương mẫu. Tiền của hải ngoại gởi về, Việt cộng gọi là kiều hối, hàng năm lên nhiều tỷ Mỹ kim. Nhờ đó Việt cộng có ngoại tệ để cứu chế độ, để nuôi béo bọn chóp bu. Chính người tỵ nạn đã cứu chế độ cộng sản bằng tiền của họ gởi về cũng như tiền bỏ ra qua các chuyến áo gấm về làng, qua các tổ chức từ thiện, tiền cúng dường xây cất sửa sang các đình chùa, nhà thờ, thánh thất.

(Số tiền do Người Việt tỵ nạn cộng sản gởi về tính theo thống kê chính thức của Ngân Hàng Nhà Nước VC bằng Mỹ Kim như sau : Năm 2000: 1 tỷ. Năm 2001: 1.5 tỷ. Năm 2002: 2.3 tỷ. Năm 2003: 2.5 tỷ. Năm 2004: 3.8 tỷ. Năm 2005: gần 4 tỷ. Năm 2006: 5.2 tỷ. Năm 2007: 6 tỷ. Năm 2008: 7.2 tỷ. Năm 2009 vì ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu nên số tiền giảm còn 6.283 tỷ. Tính từ năm 1991 đến nay, số tiền Người Việt tỵ nạn cộng sản gởi về lên tới 30 tỷ USD. Báo điện tử đảng Cộng sàn vào ngày 25.5.2009 xác nhận con số thống kê lúc nào cũng ít hơn con số thực và ước đoán con số “Việt Kiều” gởi về năm 2007 có thể lên tới 10 tỷ, vượt xa 3 tỷ USD tiền viện trợ ODA và 5 tỷ vốn FDL.)

Đại hội đảng cộng sản kỳ 6 năm 1986 gọi là ‘Đại Hội Đổi Mới” đưa ra lời kêu gọi “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc”, xóa bỏ hận thù, xây dựng đất nước. Đại hôi đưa Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng bí thư. Nguyễn Văn Linh đề ra chính sách “Mở Cửa”, “Cởi Trói Văn Nghệ”. Giây thòng lọng được nới lỏng, cửa được he hé mở, nhiều người đã lợi dụng để nói lên nỗi lòng, đả kích đảng và nhà nước. Dương Thu Hương được đưa ra làm cò mồi để chứng tỏ đảng và nhà nước cởi trói thực sự. Ngày 6.10.1987, trong Đại hội Văn nghệ sĩ, có mặt Nguyễn Văn Linh, Dương Thu Hương đã chửi đảng và nhà nước như chửi chó. Sau đó các bài tham luận tháng 9 năm 1989 và tháng 3 năm 1999 của Dương Thu Hương cũng chửi đảng và nhà nước như tát nước. Quyển Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương gây xôn sao dư luận. Mấy tay nằm vùng, đón gió ở hải ngoại kiện tụng nhau ỳ xèo để dành quyền xuất bản !

Nhưng kể từ khi toàn bộ sậu từ Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp v.v..trở xuống đi triều bái Thiên triều ở Thành Đô xin thần phục Bắc Phương vào ngày 2.9.1990, thì glasnost, perestroika, cởi trói, đổi mới gì đó không còn nữa mà chỉ là đàn áp, là “Thiên An Môn”, là “Cách Mạng Văn Hóa”. Các văn nghệ sĩ bị khóa miệng. Cửa nhà tù mở rộng cho những ai đòi đổi mới, đòi dân chủ hay dám phạm đến thiên triều dù có bị mất đất mất biển cho Bắc phương.

Đại hội 6 của Việt cộng cũng lại giăng ra cái bẫy Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc. Những tay sai hay cán bộ nằm vùng, những người thuộc thành phần thứ ba còn đó hay những người ngây thơ tưởng rằng họ đầy lòng yêu nước thương nòi đã vội vàng hưởng ứng. Người hưởng ứng hăng hái trước tiên và bền bỉ nhất là Nguyễn Gia Kiểng với tờ Thông Luận. Rồi điệp khúc hòa giải hòa hợp được tấu lên nhịp nhàng với các tờ Giao Điểm, Hợp Lưu, Giao Lưu, Trăm Con, Bông Sen, với các nhà văn, khoa bảng, bọn trở cờ như Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Lê Xuân Khoa, Nguyễn Cao Kỳ, Henry Nguyễn Hữu Liêm v.v.. dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Bùi Tín.

Để đẩy mạnh hơn công tác phá hoại người Việt tỵ nạn cộng sản, Việt cộng ra nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26.3.2004 và dùng số tiền 600.000 đô la để mua chuộc bọn tay sai, các văn nghệ sĩ, các chính khách đón gió, các tổ chức, đảng phái, liên minh, mặt trận, lực lượng, tôn giáo. Chúng gây chia rẽ mọi tầng lớp người tỵ nạn, phân hóa các đoàn thể, chính đảng, tôn giáo ra thành 2, thành 3 hệ phái khác nhau, chống lại nhau. Chúng cho tay sai len lỏi vào các cơ sở Cộng đồng, đưa Cộng đồng đi theo chiều hướng Hòa giải hòa hợp, để đi đến chung cuộc là đầu hàng cộng sản vô điều kiện như Dương Văn Minh/Vũ Văn Mẫu trước đây.

Chúng lại đưa ra chiêu bài 3 thành phần, kêu gọi ngồi lại với nhau bàn chuyện đất nước để lừa phỉnh người Việt hải ngoại, như chúng đã lừa phỉnh đồng bào Miền Nam Việt Nam trước đây. Ba thành phần lần này được đưa ra là :

1.      Đại diện đảng cộng sản.

2.      Đại diện trí thức trong nước.

3.      Đại diện trí thức ngoài nước.

Đại diện trí thức trong nước là giáo sư Trần Khuê. Đại diện ngoài nước là bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi. Người đưa ra đề nghị là Hoàng Minh Chính vào năm 2005 , khi ông ta qua Mỹ để trị bệnh, gởi cho nhóm “Họp Mặt Dân Chủ” trong hội nghị gọi là “Tiểu Diên Hồng” ở trên núi, Pali Mountain Retreat, California, USA. Nhóm này ai cũng biết họ là ai.

Nên biết rằng chiêu bài “Hòa giải hòa hợp dân tộc”, “xóa bỏ hận thù” do Việt cộng đưa ra chỉ nhắm vào người tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại, để ru ngủ, để gợi lòng trắc ẩn, thương nước thương nòi của người Việt hải ngoại. Đồng bào trong nước không bao giờ được được nghe nói đến cụm từ cấm kỵ này, ai nhắc đến liền bị khóa miệng trong cánh cửa nhà tù. Các phiên tòa, các bản án nặng nề xẩy ra hằng ngày.

Hổ trợ cho chiêu bài “Hòa giải hòa hợp dân tộc”, VC đoàn ngũ hóa các du học sinh, các công nhân xuất ngoại, các việt kiều yêu nước tại các quốc gia có người Việt sinh sống để đẩy mạnh công tác làm ung thối khối người Việt Tỵ nạn cộng sản, len lỏi “chiêu hồi” người Tỵ Nạn về quy thuận, hợp tác với chính quyền cộng sản.

Khi Hồ Chí Minh về nước đã dậy dân Việt Nam biết “Căm Thù”, biết “Đấu Tranh Giai Cấp”. Vì biết căm thù, biết đấu tranh giai cấp nên bần cố nông đấu tố địa chủ, công nhân lao động đuổi chủ chiếm nhà máy, tư sản mại bản bị tịch thu nhà cửa, của cải. Vì căm thù giai cấp nên giai cấp phong kiến thống trị vua quan, cưởng hào ác bá bị triệt hạ. Vì căm thù giai cấp nên các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ phải đi lao động cải tạo. Vì căm thù giai cấp nên các tăng lữ chuyên mê hoặc tín đồ bị đuổi khỏi nơi thờ tự như chùa, nhà thờ, thánh thất. Vì ý thức cao độ Căm thù đế quốc tư bản Mỹ và ngụy quân ngụy quyền Miền Nam nên dân Miền Bắc phải xung phong cho “Nghĩa  Vụ Quốc Tế” đem xương máu giết đồng bào Miền Nam. Lời “vàng ngọc” của “Bác Hồ” đã dạy như vậy thì cụm từ Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc không áp dụng cho dân trong nước mà chỉ dành cho dân Việt hải ngoại. Chiếc thòng lọng “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc”, “Xóa Bỏ Hận Thù” lại giăng ra để bắt con mồi khờ khạo như đã từng bắt trước đây ! Hồ Chí Minh chỉ dạy duy nhất một chữ yêu : Yêu Nước Xã Hội Chủ Nghĩa! Nước xã hội chủ nghĩa tức là Quốc Tế Xã Hôi Chủ Nghĩa cũng là Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế Nga xô (comintern) chứ không đơn thuần là nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như ta tưởng, nếu không vậy thì đi làm “Nghĩa Vụ Quốc Tế” để làm gì ?

Một nhân sĩ nhận định về hiện tượng “Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc”, “Xóa Bỏ Hận Thù” như sau :

-        “Có những tên chính trị gia đón gió. Chúng mang danh nghĩa Quốc gia, khoác áo nhân quyền kêu gọi quên đi quá khứ, quên đi hận thù để cùng nhau xây dựng đất nước, thậm chí có đứa còn xin Việt cộng cấp môn bài để làm đối lập với nhà nước.

-        “Có những bọn làm báo lá cải và văn nghệ cò mồi. Từ hơn 30 năm nay, chúng sống trong đủng quần của đồng bào tỵ nạn. Bây giờ đổi mới tư duy, chúng nó ca tụng kẻ thù, bôi nhọ cuộc chiến đấu của quân dân ta và kêu gọi quên đi quá khứ. Những con chó vẩy đuôi liếm đít Việt cộng.

-        “Có những băng đảng, những mặt trận, những liên minh, những tổ chức được Việt cộng thuê để đánh phá người Việt tỵ nạn.

 “Những lũ nói trên, từ bọn chính trị đón gió đến bọn nhà báo cò mồi, đến bọn văn nghệ sĩ cò mồi đến bọn mặt trận, liên minh cò mồi, tất cả đều có chung một mẫu số vô liêm sĩ, lòn trôn, liếm đít Việt cộng mà không biết nhục. Và không biết câm mồm lại.

“Người Quốc gia khinh chúng nó. Việt cộng còn khinh bỉ hơn. Việt cộng là loài vô liêm sĩ đấy, nhưng còn thừa liêm sĩ và lưu manh để biết khinh bỉ những kẻ trước đây từng chịu ơn người Quốc gia nay cúi đầu lòn trôn Việt công.” ( Nguyễn Văn Chức, cựu Sĩ quan QLVNCH, Luật sư, Nghị sĩ)

Xin đừng lẫn với cựu Thiếu tướng Nguyễn Văn Chức, Cục trưởng cục Công binh, mới ra mắt “Chính Phủ VNCH”, đang cho viết bản Hiến pháp 7, vừa viết thư chúc tết năm Canh Dần 2010 gởi bọn chóp bu đảng và nhà nước Việt cộng.