LINH THỂ NHIỆM MÀU

 

Thiền sư, Tiến sĩ. Lê Ngọc San

 

 

  Sau khi học qua nhiều thày, đọc qua nhiều sách, chưa thấy ai đưa ra được một lý thuyết nào để chứng minh hiện tượng “Tiềm Lực Năng” từ Huyệt Điện I bò lên để khai thông các huyệt điện khác, vì thế sau nhiều năm luyện tập, nghiên cứu, và rút kinh nghiệm bản thân, tôi TẠM đưa ra giả thuyết sau đây đề giúp tất cả những ai, trong đó có tôi, không thể chấp nhận được những điều mà các thày các bà gọi là Tâm Linh, có thể giữ được niềm tin trong việc dùng Sinh Lực Năng trong việc bảo trì sức khỏe và trị liệu một số bệnh thường cũng như nan y.

 

               LINH THỂ

 

 Đã mấy ngàn năm rồi, chỉ những nhà thần bí học và thần thông học mới tin là có Linh Thế (Etheric Body) và linh thế hút “Sinh Lực Năng” (Vital Energy) ngoài vũ trụ vào để bảo trì và tiếp sức cho cơ thể. Nhưng gần đây Semyon và Valentina Kirtian đã chụp được hào quang tòa ra từ người, vật, cây cỏ v.v.. Các khoa học gia bắt đầu tìm tòi về cái linh thể bí hiểm này (1).

Để hiểu linh thể là gì, ta cần biết về sự cấu tạo của Thể Phách (Corporeal Human Composite). Thể phách gồm hai phần : Cơ Thể và Linh Thể. Cơ Thể (Physical Body) là phần gồm tất cả những cái hữu hình như da, thịt, gân, xương, tim phổi v.v.. Linh Thể là phần dập lại cái cơ thể đó nhưng vô hình, qua nó Sinh Lực Năng ngoài vũ trụ chuyển vận vào hổ trợ và nuôi Cơ Thể (2).

Con người chỉ khỏe mạnh khi Linh thể có khả năng thu hút, chuyển vận Sinh Lực Năng (Vital Energy) ngoài vũ trụ qua các Huyệt Điện ( Energy Center ) vào nuôi Cơ Thể một cách điều hòa. Khi một hay nhiều huyệt điện bị nghẽn, sự thông thương của Sinh Lực Năng bị chặn lại, sức đề kháng của cơ thể sẽ giảm xuống, vi trùng xâm nhập vào cơ thể sẽ dễ dàng hơn, và bệnh tật cũng phát triển mạnh mẽ hơn.

Để tìm hiểu tại sao Cơ thể cần Sinh Lực Năng và sự liên quan mật thiết của Cơ Thể và Vũ Trụ ra sao, cứ nhìn vào bất cứ khía cạnh nào ta đều thấy vật gì cũng có cái cá tính đó có một cái gì ràng buộc với nhau, hoạt động triền miên và bất diệt. Cái gì đã liên kết các cá tính đó với nhau ?

Sinh Lực Năng cũng còn được gọi là Năng Lực hay Sinh Khí. Nói cách khác, mỗi vật là một Tiểu Vũ Trụ. Tất cả các Tiểu Vũ Trụ đã bị ràng buộc với nhau bởi một năng lực vô hình. Cái năng lực này như một sợi giây dài vô tận xuyên qua các tiểu vũ trụ ngang dọc trên dưới v.v.. xiết chặt vào nhau thành một khối mà ta gọi là Vũ Trụ. Teilhard de Chardin (1965), một nhà cổ sinh vật học và cũng là một linh mục thuộc Thiên Chúa Giáo, Dòng Tên, đã viết : Vũ Trụ là một nguyên tử khổng lồ không thể phân chia ra được… Mỗi phần tử đã được ràng buộc vào nhau thành một khối rất có tổ chức, và được điều khiển, chi phối bởi một định luật tối cao… Bản chất cố hữu  của mỗi bộ phận đều giống hệt như bản chất cố hữu của Vũ Trụ, “Tantrism” đã gần hai ngàn rồi cũng đưa ra một khái niệm tương tự: Con người là một Tiểu Vũ Trụ trong Đại Vũ Trụ. Trong con người có tất cả cái mà Đại Vũ Trụ có (Mookergee, 1983) Như vậy con người muốn tồn tại phải được nối liền với Vũ Trụ. Sợi giây mắc nối này không gì khác ngoài cái gọi là Sinh Lực Năng.

Trở lại con người, phần Linh Thể là cái cầu nối liền con người với Vũ Trụ. Phần Linh Thể này có rất nhiều huyệt điện nằm trên nó. Các huyệt điện này đã được ứng dụng vào các khoa châm cứu, khoa đốt từ mấy ngàn năm tại các nền văn minh cổ như Tàu, Nhật, Tây Tạng v.v…Nhưng các huyệt điện này chỉ là những huyệt điện phụ của bẩy Huyệt Điện Chính mà khoa học hiện đại đang cố giải thích và chứng minh. Các Huyệt Điện này cũng có thể tìm, đo được bằng các máy điện tử chính xác.

 

   HUYỆT ĐIỆN

 

Bẩy Huyệt Điện Chính này, trừ Huyệt Điện 1, rất dễ bị nghẽn, Chỉ một băn khoăn nhỏ cũng có thể làm chúng nghẽn không cần phải đế những đau thương triền miên xảy ra hằng ngày. Kinh nghiệm cho thấy những người lạc quan thường it đau ốm hơn những người bi quan. Vì vậy, sự khang kiện của cơ thể là tùy ở các Huyệt Điện có thông hay không.

 

Huyệt Điện 1. ( Root Center )  Nằm ở giữa hậu môn và cơ quan sinh dục với đường kính chừng 3 phân. Đây là nơi xuất phát của “Tiềm Năng Lực” (Potential Power) và của Điện Đạo chính (Axial Pathway, đường Tiềm Năng Lực bò lên để khai thông các Huyệt Điện bị nghẽn).

 

Huyệt Điện 2. ( Sexual Center) Nằm ở đốt xương cùng của xương sống rộng chừng 4 phân đường kính. Huyệt Điện 2 liên quan mật thiết với cơ quan sinh dục và liên hệ với tuyến sinh dục.

 

Huyệt Điện 3. ( Hypogastric Center ) Nằm trên xương sống phía sau rốn, rộng chừng 4 phân đường kính. Huyệt Điện 3 liên quan với hai hệ thống tiêu hóa, bài tiết và thận tuyến.

 

Huyệt Điện 4. ( Heart Center ) Nằm trên xương sống ngang với tim có đường kính chừng 4 phân. Huyệt Điện 4 liên quan tới toàn thể bộ phận tuần hoàn và liên hệ với hung tuyến ở sau mỏ ác.

 

Huyệt Điện 5. ( Troat Center ) Với đường kính chừng 3 phân ở trên xương sống ngang bả vai. Huyệt Điện 5 liên quan trực tiếp với bộ phận hô hấp và liên hệ với giáp tuyến trạng ở sau cố họng.

 

Huyệt Điện 6. ( Brow or Forehead Center ) Ở giữa trán, trên hàng lông mày với đường kinh chừng 2 phân. Huyệt Điện 6 còn đươc gọi là con mắt thứ ba và liên hệ với tùng quả tuyến ở phía trước não. Huyệt Điện này điều khiển toàn thể tâm tính con người, liên quan tới năng khiếu nhận thức và thần giao cách cảm.

 

Huyệt Điện 7. (Crown or Thousand Rayed Center) Ở ngay trên đỉnh đầu với đường kính chừng 3 phân. Huyệt Điện còn được gọi là huyệt ngàn tuyến vì từ Huyệt Điện này tỏa ra hàng ngàn linh tuyến và liên hệ với miên dịch tuyến. Huyệt Điện 7 liên quan giáp tuyến với toàn thể các cơ phận và là trung tâm cùa tri giác.

 

Các Huyệt Điện này được nối liền với nhau bằng Điện Đạo Chính ( Axial Pathway). Cuốn chung quanh điện đạo này, chạy theo hình xoắn ốc, là hai Điện Đạo Âm Dương. Ba điện đạo này chỉ gặp nhau ở trước cửa Huyệt Điện Một. Hai Điện Đạo Âm Dương luôn luôn hoạt động. Tất cả những hện trạng tâm lý của mỗi cá nhân đều hoạt động trên hai điện đạo này. Một thí dụ nhỏ về tình cảm, ta thấy có thể có hai hiện trạng : hiện trạng quyến rũ mà ta gọi là yêu, thuộc về dương, và hiện trạng hiềm kỵ mà ta gọi là ghét, thuộc về âm. Trong cuộc sống hàng ngày hai hiện trạng âm dương này luôn luôn xung khắc. Sư xung khắc này không cho Điện Đạo Chính thông thương với Điện Đạo Một. Tiềm Lực Năng không thể bò ra khỏi Huyệt Điện Một để lên khai thông các Huyệt Điện khác bị nghẽn. Điện Đạo Chính chỉ có thể thông thương với Huyệt Điện Một khi hai điện đạo Âm Dương được chế ngự.

 

Chế ngự bằng cách nào ?

Đã mấy ngàn năm rồi, từ Đông sang Tây, hầu hết các môn phái thiền đều công nhận, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, muốn chế ngự sự xung khắc của hai điện đạo Âm Dương ta phải tĩnh tâm. Khi tĩnh tâm con người sẽ tạm thời chận những hoạt động từ bên ngoài xâm nhập vào và dập tắt những tư tưởng trong tâm nổi dậy, tình trạng tâm lý và tâm thần của người tĩnh tâm sẽ ở vào thế “KHÔNG”, hai điện đạo Âm Dương sẽ ngưng hoạt động. Điện Đạo Chính sẽ được giải tỏa. Khi được giải tỏa, Điện Đạo Chính trở nên hoạt động. Tiềm Lực Năng có thể bò ra khỏi Huyệt Điện Một và đi lên mở các Huyệt Điện bị nghẽn. Khi các Huyệt Điện bị nghẽn này được khai thông, Sinh Lực Năng ngoài vũ trụ có thể chuyển vào cơ thể một cách thông suốt để phục hồi các cơ phận không lành mạnh vì thiếu Sinh Lực Năng khi các Huyệt Điện bị nghẽn,

   

Chú Thích :

 (1)   Rất nhiều sách nói về hào quang, bạn nào muốn tìm hiểu có thể tra cứu các tác giả sau đây : Barbara An Brennan (1987), W,E, Butler (1978, 1979),  Edgar Cayce (1987), Brugh W. Joy (1979), Stanley Kripper et al. (1974), J. Mishlove (1975), Time-Life Books (1987)

 (2) Có sách nói người ta có 3 thể : cơ thể (physical), khí thể (etheric), thiên thể (astral), kết hợp thành linh thể (spiritual).

   

 TẬP LUYỆN

   

Ai cũng có thể dùng Sinh Lực Năng để giúp người khác và tự trị liệu bằng cách khai thông các huyệt điện bị nghẽn. Việc tập luyện để khai thông các huyệt điện bị nghẽn khá khó, nhưng không phải không làm được. Từ trước tới nay những người dùng được môn này :

 a. Không muốn truyền lại cho người khác vì muốn giấu nghề hoặc quan trọng hóa vấn đề. Họ cho là ngoài họ ra không ai có thể làm được. Hơn nữa, có thể tin là Thượng Đế đã cho họ cái khả năng đó nên họ nghĩ người khác – phàm nhân – không thể có cái ơn đó được nên không muốn trao lại cho bất cứ ai.

 b. Không biết gì về nguyên tắc, chỉ được truyền nghề bằng cách thực hành, hay ngẫu nhiên dùng được nên không giảng và truyền lại được. Nếu muốn truyền lại phải vịn vào tâm linh hay phù phép v.v…

 Trên thực tế, ai cũng có thể khai thông các huyệt điện bị nghẽn được, chỉ cần làm sao chế ngự được hai Điện Đạo Âm Dương, Muốn đạt được mục đích này, người tập luyện phải :

 a.      Luôn luôn tin là mình có thể làm được.

 b.      Tĩnh tâm mỗi ngày. (1)

 Đây là một môn vừa huyền bí vừa thực nghiệm. Huyền bí vì những cái có đó mà khoa học chưa thể chứng minh được. Thực nghiệm vì nếu tập đều hòa, các huyệt điện bị nghẽn sẽ đươc khai thông, con người sẽ mạnh khỏe hơn nhiều, và có thể giúp người khác khai thông các huyệt điện hay giúp họ trị bệnh.

 Việc tập luyện sẽ rút ngắn lại rất nhiều nếu gặp người có khả năng trực tiếp khai thông các huyệt điện bị nghẽn. Tuy nhiên nếu ở xa không có ai giúp trực tiếp, người tập luyện có thể tự học để Tiềm Lực Năng có thể từ Huyệt Điện Một lên khai thông các Huyệt Điện bị nghẽn. Tự học, tự luyện rất khó thành tựu không ngoài lý do là không tự tin mình có thể làm được. Nhưng ai có thể tĩnh tâm được, hai Điện Đạo Âm Dương được chế ngự và không còn xung khắc nhau nữa, Điện Đạo Chính được giải tỏa, Tiềm Lực Năng có thể ra khỏi Huyệt Điện Một và lên khai thông các Huyệt Điện bị nghẽn như đã nói ở phần Linh Thể (2).

 Khi mới tự tập hoặc được người khác mở các huyệt điện giúp, người tập luyện rất nhiều khi chưa thấy gì khác thường, nhưng luyện tập chừng mươi ngày sẽ thấy như có điện chạy ra mười đầu ngón tay. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng thấy như vậy. Ngay người tu luyện lâu năm rồi nhiều khi cũng cảm thấy như không có “điện”. Muốn có phải tĩnh tâm.

 Tĩnh tâm không cần lâu. Nếu  có thể cầm trí được không nghĩ miên man từ chuyện này sang chuyện khác thì chỉ cần một phút là đủ. Nhưng nếu không cầm trí được sẽ phải mất nhiều thì giớ tĩnh tâm hơn (3).

   

Lý Thuyết

 

 -   Phải biết rõ về sự cấu tạo của cơ thể và linh thể. Vị trí các huyệt điện và các cơ phận liên hệ   với chúng (xem mục Linh Thể).

 -        Phải biết các bệnh liên quan với các huyệt điện.

 -        Huyệt Điện 1 không có tác dụng trong việc trị liệu vì không có cơ phận nào liên quan với nó.

 Sau đây là một vài bệnh chính thường gặp liên hệ với các huyệt điện :

 -        Huyệt Điện 2 .

 ·        Riêng về phái nữ : Băng huyết, huyết bạch, kinh kỳ đau bụng, ngừa sẩy thai, tử cung có bứu, ung thư tử cung.

·        Riêng phái nam : Bất lực, hiếm muộn, liệt dương, xuất tinh sớm, ung thư các cơ phận thuộc cơ quan sinh dục.

 -        Huyệt Điện 3.

   Chung cho cả hai phái : ăn uống không ngon miệng, bao tử chảy máu, buồn nôn, đau gan, kiết lỵ, ruột dư, đau thận (nhất là sạn thận), tiểu đêm, tiểu gắt, táo bón, các chứng ung thư về bộ phận tiêu hóa.

 -        Huyệt Điện 4.

   Chung cho cả hai phái : Áp huyết cao, áp huyết thấp, các bệnh về tim và các mạch máu, mỡ trong máu (cholesterol).

 -        Huyệt Điên 5.

   Chung cho cả hai phái : dị ứng, cảm cúm, ho, hen suyễn, lao, ngạt mũi kinh niên, phổi có nước, sưng cổ họng, ung thư bộ phận hô hấp.

 -        Huyệt Điện 6 .

   Chung cho cả hai phái : Làm quân bình thần kinh hệ, buồn phiền, xuống tinh thần, luyện trí nhớ.

 -        Huyệt Điện 7.

 

  Chung cho cả hai phái : Dùng khi không nhớ hay không biết bệnh liên hệ với huyệt điện nào. Tuy nhiên khi dùng huyệt điện này để trị liệu sự hiệu nghiệm sẽ không nhanh bằng khi dùng huyệt điện liên hệ trực tiếp. Ngoài ra dùng huyệt điện này để trị bệnh khó ngủ rất hữu hiệu.

   Huyệt Điện này rất tốt trong việc bảo trì toàn diện sức khỏe. Chỉ cần tĩnh tâm rồi để tay lên huyệt điện chừng vài phút mỗi ngày là cơ thể, nếu có những sự lệch lạc, sẽ trở lại bình thường.

   

Thực Hành.

 

Như trong mục “Linh Thể” đã nói, điều quan trọng nhất trong việc dùng Sinh Lực Năng để trị liệu là làm sao để chế ngự được hai Điện Đạo Âm Dương. Hai điện đạo này chỉ có thể chế ngự được bằng Tĩnh Tâm.

 Trước khi đề cập tới vấn đề này, ta cần biết một vài nguyên tắc chính :

 a.      Phải kiên nhẫn.

 Muốn đạt được kết quả ta phải bền gan luyện tập rồi mọi sự sẽ từ từ tới. Thí dụ khi muốn biết bơi ai cũng phải cử động đồng bộ tay chân người mới nổi. Phải thở bằng miệng mới khỏi sặc. Nhưng ít ai làm được hai việc đó ngay cùng một lúc khi mới tập bơi. Vừa nhảy xuống nước, thấy chìm là quên hết, tay chân múa loạn xạ, thấy hết hơi vội thở như thường lệ bằng mũi thành ra sặc lên sặc xuống muốn chết. Nhưng đến một lúc nào đó hễ nhảy xuống nước là thấy nổi và hít vào bằng miệng, thở ra bằng mũi không phải nghĩ ngợi gì nữa. Vì thế trong khi tĩnh tâm không nên nản lòng. Ta sẽ thành công sau nhiều lần thất bại.

 b.      Phải sửa soạn tâm thần.

 Muốn thất bại không trở lại liên miên, ta phải gạt bỏ giân dữ, nghi ngờ, lo lắng, ham muốn, chán nản, ngã lòng, phiền muộn v.v… ra ngoài khi tĩnh tâm; vì thế trước khi tĩnh tâm ta nên sửa soạn tâm thần. Điều tốt nhất, nếu nhà có vườn sau rộng rãi, ta nên ra đó đi lại 5 hay 10 phút, nhìn cây, nhổ cỏ để mọi ưu tư lắng xuống rồi vào tĩnh tâm. Nếu trong chung cư chật hẹp, ta cũng có thể chăm sóc một hai cây cảnh. Chúng là những vật vô tri không cãi lại ta, không làm phiền ta và cũng không chỉ huy ta. Chúng là những vật cần ta ban ơn chứ không ban ơn cho ta nên khi chăm sóc chúng, ta có thể gạt hết mọi phiền toái của cuộc đời sang một bên. Sau một thời gian chăm sóc ta có thể bắt đầu tĩnh tâm.

 c.   Không lệ thuộc vào một phương pháp nào.

 Các phương pháp chỉ là phương tiện, không phải con đường “độc nhất vô nhị”, không phải là chân lý phải theo. Tuy nhiên nên  thử tất cả mọi phương pháp. Sau khi đã thử hết và tìm ra một phương pháp thích hợp nhất, ta sẽ dùng nó cho đến khi nó nhập vào ta như hình với bóng.

   

Chú thích :

 (1)   Tại sao phải tĩnh tâm mỗi ngày ? Tĩnh tâm mỗi ngày giúp ta chế ngự các Điện Đạo Âm Dương dễ dàng hơn. Điện Đạo Chính có thể hoạt động đều hòa, không bị trì trệ hàng tuần, hàng tháng. Các Huyệt Điện cũng thông suốt hơn.

(2)   Nhiều người đề cập tới phương pháp Thần Giao Cách Cảm để nhờ thầy mở các Luân Xa (Huyệt Điện). Tôi đã tra cứu nhiều sách của nhiều tác giả tiếng tăm nhưng không thấy ai dám khẳng định Thần Giao Cách Cảm là gì? Còn như nói là dùng phương pháp Thần Giao Cách Cảm để mở Luân xa (Huyệt Điện) thì theo sự suy luận của tôi, người tập luyện phải nghĩ tới ông hay bà thầy ở xa có thể giúp mình. Ngoài ra khi ông hay bà thầy ở xa bắt người tập luyện phải nghĩ tới ông hay bà. NGHĨ TỚI ÔNG HAY BÀ CÓ NGHĨA LÀ PHẢI CHÚ TÂM VÀO MỘT CÁI GÌ. KHI CHÚ TÂM VÀO MỘT CÁI GÌ TỰ NHIÊN KHÔNG CÒN XUNG KHẮC ÂM DƯƠNG NỮA. HAI ĐIỂM ĐẠO ÂM DƯƠNG NGƯNG HOẠT ĐỘNG. HỎA XÀ (Tiềm Lực Năng) LÊN KHAI THÔNG CÁC LUÂN XA (Huyệt Điện) như tôi đã trình bày trong mục Linh Thể.

Ngoài ra tuy đã cố công tìm tòi qua sách vở nói về kết quả nghiên cứu cũng như kinh nghiệm của các thiền sư, guru v.v… tôi chưa thấy một sách nào dám khẳng định là dùng Luân Xa Sáu (Huyệt Điện Sáu) để chuyển ý của mình tới người khác để xin người đó giúp mình hay giúp người khác.

(3)   Tĩnh tâm ở đây không phải là tu thiền mà chỉ là làm sao chế ngự được hai Điện Đạo Âm Dương để Điện Đạo Chính có thể hoạt động được. Vì thế chỉ trong một phút không cho các Điện Đạo Âm Dương xung khắc là cửa Huyệt Điện Một có thể mở được rồi, và Tiềm Năng Lực có thể chạy thẳng lên Điện Đạo Chính để khai thông các huyệt điện bị nghẽn. Sự khai thông này cũng rất mau.

 

 TĨNH TÂM

 

Tĩnh tâm là điều quan trọng nhất trong việc dùng Sinh Lực Năng để trị liệu bảo trì sức khỏe. Không ai có thể truyền cho người khác một phương pháp tĩnh tâm độc nhất và hữu hiệu cả. Tĩnh tâm là kinh nghiệm bản thân. Tuy nhiên muốn có được kinh nghiệm bản thân đó, ta phải học  qua các bộ môn của thuật tĩnh tâm. Nếu có thể nên thử tất cả các bộ môn. Sau khi thử rồi ta sẽ thấy bộ môn nào hợp với ta nhất, thử đi thử lại nhiều lần, chế biến cho hợp với khả năng sức khỏe cũng như tâm thần để rồi dần dần tiến tới một phương pháp hữu hiệu tự ta tìm ta.

 

Tĩnh tâm ở đâu ?

 

Chỗ dùng để tĩnh tâm không quan hệ. Ta có thể tĩnh tâm ở bất cứ nơi nào. Khi ngồi chờ bác sĩ, nha sĩ, giờ nghỉ việc, v.v..Tuy nhiên muốn tiến tới một kết quả mau chóng và khả quan ta nên dành một chỗ trong nhà, ngoài sân, ngoài vườn, đâu cũng được để tĩnh tâm. Chỗ này ta chỉ dùng để tĩnh tâm, không dùng cho bất cứ một việc gì khác. Dành một chổ riêng biệt để tĩnh tâm có cái lợi là mỗi khi qua đó ta phải nghĩ đến việc tĩnh tâm rồi. Ngoài ra, khi ngồi ở một chổ dành riêng cho việc này, trong khi tĩnh tâm sẽ không có hình ảnh nào khác làm ta chia trí. Sau khi quen rồi, việc kiềm chế nội tâm và ngoại cảnh đã đạt được, ta có thể tĩnh tâm bất cứ nơi nào.

 

Tĩnh tâm  vào lúc nào ?

 

Nói chung ta không  cần phải tĩnh tâm vào giờ nào nhất định. Khi có thì giờ rảnh rang thuận tiện là ta có thể tĩnh tâm được. Tuy nhiên lúc đầu ta nên chọn một giờ nhất định nào đó để tĩnh tâm. Khi chọn một giờ nhất định ta phải tuân theo một kỷ luật rồi thành ra khi tĩnh tâm ta sẽ không phải cố gắng lắm để cầm trí. Hơn nữa, khi chọn một giờ nhất định ta có thể tĩnh tâm đều hòa không bị gián đoạn tùy hứng.

 

Ta cũng nên lưu ý la không bao giờ tĩnh tâm vào lúc no hay sau khi uống rượu dủ chỉ một ly nhỏ hay một lon bia. Khi no, bộ máy tiêu hóa phải làm việc nhiều, việc tĩnh tâm sẽ bị cản trở. Rượu dù chỉ một ly nhỏ cũng làm kích thích hệ thần kinh, ta sẽ không  thể giữ đầu óc khỏi nghĩ miên man sang các truyện khác.

 

Dùng “THẾ” nào để tĩnh tâm ?

 

Ngồi, quỳ, nằm không quan hệ. “Thế” nào thuận tiện nhất thì ta dùng. Người quen ngồi xếp bằng có thể là một “Thế” thuận tiện và dễ chịu nhất, nhưng với những người không quen đây có thể là một cực hình. Những người này có thể ngồi trên ghế hay quỳ. Những người ốm yếu mệt mỏi có thể nằm để tĩnh tâm.

 

Nều dùng “Thế” ngồi xếp bằng, ta nên ngồi lên một cái gối hơi cao. Ngồi trên gối sẽ đỡ mỏi đùi và đỡ bị chuột rút khi ngồi lâu. Ngoài ra khi ngồi trên gối ta có thể giữ lưng  thẳng dễ dàng hơn. Giữ cho xương sống thẳng không có ảnh hưởng gì trong việc tĩnh tâm, nhưng khi tĩnh tâm với lưng thẳng ta sẽ thấy thoải mái hơn sau khi tập ngồi thẳng quen rồi.

Khi dùng “Thế” ngồi để tĩnh tâm hai bàn tay có thể để ngửa hay úp trên đầu gối, ta cũng có thể để hai bàn tay ngửa lên nhau ở giữa lòng. Nhiều người muốn để ngửa lên đấu gối như hình các vị thiền sư ngồi tĩnh tâm. Một vài môn phái đã đặt ra quy luật ấy, nhưng đó không phải là quy luật chung phải theo. Nhiều người cảm thấy không thoải mái khi đặt tay ngửa lên đầu gối vì khi ngửa bàn tay, gân, xương, mạch máu v.v..phải xoay nửa vòng nên thấy mệt mỏi hơn và dễ chia trí hơn.

Trừ trường hợp dùng mắt, trong khi tĩnh tâm không nên nhắm hay mở mắt. Mắt chỉ nên lim dim. Mắt mở, khi một vật gì diễn qua, một con ruồi bay chẳng hạn, cũng làm ta chia trí.. Còn nhắm mắt thì nội tâm nổi dậy diễn hành sau cặp mắt nhắm, vì thế khi lim dim sẽ giúp ta không rơi vào hai trường hợp trên.

 

Tĩnh tâm bao lâu ?

 

Mục đích của tĩnh tâm là chế ngự sự hoạt động của hai Điện Đạo Âm Dương để Điện Đạo Chính có thể hoạt động khi được giải tỏa. Tiềm Lực Năng có thể ra khỏi Huyệt Điện Một để lên khai thông các Huyệt Điện bị nghẽn. Việc khai thông này rất mau vì thế ta chỉ cần chế ngự hai Điện Đạo Âm Dương trong một thời gian rất ngắn cũng đủ giải tỏa Điện Đạo Chính. Nhưng việc chế ngự hai Điện Đạo Âm Dương rất khó vì thế nhiều khi ta đã phải mất khá nhiều thì giờ để sửa soạn. Tuy nhiên không nên tĩnh tâm quá 10 phút. Sau khi luyện tập một thời gian ta chỉ cần 5 phút là đủ.

Tĩnh tâm là một điều khá khó. Khó hơn nữa và làm nản lòng người tập là thuyết “Tẩu Hỏa Nhập Ma” đã đưa ra rất nhiều điều ly kỳ huyền hoặc. Tĩnh tâm là một thứ thiền. Nói tới thiền không ai không đặt câu hỏi : Tập thiền có bị “Tẩu Hỏa Nhập Ma” không ? Theo Thiền Tông vấn đề này không bao giờ xẩy ra. Nhưng tại sao người ta mang vấn đề “Tẩu Hỏa Nhập Ma” ra để cảnh giác những ai muốn tập thiền ?

Cách đây vài thế kỷ, sự thay vị đổi ngôi của “Thiền Tông” và “Tịnh Độ Tông” trong Phật Giáo đã phát sinh ra thuyết này. Tại sao ? Riêng Việt Nam có thể vì hai lý do sau đây :

a.  Sau nhiều năm binh lửa, văn hóa suy đồi, tiếp theo đó Pháp sang đô hộ, cơ cấu xã hội thay đổi, đau thương kéo dài vì thế chủ trương “Tức Tâm Tức Phật” của “Thiền Tông” không giải đáp được những cái thiếu thốn của con người, không giải quyết được các đau thương của cuộc sống nên con người đã phải chuyển sang việc xin Phật cứu độ. “Tinh Độ Tông” bành trướng mạnh.

 

b.   Khi “Tinh Độ Tông” bành trướng, các vị kế thừa của “Thiền Tông” ít người đạt đạo vì thiếu người hướng dẫn, thiếu sách vở nên căn bản tu luyện của “Thiền Tông” thất truyền. Ngoài ra để giữ ngôi vị độc tôn trong Phật giáo, “Tinh Độ Tông” đã đưa ra thuyết “Tẩu Hỏa Nhập Ma” để triệt hạ “Thiền Tông”.

Tóm lại tĩnh tâm không bao giờ đưa đến vấn đề “Tẩu Hỏa Nhập Ma” cả.

Tĩnh tâm có bao nhiêu Bộ Môn ?  Tĩnh tâm có thể chia ra làm hai Bộ Môn chính :

a.      Bộ Môn Chủ Động

b.  Bộ Môn Thụ Dộng.

 

 BỘ MÔN CHỦ ĐỘNG.

 

Tĩnh tâm theo bộ môn chủ động rất ít có người có thể thực hiện được. Muốn theo phương pháp này ta phải theo thứ tự từng giai đoạn sau đây :

1.  Trước hết bằng lý trí ta bắt tất cả các bắp thịt của các cơ phận chuyển vận tuân theo một kỷ luật chặt chẽ nhưng không gò ép. Sau khi bắt các bắp thịt của các cơ phận chuyển theo kỷ luật rồi ta lại dùng lý trí ra lệnh cho các bắp thịt đó lơi ra.

Giai đoạn này có thể làm đi làm lại nhiều lần tùy theo sức khỏe của mỗi ngưởi. Nên lưu tâm là động tác này không gò bó nhưng khi lý trí chỉ huy các bắp thịt cùa các cơ phận sẽ làm tâm thần lẫn thể xác khá mệt mỏi, vì khi tập phải giữ hoàn toàn bất động. Sự chuyển vận của các bắp thịt chỉ nằm dưới da mà thôi.

 

2.  Sau khi tập vài lần giai đoạn trên ta có thể chuyển sang điều khiển nội tâm. Trong giai doạn này ta phải làm sao để nội tâm yên tĩnh không bị xáo trộn. Toàn thân bất động, tất cả các cơ phận cởi mở không gò bó.

Giai đoạn này cũng như giai đoạn trên ta phải hít vào bằng mũi thở ra bằng miệng thật thong thả nhẹ nhàng không một tiếng động.

Cũng như giai đoạn trên điều khiển nôi tâm tuy không phải cử động gì nhưng rất mệt mỏi, Vì thế khi thấy mệt phải nghỉ ngay không nên cố gắng. Tập nhiều ít tùy khả năng và sức khỏe của mỗi người, nhưng không bao giờ tập quá 5 phút.

3.  Sau khi tập xong giai đoạn hai, ta có tể bắt đầu điều khiển việc vận khí đến từng cơ phận. Tới trình độ này mỗi khi vận khí ta sẽ thấy như có một luồng Sinh Khí từ ngoài vũ trụ đi theo với hơi thở và luồng Sinh Khí này sẽ chạy đến bất cứ cơ phận nào ta muốn.

Khi đạt dến giai đoạn này con người sẽ cảm thấy rất thoải mái. Nếu có bệnh ở bất cứ một cơ phận nào ta sẽ dùng luồng sinh khí này để trị liệu và sau đó bảo trì.

Bộ môn chủ động này tập rất khó và mất rất nhiều thì giờ. Ngoài ra ta phải kiên trì và tập hằng ngày. Lúc đầu sẽ như lạc vào mê hồn trận nhưng rồi dần dần sau vài năm luyện tập ta sẽ tìm ra được một đường lối trước còn mờ ảo, sau rõ thêm và cuối cùng nó thấm vào ta như trường hợp người võ sĩ điêu luyện cầm kiếm đấu với địch. Ông hay bà không nghĩ đến kẻ địch, không nghĩ đến chính mình, không nghĩ đến đường kiếm của mình hay của địch. Ông hay bà đứng đó, quên hết mọi kỷ thuật. Khi vung kiếm lên ông hay bà làm việc đó mà là lưỡi kiếm trong bàn tay  tiềm thức điều khiển (D.T. Suzuki, 1960)

Tóm lại bộ môn chủ động là phương pháp tĩnh tâm tốt nhất nhưng cũng khó thực hiện nhất. Muốn thành công ta phải có một ý chí rất mạnh để đi theo từng giai đoạn đến nơi dến chốn cho tới khi ta có thể chế ngự được mọi xung khắc nội tâm để tiến tới bất cứ một lãnh vực nào trong việc tu thân cũng như trị liệu và bảo trì sức khỏe.

Bộ môn này người bận rộn, nhiều ưu tư không nên tập và cũng không nên thử. Nếu muốn thử thì chỉ khi nào thành công trong một môn thụ động nào đó rồi hãy bắt đầu.

Bộ môn này nếu luyện thành công việc chuyển Sinh Lực Năng vào cơ thể rất dể dàng và con người sẽ luôn luôn khoan khoái dễ chịu. Tuy nhiên dù là tập thành công rồi việc luyện tập hằng ngày cũng không nên làm quá 10 phút.

 

   BỘ MÔN THỤ ĐỘNG.

Phần đông ý chí không đủ mạnh để chi huy cơ phận, nội tâm cũng như vận khí, ta phải trông nhờ vào các giác quan để tĩnh tâm. Sau đây là một vài phương pháp căn bản giúp ta thực hành bộ môn tĩnh tâm thụ động. Sau khi thử ta sẽ tìm ra một phương pháp độc nhất, thuận tiện và hợp nhất với hoàn cảnh cũng  như sức khỏe của ta.

1. Dùng Mắt.

Dùng mắt để tĩnh tâm là một trong những phương pháp thông dưng từ ngàn xưa. Khi nhìn vào một điểm hay một vật gì ta phải tập trung tư tưởng vào đó nên nội tâm sẽ không phân tán đi nơi khác. Tập trung tư tưởng vào cây nến (ngọn đèn cầy) có thể là một phương pháp hữu hiệu nhất.

Trước khi bắt đầu ta nên :

a.  Thắp một cây nến.

b.  Ngồi hay quỳ trước cây nến.

-  Ngọn nến ở ngang tầm mắt.

-  Khoảng cách giữa cây nến và mắt xa chừng một thước hay thước rưỡi. (3 tới 5 feet).

Khi an vị rồi ta nhìn thẳng vảo cây nến, không cố gắng, buông xuôi tất cả từ cơ phận đến nội tâm. Khi mỏi mắt cần chớp  ta cứ làm theo sự đòi hỏi của mắt.

a.  Quan sát sự chuyển vận của ngọn lửa (chừng 30 giây).

b.  Quan sát sự chuyển màu của ngọn lửa (chừng 30 giây).

c.  Nhắm mắt và hình dung sự chuyển vận và sự thay màu của ngọn lửa (chừng 30 giây)

Mở mắt ra và bắt đầu làm lại các giai đoạn 1, 2 và 3. Nên nhớ là làm từng giai đoạn ngắn chừng 30 giây và làm nhiều lần vì :

-  Nếu nhìn lâu quá mắt sẽ mỏi. Sự mệt mỏi này ảnh hưởng rất nhiều tới vấn đề tập trung.

-  Khi cây nến cháy dần xuống “hoa đèn” sẽ làm ngọn lửa chuyển vận khác và tỏa ra màu sắc khác. Điều này rất quan trọng vì ta sẽ thấy những cái mới lạ. Những mới lạ từ từ tiến tới nên không làm ta chia trí và cũng không làm ta chán vì phải luôn luôn chăm chú vào một vật không thay đổi. Nhìn vào một vật không thay đổi cũng dễ làm phân tán tư tưởng.

 

Chú ý :

*  Khi mới bắt đấu chỉ nên thi hành ba giai đoạn trên ba lần là đủ. Sau khi tập quen rồi ta có thể làm lên tới 10 lần.

*  Khi dùng mắt để tĩnh tâm vấn đề thở không quan trọng. Ta cứ thở bình thường không cố gắng và cũng không cần phải để ý đến hơi thở.

 

2.  Dùng Tai.

 

Dùng tai để tĩnh tâm có thể chia làm hai giai loại :

a.   Dùng tiếng động bên ngoài.

b.      Dùng tiếng động từ nội tạng.

 

a.  Dùng tiếng động bên ngoài.

Ta có thể dùng bất cứ một loại tiếng động nào với điều kiện là tiếng động đó phải luôn luôn phát ra một nhịp đều đều và âm giai không thay đổi. Chuông, mõ là những vật phát thanh thuận tiện nhất dùng để tĩnh tâm. Nhưng chúng sẽ làm phiền hàng xóm nếu ta ở trong khu chung cư. Để tránh những bất tiện này ta nên mua một cái đồng hồ đo phút dùng trong bếp. Cái đồng hồ này sẽ phát ra một tiếng nhỏ bắt ta phải chú ý tới. Ngoài ra cái đồng hồ này có thể để bao nhiêu phút tùy ý và không phải lo đến việc giữ giờ.

Khi không thể dùng những vật phát ra những âm lớn ta cần phải có một chỗ khá yên tĩnh để có thể nhận được các âm nghe rất nhỏ phát ra từ các máy hay đồ vật.

 

b. Dùng tiếng động từ nội tạng.

Nghe được tiếng động từ nội tạng rất khó ngay như tiếng tim đập nhiều khi ta cũng không thể nhận ra được vì thế khi muốn dùng phương thức này ta phải có một nơi thật yên tĩnh, ngay như tiếng đền “néon” kêu cũng làm cản trở việc tĩnh tâm này.

Dùng tiếng động từ nội tạng để tĩnh tâm ta có thể nằm hay ngồi. Nằm thuận hơn vì ít mỏi. Không phải chuyển mình ta có thể phân tách được tiếng dù rất nhỏ. Khi dùng tiếng động của nội tâm để tĩnh tâm ta nên nằm và nằm ngửa, hai tay để trên bụng, dưới rốn, tay nọ chồng lên tay kia không cần phân biệt tay nào trên tay nào.. Tuy nhiên nên chọn “thế” nào thoải mái nhất để có thể ít cử động nhất trong thời gian tĩnh tâm.

3. Dùng Âm.

Dùng âm để tĩnh tâm cũng là phương pháp thông dụng nhất vì nhiều môn phái đã dùng “Chú” (một chữ hay một câu, hay một bài) để tĩnh tâm.  “Chú” thường dùng nhất có thể là “Chú” OM.

 

Khi dùng “Chú” OM để tĩnh tâm, âm phát ra vừa phải, không cao không thấp. Dưới mức trung bình một chút. Nguyên âm O nhẹ hơn phụ âm M. Nói cách khác khi đọc “Chú” này ta bắt đầu bằng nguyên âm O ngắn nhưng sang phụ âm M ta phải làm sao cho phụ âm này có âm vang và mạnh.

Thực hành :

- Ngồi xếp bằng (nếu có thể). Đừng để tâm hồn phiêu du đâu cả. Từ từ hít vào bằng mũi cho đầy phổi rồi chú tâm vào hai chữ O và M.

- Phát âm O (mở miệng) và khi sang âm M từ từ ngậm miệng lại. Khi phát âm này sẽ phải thở ra bằng miệng khi phát am O và từ từ thở ra bằng mũi khi phát âm M cho đến hết hơi trong phổi.

Nên lưu ý là thời gian hít vào phải ngang với thời gian phát hai âm O và M. Tuy nhiên không nên nghĩ nhiều về vấn đề này quá, sau một thời gian luyện tập hai khoảng thời gian này sẽ tự động đều nhịp với nhau.

Chú ý :

Khi hít vào phải chú ý vào hơi thở. Khi phát âm phải chú tâm vào hai âm điệu O và M.

Ta có thể làm nhiều lần nhưng không nên làm dưới 5 phút và quá 15 phút. Dưới 5 phút chưa đủ thì giờ để đưa nội tâm vào thế không và quá 15 phút sẽ khá mệt vì nếu thực sự để tâm vào đọc chú.

4. Dùng Hơi Thở.

Đây cũng là một phương pháp thông dụng nhất. Trước hết ta phải để hết tâm vào đường hơi thở. Ta phải thở rất nhẹ nhàng không cố gắng.

Thực hành :

- Ngồi xếp bằng hay bất cứ một “Thế” nào thuận tiện cho ta nhất. Toàn thân không một bắp thịt, không một cơ phận nào trong tình trạng căng thẳng.

- Hít vào bằng mũi. Trước hết chuyển xuống bung và dần dần đưa lên phổi. Khi đầy phổi rồi thở ra bằng miệng. Tâm phải theo với hơi thở.

Điều quan trọng là phải thở rất nhẹ nhàng không cố gắng và cũng không cho phát ra thành tiếng. Không nên làm dưới 5 phút và thời gian kéo tới 15 phút là quá đủ.

Trên đây chỉ là một vài phương pháp căn bản. Sau khi tập, thử, chế biến và áp dụng ta sẽ tìm ra một phương pháp của ta và khi cần đến  Sinh Lưc Năng ta chỉ cần tĩnh tâm trong một phút là đã thấy Sinh Lực Năng ra đầu ngón tay rồi.

 

           TRỊ LIỆU và BẢO TRÌ

 

Nếu chỉ cần trị liệu và bảo trì sức khỏe ta không cần biết nhiều lắm, mà chỉ cần biết : cơ phận nào liên hệ với huyệt điện nào, tập tĩnh tâm và những điều cần lưu ý trong khi dùng Sinh Lực Năng là đủ. Ngoài ra, điều quan trọng nhất là phải TIN là mình làm được. Tin mình có thể làm được vì đây là của Trời cho tất cả mọi người, không dành riêng cho ai. Nói cách khác đây là cái bẩm sinh cố hữu của con người.

Thật vậy, dùng Sinh Lực Năng để trị liệu không phải bây giờ mới có và cũng không phải là độc quyền của môn phái nào. Ấn Độ, Tàu, Tây Tạng, Do Thái, Ai Cập, La Mã v,v,, đã dùng môn này từ mấy ngàn  năm rồi. Theo tài liệu ghi lại của một số nhà thám hiểm xưa khi đến nước Tàu, họ thấy có nhiều thày thuốc, nhiều thiền sư đã dùng Sinh Lực Năng để trị bệnh bằng để bàn tay lên chỗ đau. Không phải nhìn đâu xa, các bà mẹ, khi con ngã bêu trán, sứt tay khóc inh ỏi, chỉ cần bế con lên, ôm vào lòng và để tay lên chỗ đau, cơn đau dịu liền và chỉ trong một hai hôm là khỏi. Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều có bác học, bác sĩ đang cố nghiên cứu việc dùng Sinh Lực Năng để trị liệu và bảo trì sức khỏe cũng như tâm thần.

Tuy nhiên Sinh Lực Năng không phải là thuốc thánh, để tay vào đâu khỏi đấy. Đây chỉ là phương pháp hổ trợ và bảo trì cơ thể mà thôi. Khi bảo trì và hổ trợ cơ thể, Sinh Lực Năng chuyển vào cơ thể thay thế cho phần Sinh Lực Năng đã tiêu dùng sẽ làm hồi phục khả năng kháng bệnh và dân dần bệnh sẽ khỏi, Vì thế các bệnh cấp cứu vẫn cần đến thuốc và y sĩ.

Sau đây là vài điều cần biết khi dùng Sinh Lực Năng :

a. Dùng Sinh Lực Năng để trị liệu hữu hiệu nhất khi bệnh đang phát (người bệnh đang cảm thấy đau).

b. Dùng Sinh Lực Năng để bảo trì có thể dùng bất cứ lúc nào. Nếu cần có thể dùng mỗi ngày và mỗi ngày nhiều lần. Vì vậy không thể trông nhờ vào người khác, ta nên học hay tập để tự chữa và chữa cho người trong gia đình. Ngoài ra, trong nhà trị liệu và bảo trì cho nhau Sinh Lực Năng chuyển mạnh hơn vì tình thương mà trị liệu và bảo trì chứ không phải vì lợi  ích nào khác.

c. Khi trị liệu và bảo trì cả người dùng Sinh Lực Năng và người bệnh đếu phải tĩnh tâm.

d. Khi trị liệu, một tay để vào chỗ đau, một tay để vào huyệt điện liên hệ. Muốn có hiệu quả hơn người bệnh sau khi tĩnh tâm tự để tay vào chỗ đau, người trị liệu để tay lên trên tay người bệnh. Cả hai đều chú tâm vào bệnh. Sự chú tâm vào bệnh cũng là một cách tĩnh tâm, hai Điện Đạo Âm Dương sẽ ngưng hoạt động. Điện Đạo Chính sẽ được giải tỏa. Tiềm Lực Năng có thể bò lên khai thông các Huyệt Điện bị nghẽn, Sinh Lực Năng ngoài vũ trụ có thể chuyển vào cơ thể.

e. Trị liệu và bảo trì không cần phải để tay vào sát da. Tốt nhất là cách da chừng 2, 3 phân. Để tay vào sát da sẽ làm mất sự nhảy cảm của bàn tay trị liệu và bảo trỉ. Ảnh hưởng hơi nóng của da người bệnh tỏa ra nên tay người trị liệu và bảo trì khó cảm thấy sức đẩy của Sinh Lực Năng dội lại khi cơ thể người bệnh đã đủ không cần thêm nữa.

g. Khi trị  liệu và bảo trì có thể dùng cả bàn tay nhưng nếu chỉ dùng mấy đầu ngón tay, Sinh Lực Năng sẽ chuyển ra mạnh mẽ hơn. Nhiều khi nếu cần nên di chuyển các đầu ngón tay hay một ngón tay theo chiều thuận của kim đồng hồ từ trung tâm của chỗ đau vòng ra phía ngoài. Phương pháp này có thể là phương pháp hữu hiệu nhất. Tuy hiên phải luyện tập khá lâu mới có thể cảm thấy sức đẩy của Sinh Lực Năng dội lại.

h. Sức dội lại của Sinh Lực Năng có nhiều hiện tượng khác nhau : nóng, lạnh, sức đẩy, tê hoặc đau tay. Khi cảm thấy một trong những hiện tượng trên phải thôi ngay. Nếu cố thêm nữa người trị liệu sẽ đau tay hay bị bại tay trong một thời gian ngắn.

i. Thời gian trị liệu và bảo trì  sẽ tùy theo khả năng tĩnh tâm của mỗi người. Có người chỉ cần hai hay ba phút là cảm thấy Sinh Lực Năng đã vào đủ. Có người phải mất nhiều thì giờ hơn và có người không cảm thấy gì. Vì thế lúc đầu khi chưa bắt được sự dội lại của Sinh Lực Năng ta nên trị liệu độ 5 phút là nhiều. Sau 5 phút ta có thể nghỉ một lát rồi tiếp tục lại.

k. Khi khỏi bệnh rồi vẫn nên tiếp tục bảo trì, bệnh sẽ khó tái phát hơn.

l. Trị liệu và bảo trì trong khi giận dữ hay uống rượu sẽ không đem lại kết quả mong muốn (Người trị liệu sẽ không dùng được Sinh Lực Năng vì hai Điện Đạo Âm Dương không chế ngự được).

m. Khai thông các huyệt điện phụ. Ngoài 7 huyệt điện chính, linh thể còn có hàng chục ngàn huyệt điện phụ (72,000 theo phái Mật tông Kasmir Shaivite). Các khoa châm cứu và đốt dùng một số các huyệt điện này từ mấy ngàn năm rồi. Khi dùng Sinh Lực Năng để trị liệu, muốn có kết quả mau lẹ hơn ta nên khai thông các huyệt điện này trước.

Muốn khai thông các huyệt điện phụ ta để người bệnh ngồi hay nằm, Người trị liệu để hai bàn tay xòe ra cách người bệnh chừng 10 phân (các ngón tay cách nhau chừng một hay nửa phân) từ đỉnh đầu người bệnh từ từ kéo xuống tới chân phía trước mặt (lòng bàn tay đi trước các ngón tay theo sau). Khi hai tay xuống tới chân rồi, hai tay cứ xòe ra như vậy và vẩy như vẩy tay ướt (một cách thay đổi sức ra của Sinh Lực Năng). Sau khi vẩy tay chừng hai ba lần, khít mấy ngón tay lại, chuyển bàn tay ra bề ngang, đưa ra hai bên cạnh, lòng bàn tay quay vào người bệnh và từ từ kéo từ chân trở lên đầu, nhưng lần này kéo lên ở bên hông.

Khi quen dùng với phương pháp căn bản này rồi ta có thể :

Di chuyển hai bàn tay ngang người.

Để bệnh nhân nằm hay ngồi, người trị liệu với hai bàn tay xòe như trên từ giữa người kéo ra phía ngoài, lòng bàn tay quay ra phía ngoài và hai bàn tay song song với nhau. Khi ra tới phía ngoài rồi (sườn hay hông), vẩy tay như trên, khít mấy ngón tay lại rồi từ từ kéo kéo hai bàn tay vào giữa người. Lòng bàn tay tròng vào nhau.

n.  Tìm nơi đau.

Khi dùng phương pháp khai thông các huyệt điện phụ thành thạo rồi ta có thể tìm ra cơ phận nào đau bằng cách đưa bàn tay từ đầu xuống chân,. Cơ thể có nhiều lớp hào quang bao bọc. khi cơ phận nào đau các lớp hào quang quanh đó sẽ mất đi, bàn tay đi qua chỗ đó sẽ cảm thấy như phi cơ bay vào lỗ trống của lớp không khí.

(Nếu bạn nào muốn biết rõ hơn về các thứ hào quang và khi hào quang bị hao đi ở các cơ phận bị bệnh nên đọc các tác giả tôi đã ghi trong mục “Linh Thể” phần chú thích.)

Khai thông các huyệt điện này ngoài khoa châm cứu và khoa đốt cùa Á Châu, các bác sĩ Tây phương đang nghiên cứu và đã có nhiều người dùng để trị liệu.

Một phương pháp khác để khai thông các huyệt điện phụ rất hữu hiệu là môn Khí Công Cổ Việt Nam “Thập Thức Bảo Kiện Pháp”. Môn này rất hay, chúng tôi (Anh Lê và Lê Ngọc San) đã cho xuất bản.

o.  Sinh Lực Năng chỉ có thể hổ trợ và bảo trì cơ thể nếu cơ thể được nuôi dưỡng đúng mức. Muốn được như vậy, phải ăn uống cẩn thận đủ chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể và nước để thanh lọc cặn bã. Ngoài ra phải cẩn thận khi ăn muối, nước mắm (chất mặn nói chung) và bột ngọt. Ăn mặn và bột ngọt thường hay bị áp huyết cao. Biến chứng của áp huyết rất tai hại.

p.  Nếu các bệnh không thuộc về nội tạng và bảo trì, chỉ cần để tay vào chỗ đau cũng đủ. Muốn Sinh Lực Năng chuyển mạnh hơn ta có thể dùng thêm huyệt điện 7.

q.  Khi luyện tập lâu ngày rồi, khi trị liệu và bảo trì cho mình và cho người khác chỉ cần để tay vào chỗ đau cũng đủ.

 

               HUYỆT ĐIỆN  (Luân Xa)

 

Huyệt điện thường được gọi là Chakra (nhiều sách viết là Cakra). Ý nghĩa nguyên thủy của nó là bánh xe nên nhiều môn phái Việt ta dùng từ Luân Xa.

Huyệt điện là những điểm chính của Linh Thể nằm trong lớp xương sống, nơi Sinh Lực Năng ngoài vũ trụ chuyển vào để nuôi cơ thể. Trên các bức vẽ đầu tiên, các huyệt điện chỉ là những chấm, nhưng sau nhiều thế kỷ một vài môn phái đã thay thế bằng các bông sen và bây giờ hầu hết các sách vở dùng loại hoa này để làm biểu tượng cho huyệt điện.

Trong tình trạng bình thường các bông sen này chỉ là những nụ sen còn hàm tiếu. Khi Tiềm Lực Năng từ huyệt điện 1  bò lên tới nụ sen nào thì nụ sen đó nở bung ra để Sinh Lực Năng từ ngoài vũ trụ có thể chuyển vào nuôi cơ thể. Khi Tiềm Lực Năng trở về huyệt điện 1 các bông sen này lại cúp lại như cũ. Vì thế muốn có Sinh Lực Năng ngoài vũ trụ chuyển vào để nuôi cơ thể ta phải tĩnh tâm để Tiềm Lực Năng có thể ra khỏi huyệt điện 1 và lên khai thông các huyệt điện đang bị đóng lại như các bông sen còn hàm tiếu.

Theo các hình vẽ xưa của Ấn Độ, Tây Tạng, Nepal v.v.. trên mỗi cánh hoa sen của các huyệt điện có ghi thêm 1 trong những mẫu tự của chữ Phạn. Những mẫu tự này được ghi theo cường độ điện lực của mỗi huyệt điện. Sách vở ra đã nhiều nhưng chưa sách nào giải thích được các mẫu tự này một cách rõ ràng và ngay như trong cùng một môn phái mỗi người cũng giải thích một cách khác nhau. Các màu của các huyệt điện, như các mẫu tự Phạn, tuy để ấn  định cường độ điện lưc của mỗi huyệt điện nhưng cũng được đưa ra và giải thích theo đường hướng của mỗi môn phái.

Trên các huyệt điện còn có vẽ :

- Những hình khác nhau như hình tròn, hình vuông, hình tam giác v.v..

- Những vật khác nhau như voi, cá sấu với đuôi cá, dê, sơn dương và voi sáu vòi.

- Một “chú” chính.

- Hai vòng tròn nhỏ ở các huyệt điện 1, 2, 3, 4, và 5, Trong các vòng đó có vẽ hình thần nam và thần nữ.

- Huyệt điện 6 chỉ có một vòng. Trong đó có hình tượng trưng cho hai thần nam nữ hòa hợp.

- Huyệt điện 7 chỉ là một bông sen 1.000 cánh.

 

Chú thích :

- Các chữ khi chuyển từ mẫu tự Phạn sang mẫu tự La Mã người đọc thường thấy nhiều cách viết khác nhau, có khi thêm dấu hay thêm phụ âm M ở cuối chữ.

- Vì rất khó đánh dấu cho dúng với mẫu tự Phạn, trong sách này tất cả các chữ dùng mẫu tự La Mã tôi đã bỏ dấu đi cho tiện và để khỏi lầm lẫn khi bỏ dấu. Các phụ âm M cũng không dùng tới.

- Các huyệt điện này rất khó giải nghĩa và hầu như môn phái nào cũng muốn dùng làm của riêng, vì thế ta thấy các môn phái đều bắt buộc, muốn thụ pháp phải có “Minh sư” và “Minh sư” sẽ bí mật truyền riêng cho mỗi môn đệ một vài điều cần thiết. Sách vở nói về huyệt điện đều rất khó tìm, rất khác nhau, và cũng rất khó hiểu.

- Muốn sưu tầm các huyệt điện các bạn có thể tạm đọc những sách sau đây :

* B.A. Brennan. Hand of Light. N.Y. The Bantam Books, 1987.

* G. Krishna. The Awakening of Kundalini. N.Y.E.P. Dutton & Co. 1975.

* C.W. Leadheater. The Chakras. Wheaton , II. The theosophical Publishing House, 1987.

* Ajit Mookerjee. Kunlini. The arousal of the Inner Energy. N.Y. Destiny Books, 1983.

* Swami Sivananda Radha. Kundalini. Yoga for the West. Boston : Shambbala, 1985.

* Jean Varenne. Yoga and the Hindu Tradition. Translated from French by Derek Climan. Chicago : The University Press, 1976.

 

                               HUYỆT ĐIỆN  1

                       (First Chakra – Muladhara)

 

Huyệt Điện 1 biểu tượng bằng bông sen 4 cánh màu đỏ (red). Trên mỗi cánh có ghi mẫu tự Phạn Va, Sa, Sa, Sa màu vàng (yellow) hay vàng kim (gold). Bên trong 4 cánh là hình tròn màu trắng biểu tượng cho Trời. Trong hình tròn là hình vuông màu vàng (yellow) giữa hình vuông là “chú” LAM cả hai đều tượng trưng cho Đất.

 Giữa “chú” LAM là hình tam giác ngược màu đen biểu tượng cho ÂM HỘ.

- Trong hình tam giác là hình DƯƠNG VẬT màu đỏ. Vòng quanh dương vật là BA VÒNG RƯỠI GIÂY tượng trưng cho TIỀM LỰC NĂNG khi ngủ

 - Phía trên dương vật là MẢNH TRĂNG KHUYẾT màu vàng.

 - Dưới hình tam giác là CON VOI MỘT VÒI CÓ TRÒNG ĐEN Ở CỔ (1). Con voi này biểu tượng cho ĐẤT.

 - Mỗi cạnh và mỗi góc hình vuông đều có một mũi tên trượng trưng cho TÂM TÍNH CON NGƯỜI (thị hiếu) có thể đi theo chiều hướng. Nếu các hướng này không kiểm soát được tâm lý và tâm thần sẽ bị phân tán và ý chí sẽ không mạnh.

 - Từ hình tam giác ngược đi lên là Điện Đạo Chính (Sushumna-nadi) đường Tiềm Lực Năng đi lên khi điện đạo này được giải tỏa.

 - Ở góc bên phải của hình vuông còn có hai vòng tròn nhỏ :

 a. Vòng bên phải có hình thần nam 5 mặt 4 tay (màu đỏ thẫm). Mỗi tay của 3 tay cầm một vật khác nhau: cây đinh ba, cái bầu, tràng hạt và một tay xòe như đang đẩy một vật gì ra.

 b. Vòng tròn bên trái có hình thần nữ 4 tay (màu hồng bóng). Mỗi tay cầm một vật khác nhau: thanh gươm, cái bát, cái giáo và sọ người cắm trên cái gậy.

   

Chú thích :

 (1) Con voi ở huyệt 1 các tác giả đưa ra những hình không đồng nhất. Thí dụ Swami Sivanandha (1983) đưa hình con voi 7 vòi còn Ajit Mookerjee (1985) đưa ra hình con voi 1 vòi.

   

                        HUYỆT ĐIỆN 2

            (Second Chakra – Svadhisthana)

   

Huyệt điện 2 được biểu tượng bằng bông sen 6 cánh màu đỏ châu sa (vermilion). Trên mỗi cánh hoa có ghi những mẫu tự Phạn : Ba, Bha, Ma, Ya, Ra, La. Bên trong vòng tròn có hai bông sen màu trắng cũng nằm trong vòng tròn, chồng lệch lên nhau để làm thành hình mặt trăng màu trắng bạc lấp lánh biểu tượng cho THẦN TRĂNG. Thần Trăng chỉ du ngoạn về ban đêm, đổ sinh khí cho NƯỚC để NƯỚC nuôi muôn cây, cây sẽ nuôi người và các động vật khác.

 Thần Trăng cũng luôn luôn hiện diện khi hai sinh vật giao hợp. Thần Trăng sẽ nhỏ tinh dịch vào tử cung để tạo thành sự sống. Giữa bông sen trong cùng là “chú” VAM tượng trưng cho NƯỚC.

 Trong mặt trăng có con vật đầu cá sấu đuôi cá màu trắng miệng mở rộng, lưỡi đỏ. Con vật này biểu tượng cho THÚ TÍNH.

 Trên “chú” VAM có hai vòng tròn nhỏ :

 Vòng bên trái có hình thần nam màu xanh biển. Thần này có 4 tay mỗi tay cầm một vật đặc biệt: vỏ ốc, cái vòng, bông sen và trái chùy.

 Vòng bên phải là thần nữ 4 tay, cũng màu xanh biển với 3 mắt và răng nhe như  dọa nạt. Mỗi tay của nữ thần cầm một vật khác nhau : Đinh ba, hoa sen, cái trống và lưỡi tầm sét.

 Giữa huyệt điện là Điện Đạo Chính xuyên qua. Điện đạo này nối liền huyệt điện 2 với các huyệt điện 1 và 3.

 

                                    HUYỆT ĐIỆN 3

                             (Third Chakra – Manipura)

   

Huyệt điện 3 được biểu tượng bằng bông sen 10 cánh màu xanh lơ. Mỗi cánh có một mẫu tư Phạn : Da, Dha, Na, Tha, Da, Dha, Na, Pa, Pha. Bên trong các cánh là hình tam giác ngược màu đỏ thẫm nằm trong vòng tròn. Hình tam giác ngược này trong nhiều sách chỉ là hình tam giác thường, nhưng cũng có sách cạnh hình tam giác này có thêm hình chữ T (như trong hình trích dẫn). Giữa hình tam giác là “chú” RAM tượng trưng cho lửa. Dưới “chú” Ram là CON DÊ tượng trưng cho tính hung hăng và xung kích.

 Biểu tượng lửa ở huyệt điện này cho ta thấy bộ phận tiêu hóa là cơ quan chế biến đồ ăn bằng lửa bên trong con người thành đồ nuôi dưỡng cơ thể. Theo đó người tu luyện phải lưu tâm đến vấn đề ăn uống. Lửa trong con người nhiều khi không thể đốt hết đồ ăn để biến thành chất nuôi dưỡng vì thế mà bệnh mới phát xuất.

 Trong vòng tròn, phía bên phải Điện Đạo Chính xuyên qua huyệt điện có hai vòng tròn nhỏ :

 Vòng bên trái là thần nam màu đỏ 4 tay. Một tay cầm tràng hạt, môt tay phóng lửa, một tay ban ơn, và một tay xua đuổi mọi sợ sệt.

 Vòng bên trái là thần nữ màu xanh xẫm (dark blue) ba mặt, mỗi mặt có 3 mắt và 4 tay. Mặt tượng trưng cho ngũ quan và con mắt thứ ba tượng trưng cho sự thông suốt. Trong 4 tay, một tay phóng hỏa, một tay cầm đồ chế ngự còn hai tay kia một tay ban ơn và một tay xua đuổi.

 Giữa huyệt điện là Điện Đạo Chính xuyên qua nối liền huyệt điện này với các huyệt điện 2 và 4.

 

                           HUYỆT ĐIỆN 4

                     (Fourth Chakra – Anahata)

 

Huyệt điện 4 biểu tượng bằng bông sen 12 cánh màu đỏ tím (vermilion). Trên mỗi cánh có một mẫu tự Phạn : Ka, Kha , Ga , Na, Ca Cha, Ja,Jha, Na, Ta, Tha. Bên trong các cánh hoa, trong vòng tròn là hình tam giác xuôi và ngược làm thành một hình sao sáu cánh màu xanh thẫm. Giữa hình lục lăng thành bởi hai hình tam giác là “chú” YAM tượng trưng cho không khí. Giữa “chú” YAM là hình tam giác ngược màu vàng kim, tượng trưng cho ÂM. Bên trong hình tam giác ngược là hình dương vật tượng trưng cho Dương. Dưới “chú” YAM là một con sơn dương màu đen tượng trưng cho mau lẹ.

 Phía bên phải Điện Đạo Chính xuyên qua giữa huyệt điện là hai vòng tròn nhỏ :

 a. Trong vòng tròn bên trái là thần nam màu trằng hay gạch đỏ, ba mắt hai tay. Một tay ban ơn và một tay xua đuổi sự sợ hãi.

 b. Trong vòng tròn bên trái là thần nữ màu vàng bóng, 3 mắt, 4 tay. Một tay cầm một sọ người cắm trên một cái gậy, một tay cầm thòng lọng, còn hai tay kia một tay ban ơn và một tay xua đuổi sự sợ hãi.

 Huyệt điện nào cũng khó giải thích nhưng huyệt 4 này càng khó giải thích hơn vì nó có thêm một huyệt điện phụ - biểu tượng bằng bông sen tám cánh màu đỏ nằm ngay dưới huyệt điện chính. Trong huyệt điện này có hình một bàn thờ và cây KALPA (cây thiên ước – Celestial Wishing Tree). Không sách nào nói tới sự liên hệ giữa huyệt điện này với huyệt điện chính.

Giữa huyệt điện là điện đạo chính xuyên qua nối liền huyệt điện này với các huyệt điện 3 và 5.

 

                              HUYỆT ĐIỆN 5

                      ( Fifth Chakra – Visuddha)

 

Huyệt điện 5 được biểu tượng bằng một bông sen màu đỏ tím than 16 cánh tượng trưng cho KHÍ. Trên mỗi cánh có ghi một mẫu tự Phan : A, A, I, I, U, U, R, R, L, L, E, Ai, O, An, Am, Ah. Trong các cánh hoa là một hình tam giác ngược màu trắng bạc, Trong hình tam giác là một hình tròn có “chú” HAM và một con voi 5 vòi màu trắng như tuyết. Giữa vòng tròn là Điện Đạo Chính đâm thẳng lên.

Bên phải của điện đạo, trên hình tam giác là hai vòng tròn nhỏ :

a. Trong vòng bên phải là thần nam màu trắng, 5 mặt, mỗi mặt có ba mắt và 10 tay. Mỗi tay cầm một đồ vật khác nhau : Rắn chúa, đinh ba, chuông, lửa, kim cương quyền trượng, dây thòng lọng, lôi chùy, kiếm và lưỡi tầm sét. Trên cổ tay này có rắn quấn. Ngoài ra thần này còn mặc quần da báo nữa.

b. Trong vòng tròn bên phải là thần nữ màu vàng kim, 5 mặt, mỗi mặt 3 mắt và 4 tay. Mỗi tay cầm một vật khác nhau : Mũi tên, cây cung, kim cương trượng và dây thòng lọng.

Giữa huyệt điện là Điện Đạo Chính xuyên qua nối liền huyệt điện này với huyệt điện 4 và chạy thẳng lên huyệt điện 7.

 

                                      HUYỆT ĐIỆN 6

                                (Sixth Chakra – Ajna)

 

Huyệt điện 6 được biểu tượng bằng bông sen hai cánh trắng bạc, Hai chữ Phạn trên cánh hoa là Ksa và Ha. Trong vòng tròn là hình tam giác ngược vàng kim. Nằm trong tam giác này là “chú” OM (1).

Trên hình tam giác là mảnh trăng khuyết trắng. Trong mảnh trăng khuyết này là một điểm tròn vàng kim tượng trưng cho hai thần nam nữ hòa hợp. Trên điểm tròn là biểu hiệu của thần chủ trì huyệt điện.  

Trong huyệt điện 6 chỉ có một vòng tròn nhỏ, trong đó có hình thần nam nữ phối hợp màu trắng bạc. Thần này có 6 mặt trắng (mỗi mặt 3 mắt) và 6 tay. Mỗi tay cầm một vật khác nhau hay có những cử chỉ khác nhau : Quyển sách, sọ người cắm vào một cái gậy, cái trống, tràng hạt, bàn tay xua đuổi sự sợ hãi và bàn tay ban ơn.

 

Điện Đạo Chính không xuyên qua huyệt điện này mà chạy thẳng lên huyệt điện 7.  Sự liên lạc giữa huyệt điện 6 với các huyệt điện khác chưa ai biết rõ vì chưa có sách nào đề cập tới. Nhiều người khẳng định huyệt điện này đặt trên và vượt hẳn ra ngoài 5 huyệt điện trước. Cũng vì thế người ta coi huyệt điện này là trung tâm điều khiển mọi năng lực tâm linh. Nơi đây có thể là nơi bắt đầu của mọi cấu tạo về tâm thần và tâm linh trong đó có thần giao cách cảm.

Với ‘chú” OM của huyệt điện này chứng tỏ nơi  đây là khởi sự của mọi lãnh vực đồng hợp thể xác, tâm linh và năng lực truyền đạt của con người. Nơi đây là điểm tụ đồng của trí thức. Tất cả mọi khả năng suy tư cũng như những tư tưởng trừu tượng đều phát huy từ huyệt điện này.

 

Chú thích :

 

(1) Âm tiết OM (thần bí cổ) có một lịch sử dài trong đời sống tinh thần của Ấn Độ và các văn minh liên hệ. Đối với người Tây Tạng âm tiết này bắt đầu ở các “chú” là sự  mở đầu lời cầu khấn của sự phối hợp thể xác, lời nói và tinh thần.

 

                                                  HUYỆT ĐIỆN 7

                                       (Seventh Chakra – Sahasrara)

 

Huyệt điện 7 còn được gọi là huyệt điện ngàn tuyến được biểu tượng bắng bông sen ngàn cánh, ngàn màu, (nhưng Leadbeater (1987), một nhà thần thông học, nói chỉ có 972 cánh). Theo sách tham khảo thì huyệt điện này chứa đựng tất cả tiềm lực của các huyệt điện khác. Nói cách khác  huyệt điện này là trung tâm của tiểu vũ trụ - CON NGƯỜI.

Trên các cánh hoa có ghi tất cả các chữ hay biểu hiệu tượng trưng cho các diễn biến về thể phách cũng như tâm linh của con người.

Bông sen ngàn cánh ngàn màu của huyệt điện 7 là một bông sen úp xuống, cuống trổng ngược lên trời (1). Tất cả các cánh hoa này như hào quang đổ xuống tắm cho linh thể để rồi hổ trợ cho tất cả các cơ phận. Khi huyệt điện 7 được khai thông toàn diện con người sẽ thay đổi khác thường và theo hướng tốt.

 

Chú thích :

(1) Các xoắn ốc trên đầu Bụt Ốc tượng trưng cho các cánh hoa sen của huyệt điện này. Có thể hình Bụt Ốc này là biểu hiệu của Phật thành đạo*