Người Việt Nam đầu tiên theo đạo Công Giáo

 

 

 

NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU TIÊN THEO ĐẠO CÔNG GIÁO

`                                                                                                                         ĐỔ HUY

 

 

      Sơ lược vài nét về nước Việt Nam ở thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17.

  Nước Việt Nam ở thế kỷ thứ 16 và đầu thế kỷ thứ 17 ghi nhận được mấy điểm nổi bật :

1.       Phân tranh Nam Bắc.

2.       Tiếp xúc lần đầu tiên với Tây phương.

3.       Đạo Công giáo truyền vào nước Việt Nam.

  1. PHÂN TRANH NAM BẮC.

a.       Phân tranh Nam Bắc giữa nhà Mạc và nhà Lê/chúa Trịnh.

 Năm 1527 (Đinh Hợi) Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lên làm vua. Vua Lê Chiêu Tông và hoàng gia bị Mạc Đăng Dung giết chết.

   Ông Nguyễn Kim (Nguyễn Hoằng Kim) là con của một vị quan triều Lê (Nguyễn Hoằng Dụ) không phục Mạc Đăng Dung nên đã rút về vùng thượng du tỉnh Thanh Hóa và đất Sầm Châu (nay là tỉnh Sầm Nưa và Sầm Tợ, Ai Lao) lập căn cứ chống nhà Mạc. Ông tìm được con út của vua Lê Chiêu Tông, lập lên làm vua, lấy hiệu là Lê Trang Tông vào năm 1532 (Quý Tý).

   Ông chiêu binh mãi mã, chuẩn bị trong vòng 8 năm. Đến năm 1540, đem quân về đánh chiếm Thanh Hóa và Nghệ An. Năm 1545, ông đem quân ra đánh Sơn Nam (Nam Định) nhưng bị tướng nhà Mạc trá hàng đánh  thuốc độc chết. Binh quyền về tay con rể là Trịnh Kiểm. Trinh Kiểm rút quân về Thanh Hóa. Từ đó, từ Thanh Hóa trờ vào thuộc nhà Lê. Từ Sơn Nam đổ ra thuộc nhà Mạc. Cuộc phân tranh Nam Bắc bắt đầu.

b.       Phân tranh giữa họ Trịnh và họ Nguyễn.

  Ông Nguyễn Kim có hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Trịnh Kiểm sợ các con của ông Nguyễn Kim tranh mất quỵền nên kiếm chuyện giết Nguyễn Uông đi. Ông Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại như người anh nên nói với chị là bà Bảo Ngọc, vợ của Trịnh Kiểm, xin cho vào trấn đất Thuận Hóa. Trịnh Kiểm cũng muốn đẩy Nguyễn Hoàng đi xa vừa khỏi lo tranh quyền vừa trấn phía nam chống quân Chiêm Thành nên thuận cho vào trấn Thuận Hóa.

  Năm 1558, đời vua Lê Anh Tông, Nguyễn Hoàng đem gia quyến, lính tráng và những người đồng hương muốn đi lập nghiệp ở miền trong vào đóng ở Ái Tử, Quảng Trị, rồi rời về Thừa Thiên, mở ra thời đại họ Nguyễn ở phương Nam, đến năm 1600 thì ly khai khỏi họ Trinh, lập ra giang sơn riêng. Cuộc phân tranh Nam Bắc giữa Nam Hà và Bắc Hà hay Đàng Trong, Đàng Ngoài kể từ đó. Trịnh Kiểm đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng, chiếm lại miền Bắc thì cuộc chiến giữa họ Trịnh và họ Nguyễn lại bắt đầu. Năm 1627, Trịnh Tráng đem quân lần đầu tiên vào đánh Nguyễn Phúc Nguyên, mở màn cuộc chiến Nam Bắc tất cả bảy lần, chỉ kết thúc khi nhà Tây Sơn đánh đuổi cả hai họ, Trịnh lẫn Nguyễn.

  2. Tiếp xúc với Tây Phương.

  Người Bồ Đào Nha tới nước ta trước tiên. Năm 1497, nhà thám hiểm Bồ, Vasco Da Gama đi vòng qua Phi châu, vượt Ấn Độ Dương tời Calicut, Ấn Độ. Năm 1511, người Bổ chiếm Melaka (Malacca) của Mã Lai để lập cứ địa tiến vào Indonesia (Ile de la Sonde). Năm 1554, người Bồ thuê miếng đất hoang Amakau (Ma Cao) của Tàu để lập thương điếm buôn bán với Tàu và Nhật Bản.

  Năm 1512, thuyền trưởng Bồ, Francisco Rodiguez vẽ bản đồ hải hành, đã vẽ bờ bể Bắc Việt với nhiều đảo đúng với sự thực từ Móng Cáy đến Hải Phòng. Bản đồ này ghi khoảng Hà Nội là Cauchin de China, về sau đọc là Cocinchina. Rồi các năm 1519, 1527, 1529 lại có các bản vẽ khác về bờ biển xứ ta tứ Bắc vào đến miền Nam.`Các bản đồ này còn lưu trữ tại Văn khố Lisbon, Bồ Đào Nha.

  Về tên Cocinchina này, giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đã giải thích như sau : “Và để nói thêm về danh hiệu đặt cho Đàng Trong (Royaume de la Cocinchine) ngày nay tách biệt khỏi Đàng Ngoài (Royaume de Tunquin) thì phải biết thủ đô cả nước Annam gọi là Kẻ Chợ và các thương gia Nhật Bản buôn bán trong tỉnh đó đã đọc sai gọi là Coci vì thế người Bồ Đào Nha giao  tiếp với họ, để phân biệt tỉnh Cocin ở đông Ấn, không xa thành phố Goa, đã thành lập danh từ Cocinchina, như muốn nói xứ Cocin gần Trung quốc (Cocinchina)”. (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Alexandre de Rhodes, Hồng Nhuệ dịch, Tủ sách Đại kết, 1994, từ đây trở đi sẻ gọi tắt là Đắc Lộ khi trích cuốn sách này)

  Như thế người Bồ Đào Nha là người phương Tây đầu tiên tới Việt Nam vào thế kỷ thứ 16.

3.  Đạo Công Giáo truyền vào Việt Nam.

   Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim viết : “Năm Nguyên Hòa nguyên niên đời vua Lê Trang Tông nhà Lê (1533) có người Tây tên là Inikhu đi đường biển vào giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh, thuộc huyện Nam Chân (tức là Nam Trực) và làng Trà Lũ huyện Giao Thủy”.

  Cuốn Việt Nam Giáo Sử của Phan Phát Hườn viết : “ Theo Khâm Định Việt Sử thì năm Nguyên Hòa tức năm 1533 dưới  đời Lê Trang Tông có chỉ dụ cấm theo đạo Da Tô. Chỉ dụ cho biét có một người Tây tên là Inikhu đi đường biển vào giảng đạo tại làng Ninh Cường, làng Quần Anh và làng Trà Lũ thuộc tỉnh Nam Định ngày nay.”

  Cả hai tác giả đều căn cứ vào Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục dẫn theo sách Dã Lục thì đời vua Trang Tông hiệu Nguyên Hòa nguyên niên, năm Giáp Ngọ tức năm 1533, có giáo sĩ người Tây tên Inikhu (Ignacio) vào giảng đạo tại mấy làng ven sông Hồng thuôc trấn Sơn Nam và vua có chỉ dụ cấm theo đạo Da Tô.

  Sự việc này đưa đến mấy nhận định :

1.       Các giáo sĩ đã đến giảng đạo tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 16.

 2.       Ngay từ đầu, việc truyền giáo đã gặp khó khăn vì chỉ dụ cấm đạo.

 3.  Chỉ dụ cấm đạo, chắc không phải do vua Lê Trang Tông ban bố vì vào năm 1532 vua Lê Trang Tông mới được ông Nguyễn Kim lập lên làm vua mà còn phải lánh tại đất Sầm Châu, Ai Lao. Vậy chỉ dụ cấm đạo năm 1533 phải do nhà Mạc ban hành, lúc đó Mạc Đăng Doanh trị vì.

  4.  Việc truyền giáo có lẽ đã có trước đó, khi các nhà thám hiểm đi vẽ bản đồ hải hành. Người Bồ rất mộ đạo, mỗi tầu, dù là tầu buôn hay tầu chiến đều có các vị tuyên úy đi theo lo việc phần hồn. Như thế trong các chuyến thám hiểm hay các chuyến tàu buôn, các vị tuyên úy đã nhân cơ hội mà truyền đạo. Giáo sĩ Inikhu như Khâm Định Việt Sử nói đến, có thể là một trong các vị này. Vùng đất mà giáo sĩ Inikhu đặt chân đến là vùng gần cửa sông Hồng, nơi các tàu bè hay lui tới buôn bán và sau này sẽ trở thành một trung tâm Công Giáo lớn tại Bắc Việt.

  Tuy nhiên trong các dịp ghé thăm lẻ tẻ, ở ít ngày rồi đi, các giáo sĩ chắc chi đã kịp rao giảng Tin Mừng để thu nhận tín đồ. Hơn nữa, các giáo sĩ hẳn chưa học được tiếng Việt để truyền bá đức tin, mà dân chúng Việt Nam thì chắc là không hiểu nổi tiếng Bồ để biết các vị này nói gì. Mãi đến năm 1615 mà các vị truyền giáo còn phải dùng thông ngôn, phần nhiều là người Nhật để giảng đạo, mà các thông ngôn này cũng chẳng giỏi giang gì ngay cả tiếng Việt lẫn tiếng Bồ.

  Vì phải nhờ thông ngôn nên mới có câu truyện bi hài cho phường tuồng hát diễu. Câu truyện được giáo sĩ Francisco Buzomi kể lai như sau : Một hôm cha đi dạo ở bãi biển tình cờ thấy phường tuồng đang hát làm người xem cười ngã nghiêng. Một người độn cái bụng thiệt bự, đóng vai ông Tây, một người dẫn một đứa bé đi vào. Anh ta hỏi dứa bé : “Con gno có muân bàu lòng Hoa lan chi ạ “? (Con nhỏ có muốn vào lòng Hòa Lan chăng). Thằng nhỏ đáp “vâng”. Thế là anh ta đem nhét thằng bé vào bụng bự của anh đóng giả người Tây, ý nói là theo đạo là theo tây. Đóng đi đóng lại nhiều lần vẫn làm cho người ta cười.Thì ra trước khi rửa tội cho ai, các giáo sĩ hỏi xem người đó muốn theo đạo hay không. Các ông thông ngôn không biết dịch ra sao, bí quá các ông dịch đại “có muốn vào lòng Hoa Lang chăng”.

  Trong suốt thế kỷ 16, không thấy có tài liệu nào nói đến việc truyền giáo ở Việt Nam, trừ vài chuyến đi lẻ tẻ như giáo sĩ Bartolomeu Ruiz thuộc dòng Phanxicô ở Manilla thuộc Tây Ban Nha có đến khu vực thuộc nhà Mạc năm 1583, nhưng việc truyền giáo không mấy kết quả vì cha chỉ rửa tội được cho một đứa bé sắp chết. Rồi giáo sĩ Ruiz củng giáo sĩ Francisco de Montilla vào Đàng Trong để giảng đạo nhưng bị người Bồ Đào Nha từ Ma Cao tới trục xuất một cách tàn nhẫn. (Nguyễn Khắc Ngữ, BĐN, TBN, HL giao tiếp với Đại Việt, trg 47, dẫn sách của Teixeira M. Os Missionários Portugueses no Viêtnão. Lisboa 1980)

  Cũng nên biết là thời đó, do thánh lệnh của Đức Giáo Hoàng, người Bồ được toàn quyền buôn bán và truyền giáo ở xứ ta, vì thế người Tây Ban Nha không có quyền lui tới dù để truyền giáo.

  Tại khu vực nhà Lê ở Thanh Hóa vào khoảng năm 1588 có hai giáo sĩ Bồ Đào Nha là Alfonso da Costa và Gonsalves de Sa đến An Trường (L. Cadière). Năm 1591, đời Lê Thế Tông, có giáo sĩ Ordonez de Cervallos người Tây Ban Nha đến An Trường là kinh đô nhà Lê. Ông đã rửa tội cho công chúa mà ông đặt tên là Maria Flora, ta dịch là Mai Hoa. Truyện công chúa Mai Hoa và Ordonez de Cervallos đã được giáo sĩ ghi lại như một thiên tình ca. Công chúa Mai Hoa cũng như triều đình muốn công chúa thành hôn với Ordonez vì ông vừa là giáo sĩ lại vừa giỏi nghề binh bị. Nếu cuộc hôn nhân thành thì nhờ Ordonez làm trung gian mà người Tây phương tới giúp nhà Lê đánh đuổi nhà Mạc. Giáo sĩ cho biết ông không thể kết hôn vì là tu sĩ. Sau đó công chúa Mai Hoa lập tu viện để tu tại An Trường. Ngày nay còn di tích tu viện và giếng nước dân chúng gọi là giếng Da Tô tại làng Phúc Lập, Thọ Xuân, Thanh Hóa.

  NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM ĐẦU TIÊN.

  Có thể nói là cho đến cuối thế kỷ thứ 16 đầu thế kỷ thứ 17, trước khi các cha dòng Tên đến truyền giáo thì chưa có người theo đạo Công giáo. Nếu có thì chỉ có ít người đau ốm sắp chết mà các cha rửa tội như của lễ đầu mùa dâng lên Thiên Chúa.

  Nhưng nhờ gia phả dòng  họ Đỗ ở làng Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa mà ta biết được một người đã theo đạo Công Giáo vào đời vua Lê Anh Tông (!558-1573), đó là ông Đỗ Hưng Viễn.

  Gia phả dòng họ Đỗ ở trang 18 phụ ghi : “Nhánh thứ hai, đời thứ bảy, ông tổ là Đỗ Công Biều đậu Cống sinh khoa thi Hương năm Kỷ Dậu đời Chính trị (Lê Anh Tông) năm thứ bảy. Đến năm  Chính trị thứ 15 được khâm sắc là Kiệt-tiết-tuyên-lực Công thần, đặc tấn Kim-tử Vinh-lộc Đại phu, chức Lại bộ Thuyên-khảo Thanh-lại-ty Viên-ngoại-lang, tước Lương-khê-Nam, tên thụy là Mỹ-trinh-hiền, hiệu Trúc-lâm tiên sinh. Ngài là con thứ ba (của ông Trung Kỉnh), bà mẹ họ Dương, hiệu là Từ Ái, sanh đặng ba người con. Mộ chôn tại xứ Cồn Cổ Ngựa, kỵ ngày mồng bảy tháng mười, người thiếp có mộ chôn tại xứ Cồn Xương, kỵ ngày 16 tháng 4, Con đầu là Viên Đức, con thứ là Hưng Viễn theo đạo Hoa Lang.” (Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Viẽt Nam, chú thích A của cha L. Cadière, Đại Việt xuất bản).

  Theo như gia phả ghi thì ông Đỗ Hưng Viễn theo đạo “Hoa Lang”. Đạo Hoa Lang tức là đạo Thiên Chúa, đạo Công Giáo. Có nhiều sách giải thích rằng gọi thế vì ý nói đạo này do người Hòa Lan đưa vào. Cuốn Việt Nam Giáo sử của Phan Phát Hườn cũng nói : “Đạo Hoa Lang là đạo của người Hòa Lan, của Tây”.

  Nhưng theo Trịnh Việt Hiền trong cuốn “Máu Tử Đạo Trên Đất Việt”, cắt nghĩa rằng : “Hồi ấy những nhà buôn ở xứ ta thường nhập cảng một thứ vải có in hình hoa cây khoai lang. Người Việt đặt tên cho vải ấy là vải hoa lang và cái đạo những người ấy theo là đạo Hoa lang tức đạo Công giáo.”

  Giải thích như Trịnh Việt Hiền  có lẽ đúng hơn. Còn bảo người nước ta căn cứ vào người Tây là người Hòa Lan để gọi cái đạo do những người ấy theo là đạo Hoa Lang thì không hợp lý. Chính người Bồ Đảo Nha đã đến nước ta trước tiên, còn người Hòa Lan chỉ đến sau này, hơn nữa người Hòa Lan đã cải đạo theo Tin Lành. Nếu căn cứ người nước nào đến để truyền đạo để mà gọi tên đạo  thì phải gọi đạo đó là đạo Bồ Đào mới dúng. (Người Tàu gọi thứ rượu do người Bồ đem tới là rượu Bồ Đào…Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi… còn ta thì gọi rượu đó là rượu nho do chử vigno mà ra.

  Theo gia phả họ Đỗ, ta biết ông Đỗ Hưng Viễn đã theo đạo Hoa Lang, vậy ông theo đạo vào năm nào, ở đâu, do ai truyền đạo cho ? Giáo sĩ L. Cadière cho biết : “ lấy nhiều lẽ xét nghiệm thì có thể phỏng đoán rằng, không phải ông theo lúc tuổi trẻ, cũng không phải ông theo lúc tuổi già, chắc hẳn ông theo đạo lúc trưởng thành, lối 30 tuổi, nghĩa là năm 1560 hoặc 1570. Vậy chúng ta hãy cho ở khoảng thời gian từ 1560 đến 1570”. (L. Cadière, sđd)

  Linh mục L. Cadière lấy thời gian từ 1560-1570 làm mốc vì : “ nhà vua có bắt được một tầu Bồ Đào Nha, và tìm thấy dưới tầu một bức thư của một tu sĩ dòng thánh Phanxicô gởi cho nhà vua. Vua Lê Anh Tông trả lời yêu cầu vị tu sĩ kia đến nước mình. Phần vị tu sĩ kia không đến được, nhà vua liền gởi thư sang Macao cho vị tu sĩ ấy. Đồng thời có một người Việt Nam đi sang một xứ thuộc địa Bồ Đào Nha, trở lại đạo Thiên Chúa ở xứ ấy, rồi trở về nước nhà và thờ phượng cây Thánh giá cách công khai. Nhà vua đã được nghe tố cáo rõ việc`ấy”. (L. Cadière, sách đd.)

  Phải chăng ông Đỗ Hưng Viễn là người theo đạo Thiên Chúa tại một xứ thuộc địa Bồ Đào Nha ? Phải chăng ông là sứ giả do vua Lê Anh Tông phái đi để mời các giáo sĩ và dẫn dụ người Bồ vào nước nhà ? Không có tài liệu nào cho biết nhưng có điều chắc chắn là “ông đã trở lại đạo lúc ở gần người Bồ Đào Nha và xa xứ sở mình”. Xứ thuộc địa của Bồ Đào Nha mà ông Đỗ Hưng Viễn trở lại đạo “có nhiều lý đáng tin là Macao hoặc Célèbes”. (Những chữ trong ngoặc kép là của cha L. Cadière)

  Có lẽ ông Đỗ Hưng Viễn đã đến Célèbes hay Molusques nơi có nhiều hồ tiêu mà người Bồ chú trọng khai thác chứ không phải Macao. Mãi đến năm 1557, người Bồ mới thuê được của chính quyền Trung Hoa miếng đất hoang gọi là Amatau, tức Macao để làm nơi buôn bán và mãi đến thập niên 1570, Giáo hội mới đặt một tòa Giám mục ở đó.

  Ông Đỗ Hưng Viễn được triều đình phái đi như một sứ giả, một nhà ngoại giao, theo tàu buôn Bồ đến Macao để đưa thơ nhà vua, nhưng lúc đó chưa có tòa Giám mục nên không ai có quyền cử người đi hoặc vì lúc đó đang chú trọng đến việc truyền giáo ở Nhật Bản…Thế rồi nhân chuyến tàu đi xuống vùng biển Nam Dương, lúc đó gọi là Iles de la Sonde, và người ta khuyên ông nên nhân cơ hội mà theo xuống đó để tiếp xúc với các vị có quyền cử người tới Việt Nam. Ông đả theo tàu và ghé vào bến tại các đảo Mã Lai, Java, Célèbes, Flores, Timor, Ambon… Lúc đó người Mã Lai và Java đã theo đạo Hồi nên việc truyền giáo không mấy khả quan, nhưng tại các đảo có dân Melanesia cư ngụ như Flores, Timor, Ambon thì việc truyền giáo mang lại nhiều kết quả. Nơi này hẳn là đã có tòa Giám mục, vì thế ông Đỗ Hưng Viễn tới để vận động cho các giáo sĩ và tàu buôn tới Việt Nam. Và tại đây, ông đã được đón nhận đức tin, chịu phép rử tội, “theo đạo Hoa Lang”.

  Cũng nên biết tại sao nhà Lê mà Trịnh Tùng là người đang nắm giữ quyền bính lại tha thiết với việc mời các giáo sĩ Bồ đến Việt Nam như thế. Lúc đó nhà Lê và nhà Mạc đang trong thế tranh chấp một mất một còn, bên nào cũng muốn giao dịch với người Tây, tức người Bồ để mua súng đạn. Việc mời các giáo sĩ  tới là để dẫn dụ người Bồ tới để mua vũ khí và được chỉ các xử dụng, mong họ đứng về phe mình đánh đối thủ. Bởi thế chuyến đi của ông Đỗ Hưng Viễn không chỉ thuần mời các giáo sĩ tới truyền giáo mà là “dẫn dụ” người Bồ tới đất nhà Lê buôn bán để mua vũ khí và nhờ họ  giúp đánh nhà Mạc. Ông Đỗ Hưng Viễn phải là nhà thuyết khách có tài mới điều đình mua vũ khí của người Bồ được. Có lẽ nhờ mua được vũ khí mà Trịnh Tùng đánh đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng.

  Linh mục L.Cadière viết tiếp : “Đó là một trong những người Việt Nam đầu tiên trở lại đạo. Có lẽ ông là người đầu tiên được chiu phép rửa tội, ông không để lại một người con cháu nào có đạo cả. Cũng dễ đoán tại lý gì, ông không lưu truyền dòng đạo lại. Được rửa tội tại quần đảo Nam Dương (Iles de la Sonde) hoặc tại Macao, nơi có người Bồ Đào Nha, không phải dùng tiếng Việt Nam mà thâu thập được một đôi điều đạo lý Thiên Chúa giáo, bèn là nhờ dùng tiếng Bồ Đào Nha, mà thứ tiếng ấy hẳn ông cũng chỉ biết ít chữ mà thôi. Hết sức thì cũng chỉ biết làm dấu thánh giá hoặc tôn kính một cái tượng ảnh nào mà người ta đưa cho ông, đọc được đôi ba câu kinh là cùng. Có lẽ ông đã theo cách ấy mà giữ đạo cho đến chết, bởi vì trong gia phả ghi chép ông là người theo đạo Thiên Chúa. Nhưng nếu ông có lập gia đình, thì hoặc gia đình ấy không trở lại đạo hoặc đến lúc ông mất thì gia đình bỏ đạo mà thờ cúng tổ tiên theo tôn giáo trong xứ, vì trong hàng con cháu ông, không nghe nói người nào có đạo Công giáo cả”. (L. Cadière sđd)

  Như thế dòng họ Đỗ làng Bồng Trung, Thanh Hóa có người theo đạo Công Giáo cách nay đã trên 400 năm (tính đến năm 2008 là 448 năm), đó là ông Đỗ Hưng Viễn. Linh mục Poncet thuộc địa phận Thanh Hóa viết trong Bulletin des Amis du Vieux Hué (Đô Thành Hiếu Cổ) cho rằng đó là : “Một trong những người Việt Nam đầu tiên, nếu không phải là người đầu tiên đã trở lại đạo Công giáo”. (L’un des premier Annamites, sinon le premier, convertis au catholicismes)

  DÒNG HỌ ĐỖ LẠI CÓ NGƯỜI THEO ĐẠO THỜI GIÁO SĨ ĐẮC LỘ.

  Gia phả dòng họ Đỗ làng Bồng Trung lại chép về một người trong dòng họ theo đạo Thiên Chúa vào thời kỳ giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) tới truyền giáo ở Đàng Ngoài. Gia phả chép :

  “Cụ Đỗ Cảnh, sung chức Triều quân Tiền-dinh-tuyên-phong Tiền-dực-vệ, Đô-tư-thiêm-sự Chỉ-huy-sứ Triều-lê-hầu, sau được phong Phụ-quốc Thượng-tướng-quân, Tiết-chế Nam-quân, Đô-đốc Kỳ-quân-công và Viên Mãn là con trưởng theo đạo Hoa Lang nên không thờ phụng tổ tiên phải giao việc hương hỏa lại cho em là Viên Chính thuộc ngành thứ”. (tài liệu của linh mục Đỗ Đình Vượng).

  Theo linh mục Poncet thì Đỗ Viên Mãn là con trưởng theo đạo vào khoảng từ năm 1627 đến 1643, tức là hồi giáo sĩ Đắc Lộ đến truyền giáo ở Bắc kỳ. Cuốn “Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam” do Đại Việt xuất bản năm 1944 viết : “Đỗ Viên Mãn là con trưởng của một vị đại thần đời vua Lê Thần Tông (1619-1643), chắc hẳn theo cha đi làm quan ở Kẻ Chợ tức Hà Nội. Có lẽ chính trong hồi ở Hà Nội đó, Viên Mãn đã được giáo sĩ Alexandre de Rhodes và các đồ đệ truyền đạo Thiên Chúa cho, chính vị giáo sĩ này nói rõ rằng : “Hồi giáo sĩ ở Kẻ Chợ việc truyền giáo rất thịnh và số người theo đạo ngày càng đông thêm và chính giáo sĩ đã làm phép rửa tội cho cả một gia đình một ông quan lớn, hồi đó, chỉ trừ mình ông quan nhưng đến lúc gần chết, ông quan này cũng chịu phép rửa tội”.

  Về việc này chính giáo sĩ Đắc Lộ đã kể lại trong cuốn “Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài” (Histoire du Royaume de Tunquin) do Hồng Nhuệ dịch, tủ sách Đại Kết, 1994.(chữ chúa ở dưới đây xin hiểu là chúa Trịnh Tráng, còn chúa Canh là nhà Mạc)

  “Ngày mồng 2 tháng 7 năm 1627, chúng tôi vào phủ chúa và kinh thành Kẻ Chợ tháp tùng chúa và đồng hành với chúa đi giao chiến với Đàng Trong về, hay đúng hơn mới ba ngày nay rượt đuổi chúa Canh và thắng một trận rất quan trọng đối với toàn quốc dân. Thực ra nếu chúa vắng mặt lâu hơn trong nước thì ngụy quân đã tước hết những lực lượng chính yếu của chúa và còn nhân cơ hội này thu được thắng lợi và lấy lại bốn tỉnh xưa đã chiếm giữ vì đã huy động một số lớn thuyền chiến và quân sĩ, hay ít ra ngụy quân cũng đánh phá vùng lãnh thổ thịnh vượng nhất trong nước mà chúng đã đột nhập. Vì thế đây là nguyên nhân của một niềm vui chung rất lớn trong toàn cõi : dân chúng tất cả đều ra khỏi phủ đi nghênh đón chúa, họ rước chúa như người thắng trận trở về và hoan hô theo ngài cho tới cung điện.

  “Chúng tôi theo vào phủ và ở trong đám người toàn thắng trở về, nhưng không biết cư trú ở đâu vì trong kinh thành chưa có ai trở lại làm giáo dân để cho chúng tôi trọ. Thế nhưng Thiên Chúa đã đánh động lòng một lương dân có thế giá tên là Măn tai. Ông quý trọng chúng tôi và trước hết không kiểu cách ông dành nhà ông cho chúng tôi để chúng tôi lui về đó và thừa hành chức vụ, cho tới khi chúa ban cho chúng tôi một nơi ở, theo lối thịnh tình của ngài đối với chúng tôi thì chúng tôi có thể hy vọng như thế. Thật là lạ lùng, viên quan này quý mến tất cả những công việc của chúng tôi. Ông còn dọn bàn thờ để chúng tôi dâng thánh lễ. Ông kiên trì nghe bài giáo lý và bài giảng. Ông còn muốn cho vợ ông và tất cả gia nhân (sau khi được dạy dỗ về đức tin của đạo ta) thì xin chịu phép rửa tội, còn ông thì không, vì chưa đủ sẵn sàng, còn vướng mắc vài điều chưa đủ can đảm thắng đoạt. Ông luôn luôn cam đoan rằng ông sẽ chưa chết khi chưa được chịu phép thánh tẩy, ông chỉ xin khất tới thời gian khác mà thôi. Thế là ông nuôi niềm tin tưởng và ao ước của những kẻ mong muốn điều lành cho ông, muốn bỏ những giây trói buộc tự do của ông. Ông phiêu lưu trầm trọng công việc cứu rỗi vì không thể nắm chắc ơn Thiên Chúa  trong thời gian đó, ơn mà ông lần lửa đợi thời qúa mức và trì hoãn việc trở lại tới một ngày mai. Nhưng Thiên Chúa nhân hậu nhận lời cầu nguyện của vợ con ông và có lẽ nhờ vào việc bác ái trọng khách ông đã tận tâm làm mà Thiên Chúa đã chờ ông mười năm sau khi ông ngã bệnh. Vợ ông, một bà nhân đức tên là Agata liền cho chúng tôi hay, thế là chúng tôi rất sẵn sàng và rất vui vẻ đến ngay để giúp ông lần cuối cùng, chịu phép rửa tội vì đã đuổi khỏi nhà ngăn trở chính yếu không cho ông trở lại, hơn nữa từ lâu ông đã biết mọi mầu nhiệm và các điều về đức tin, chúng tôi rửa tội cho ông và đặt tên là Gioan. Sau đó không lâu ông tắt thở và hạnh phúc (như chúng tôi hy vọng) bước qua đời này về đời hằng sống và hoan hỷ” (Đăc Lộ , trg 104, 105)

  Các giáo sĩ thời đó khi rửa tội cho ai chỉ ghi tên thánh mà không ghi họ tên của người chịu phép rửa tội, như bà Agata, ông Gioan, thày giảng Anrê, cho đến linh mục Philipphê Bỉnh cũng không ghi họ nên đến bây giờ muốn tìm tông tích họ tên của những người theo đạo Công giáo thật là khó khăn. Đến như giáo sĩ Đắc Lộ là người thông thạo tiếng Việt, lập ra chữ quốc ngữ, soan tự điển Việt-La-Bồ  cũng không hề ghi tên họ người chịu phép rửa tội, như em gái chúa Trịnh được rửa tội chỉ ghi là bà Catarina.

  Chỉ có trường hợp ông quan mà giáo sĩ nói trên được ghi là Măn tai vì ông chưa chịu phép rửa tội. Chữ Măn có lẽ là Mãn, Đỗ Viên Mãn. Trong bản dịch tiếng Việt viết là Măn với chữ ă còn trong bản tiếng Pháp viết là Man không có dấu ă, Mantai (Dieu toutesfois toucha le coeur d’un Payen de haute condition, nommé Mantai..) Còn chữ tai, chắc là một tiếng chỉ chức vụ hoặc tên thường gọi trong nhà. Cũng nên biết chữ quốc ngữ thời giáo sĩ Đắc Lộ có khác với bây giờ như chúa Canh, giáo sĩ viết là Ciua Canh (người Bồ Đào Nha viết Ciuacanghe để chỉ nhà Mạc ở Cao Bằng), Kẻ Chợ viết là Che Ce.

  So sánh gia phả dòng họ Đỗ nói về ông Đỗ Viên Mãn theo đạo Hoa Lang với ông Mantai được giáo Đắc Lộ kể thì thấy trùng hợp.

  Giáo sĩ Đắc Lộ gặp ông Đỗ Viên Mãn vào năm 1627, mười năm sau ông chịu phép rửa tội và chết, là năm 1637. Nếu tính tuổi trung bình một người thời đó sống là 65 tuổi thì ông sinh vào khoảng năm 1570. Ông Đỗ Hưng Viễn đi đến một xứ thuộc địa Bồ Đào Nha và theo đạo ở đó vào lúc 30 tuổi, khoảng năm 1565. Ông Hưng Viễn sống thêm 35 năm nữa lúc vào khoảng 65 tuổi mới mất, là năm 1600. Khi ông Hưng Viễn mất thì ông Viên Mãn đã trên 20 tuổi. Không biết ông Viên Mãn là cháu nội hay là cháu họ của ông Hưng Viễn, nhưng chắc là ông Viên Mãn biết rất rõ việc ông Hưng Viễn theo đạo Hoa Lang.

  Vào thời giáo sĩ Ordonez de Cevallos đến An Trường (kinh đô nhà Lê ở Thanh Hóa) và công chúa Mai Hoa theo đạo rồi lập tu viện, cũng như giáo sĩ đến vào năm 1588, chắc ông Hưng Viễn còn sống và có thể đã tiếp xúc với giáo sĩ cũng như tiếp tay với công chúa Mai Hoa lập tu viện. Việc này ông Viên Mãn cũng biết và ghi khắc trong lòng và biết đâu ông Viên Mãn, lúc còn bé chẳng đã là chú giúp lễ cho giáo sĩ Ordonez de Cevallos ?

  Khi Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng (nhờ mua được vũ khí của người Bồ mà ông Hưng Viễn có công trong việc này) rồi dời đô nhà Lê về  Đông Kinh (Hà Nội), ông Viên Mãn cũng theo cha đang làm quan lên Kẻ Chợ. Lúc gặp giáo sĩ Đắc Lộ là bao nhiêu kỷ niệm về ông Hưng Viễn, về công chua Mai Hoa, về giáo sĩ Ordonez de Cevallos khơi lại trong lòng nên có cảm tình với các giáo sĩ và nhường nhà cho họ cũng như dọn bàn thờ cho các giáo sĩ làm lễ, lại sẵn sàng cho vợ con theo đạo.

  Ông còn vướng mắc vài chuyện  chưa thể theo đạo ngay được nhưng đến lúc gần chết cũng được rửa tội. Việc vướng mắc đó trước hết là việc hương hỏa. Ông là con trưởng phải lo việc phụng thờ tổ tiên, ông theo đạo thì phải giao phần hương hỏa, thờ phụng tổ tiên cho em là Đỗ Viên Chính. Một trở ngại khác nữa là vấn đề đa thê, hẳn là ông có bà hai, bà ba nên chưa thể dứt khoát, phải đến khi gần chết mới thu xếp ổn thỏa được. Chính vì vấn đề đa thê này mà giáo sĩ Đắc Lô bị chúa Trinh trục xuất ra khỏi xứ Đàng Ngoài.

  Vị giáo sĩ rửa tội cho ông Đỗ Viên Mãn không phải lả giáo sĩ Đắc Lộ. Vị giáo sĩ rửa tội cho ông Viên Mãn có lẽ là giáo sĩ Gaspar d’Amaral, người đến thay thế giáo sĩ Đắc Lộ vào năm 1631.

  Giáo sĩ Đắc Lộ chỉ ở Đàng Ngoài có 3 năm thỉ bị chúa Trịnh trục xuất vào năm 1630. Trong 3 năm, giáo sĩ đã rửa tội được hơn năm ngàn (5000) người, trong đó có công chúa Catarina, em gái chúa Trịnh và cả thân mẫu bà : “Thế là bà đã nhanh nhẹn thông báo cho cụ thân mẫu ơn Thiên Chua đã ban cho bà và đưa bà vào đạo Kitô”. Giáo sĩ Đắc Lộ bị trục xuấr vì chúa Trịnh nghe lời dèm pha của các quan hoạn : “Họ sợ chúa tin theo Kitô giáo và ruồng bỏ các cung phi, lúc đó họ không còn chức vụ và bị đuổi ra khỏi phủ”. (Đắc Lộ trg 164)

  Con cháu ông Đỗ Viên Mãn có lẽ đã không còn được ra làm quan như trước vì thời cuộc nhất là việc cấm đạo đã không còn cơ hội cho họ ra nhận chức vụ nào của nhà nước. Họ chỉ còn phải lui về nhà quê làm ruộng hay làm một nghề nào đó để sinh sống và giữ đạo. Vào thời kỳ cấm đạo, nhất là thời kỳ Văn thân sát tả, dòng họ Đỗ đã phải tứ tán phân ly, kẻ chạy về Lò Chum, người chay lên Hữu Lễ gần Lam Sơn, người chạy lên Cẩm Thủy, có người còn phải đổi họ thay tên cho được yên thân. Người còn lại ở Bồng Trung thì phải trốn vào rừng, “khi về làng, phải dập vách sàng lấy trấu ( người ta thường trộn trấu vói bùn để trát vách), giã ra nấu cháo mà ăn”. (lTài liệu của linh mục Đỗ Đình Vượng)

  Dòng họ Đỗ Bổng Trung ngoài các chi nhánh sống tại tỉnh Thanh Hóa, còn có nhiều chi nhánh sống tại đồng bằng sông Hồng (đi làm quan, làm lính ở Kẻ Chợ rồi định cư luôn tại đây), một số khác đi vào miền Trung và miền Nam và ngày nay tại hải ngoại. Dòng họ Đỗ Bồng Trung có nhiều người  đỗ đạt với 2 trạng nguyên 53 tiến sĩ được ghi danh ở Văn miếu Quốc tự giám.

  Dòng họ Đỗ ngày nay có Đức cha Đỗ Trọng Hòa, Giám mục địa phận Nha Trang. (Ông nội Đức cha Hòa đã phải đổi ra họ Nguyễn để “được yên thân” vì thế Đức cha Hòa có họ Nguyễn, Nguyễn Văn Hòa), linh mục Đỗ Đình Vượng, linh mục Đỗ Minh Tuấn ở Thanh Hóa và nhiều nam nữ tu sĩ.