TỪ SÁNG THẾ KÝ ĐẾN THẦN THO ẠI

CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

 

  Các dân tộc đều có “Truyện Cổ Tích” nói về công việc sáng tạo vũ trụ và con người. Đó là những “Truyện Đời Xưa” được truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nếu đem so sánh thì các truyện “Đời Xưa” của các dân tộc được truyền miệng hay văn bản đều phảng phất giống nhau.

 

  Từ thời mông muội của thuở tạo thiên lập địa, con người sống giữa thiên nhiên quan sát thấy mọi vật trong trời đất, từ ngọn cỏ cây cối mọc lên, từ khối đá im lìm, các tinh tú vận chuyển, giông tố sấm chớp, bão lụt… đều cho là có một năng lực, một vị thần thánh tạo lập trời đất, sinh ra vạn vật con người. Họ trải qua các thời kỳ, các giai đoạn, có lúc thanh bình ổn đĩnh, có lúc tai ương hạn hán hay bão lụt, chết chóc. Họ đã kể lại cho nhau, truyền tụng cho con cháu. Qua các thời đại, lớp người nối tiếp di tản khắp mặt đất còn truyền tụng các điều tổ tiên truyền bảo, nhưng với thời gian, các điều truyền tụng, mỗi ngày mỗi dị biệt, chỗ này quên một ít lại thêm một ít chỗ khác lại thêm thắt cho có vẻ huyền bí gốc tích. Các truyện cổ tích đã thành thần thoại của các dân tộc muốn tìm hiểu về nguồn gốc của dân tộc mình.

 

  Các thần thoại đó được truyền miệng qua truyện cổ tích ông bà kể lại cho con cháu vào các buổi tối rãnh rỗi hay qua các nghệ nhân ca hát kể truyện trong các buổi hội họp, phiên chợ, Rồi sau có người gom góp ghi chép lại. Nổi bật nhất là những sách của dân tộc Hy Bá Lai (Hebrew, Do Thái) gọi là Thánh Kinh, trong đó có quyển Sáng Thế Ký (Genesis) nói về việc tạo thiên lập địa và con người. Chúng ta có bộ Lĩnh Nam Chích Quái và Việt Điện U Linh nói về huyền thoại gốc tích của dân tộc.

 

  Các dân tộc ở Việt Nam rất đa dạng, có đến hơn 50 sắc dân, sống rải  rác  từ vùng rừng núi Bắc Việt, xuống tới Cao Nguyên Trung Phần đã cho ta rất nhiều thần thoại về tạo thiên lập địa, tạo dựng con người, rất giống với Thánh Kinh của dân Do Thái.

 

  Xin so sánh Sáng Thế Ký với thần thoại các dân tộc ở Việt Nam :

 

I-  SÁNG TẠO TRỜI ĐẤT MUÔN VẬT VÀ LOÀI NGƯỜI

 

A- Sáng  Tạo Trời Đất Muôn Vật

 

 

  Sách Sáng Thế Ký (Genesis) trình thuật việc Elohim  (Thiên Chúa) dựng nên vũ trụ, trời đất trong 7 ngày như sau :

 

 “Khởi thủy Elohim Thiên Chúa đã dựng nên trời và đất

Đất  trời trống không mông quạnh

Và tối tăm trên mặt đất uông mang

Và Khí Thần là là trên mặt nước

Và Thiên Chúa phán : “Hãy có ánh sáng”

Và ánh sáng đã có

Và Thiên Chuá đã thấy rằng ánh sáng thực tốt lành

Và Thiên Chúa đã tách ánh sáng với tối tăm

Và Thiên Chúa đã gọi ánh sáng là ngày

Còn tối tăm gọi là đêm

Và đã có một buổi chiều và một buổi mai

Ngày thứ nhất.

 

(Kinh Thánh, bản dịch của Lm. Nguyễn Thế Thuấn))

 

Ngày thứ  hai Thiên Chúa dựng nên vòm trời

 

Ngày thứ ba Thiên Chúa dựng nên đất và biển. Đất sinh ta thảo mộc hoa quả.

 

Ngày thứ tư Thiên Chúa dựng nên Mặt trời mặt trăng và các vì sao.

 

Ngày thứ năm Thiên Chúa dựng nên cá dưới nước, chim trên trời.

 

Ngày thứ sáu :

 

“Và Thiên Chúa đã phán : “Đất hãy sản xuất ra sinh vật theo loại : súc vật, côn trùng, mãnh thú theo loại

chúng”.

Và đã xẩy ra như vậy,

Và Thiên Chúa đã làm ra mãnh thú theo loại và súc vật theo loại và côn trùng trên đất cát theo loại. Và Thiên Chúa đã thấy thế là tốt lành.

Và Thiên Chúa đã phán : “Ta hãy làm ra người theo hình ảnh Ta như họa ảnh của Ta

Chúng hãy ngự trị trên cá biển và chim trời và trên các súc vật và mọi loài mãnh thú và mọi thứ côn trùng nhung nhúc trên đất”.

Và Thiên Chúa đã dựng nên người theo hình ảnh mình.

Nam và Nữ. Người đã dựng nên chúng.

Và Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng.

Và Thiên Chúa đã phán bảo chúng :

“Hãy sinh sôi nảy nở và hãy nên đầy dẫy trên đất

Và hãy bá chủ nó ! Hãy trị trên cá biển và chim trời

Và mọi sinh vật nhung nhúc trên đất”.

Và Thiên Chúa đã phán :

“Này Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ lả hạt giống có trên mặt đất và mọi thứ cây có quả sinh hạt giống, chúng sẽ làm của ăn cho các ngươi.

Và mọi loài sinh vật trên đất và mọi thứ chim trên trời

Và mọi loài nhung nhúc trên đất, loài có sinh khí nơi mình

Ta ban các thứ cỏ cây xanh tươi làm của ăn”.

Và đã có một buổi mai

Ngày thứ sáu.

 

Ngày thứ bảy Thiên Chúa hoàn tất công việc Người đã làm, Người nghỉ ngơi.

 

(Kinh Thánh, Nguyễn Thế Thuấn)

 

  Đó là sự tích Thiên Chúa sáng tạo trời đất vạn vật. (phần trên đây sách Genesis gọi Thiên Chúa là Elohim, nơi khác gọi là Yahweh hay Yehovah). Sách Sáng Thế Ký được cho là viết vào thời kỳ dân Do Thái bị bắt lưu đầy ở Babylon (thủ đô đế quốc Assyria , phần đất phía bắc nước Irak ngày nay). Hẳn là có ảnh hưởng những thần thoại của các dân tộc vùng Lưỡng Hà ( Mesopotamia ) như chúng ta sẽ thấy trong các tích truyện của người Mèo (H’Mong) và người Mán (Dao). Hai  sắc dân này được gọi chung là H’Mong Mien.

 

 

Người Mèo kể về sáng tạo trời đất muôn vật

 

  Chử Làu (Thượng Đế) sáng tạo trời và đất trong bảy ngày. Trời có trước và đất có sau. Đất xinh đẹp, tự nhiên sinh ra trái, mặt đất đầy hoa lớn bằng cái thúng. Trên trời chưa có tinh tú, Chử Làu mới tạo ra mười (10) mặt trời và chín (9) mặt trăng cùng vô số sao để chiếu sáng mặt đất. Loài người cho những vì sao kia là  những hòn đá long lanh, sợ rơi xuống đè bẹp họ, mới xin Chử Làu cất đi. Chử Làu không cất, mà chỉ tung ra một tấm màn xanh mênh mông trên mặt đất để cho sao khỏi rơi xuống.

 

  Mười mặt trời là giống cái và chín mặt trăng là giống đực, Chử Làu cho hồn vào miệng mỗi cái và hà hơi cho sinh động. Những tinh cầu ấy chiếu sáng trong bảy năm liền khô ráo mặt đất và trong thời đó chỉ có ngày liên tiếp mà không có đêm. Ban đầu nước và đất lẫn lộn, Chử Làu mới chia ra, rồi sau đó cỏ cây mới mọc trên mặt đất.

 

  Khi mặt đất khô ráo, Chử Làu làm ra mọi thứ cỏ cây, muôn vật, mỗi thứ một giống, rồi đến người. Cũng trong khoảng đó Chử Làu tạo nên rừng rú ở trong mặt trăng. Cây cối ở đất mọc lên um tùm giữa các cánh đồng bao la ngập lụt, chồng chất hỗn độn lên nhau. Mặt đất nóng quá, loài người bèn  hạ cây làm cung tên để bắn mười mặt trời và chín mặt trăng. Chín mặt trời và tám mặt trăng bị trúng tên còn một mặt trời và một mặt trăng trốn thoát chạy nấp trong bảy năm. Trong thời gian đó chỉ có đêm liên tiếp mà không có ngày, loài người phải sống trong bóng tối. Họ nài mặt trời và mặt trăng trở lại, nhưng chúng không nghe. Cọp đi nài cũng không được. Sau bảy năm, gà gáy đến bảy lần, chúng mới chịu ra. Từ đó gà trống đều có mào đỏ, công trạng của Chử Làu thưởng cho vì đã gọi được mặt trời với mặt trăng trở về.

 

Thần Thoại người Mán.

 

  Ngày xưa, thuở chưa có trời đất, chưa có mặt trời mặt trăng soi sáng đất và nước, đầu tiên chỉ có Nhiêu Vương (Thượng Đế) và Bàn Cổ. Bàn Cổ thành hình một lượt với Nhiêu Vương.

 

  Nhiêu Vương có ba trăm sáu (306) con mắt, Bàn Cổ có ba trăm sáu (306) thân hình. Con mắt bên trái của Nhiêu Vương sinh ra mặt trời (Dương), con mắt bên phải sinh ra mặt trăng (Âm), đầu làm thành trời, chân làm thành đất. Còn loài người thì do tâm của Bàn Cổ sinh ra trong đó có Bàn Vũ.

 

Thần Thoại Người Lô Lô.

 

  Kết Dơ (Thượng Đế) tạo ra trời trắng và đất đen.

 

  Thuở trời đất chưa có phân chia, không có ngày và đêm, mặt trời và mặt trăng không chiếu sáng. Lúc đó chưa có con người trên mặt đất. Chính Kết Dơ và Ga Gie đã phân chia ra trời đất. Họ dùng bùn để làm ra ngườI, lấy đất từ phương Tây đem qua phương Đông để nặn, nhưng đang dở dang thì trời tối. Qua ngày hôm sau họ nhận thấy tượng nặn hôm qua đã bị ai phá, và hai đem liền như thế. Họ nặn đế lần thứ ba, rồi để ý coi chừng, đến nửa đêm thấy thần đất hiện tới hỏi họ làm gì ? Họ trả lời :

 

-         Chúng tôi nặn một con người.

-         Thần đất nói : Đất này là của tôi, nếu các người mượn để nặn con người, thì trong bao nhiêu năm sẽ hoàn lại ?

-         Họ đáp : Trong sáu mươi năm.

 

   Do đó con người chỉ sống trong vòng sáu mươi năm rồi phải chết để  trả hình hài lại cho đất.

 

 

Thần thoại Roglai (Cao nguyên Trung phần)

 

  Ban đầu, trước tiên mọi vật, khi trời đất chưa dựng nên, có một cõi gọi là U Minh (Brah ting). Vị thần làm ra muôn vật, muôn loài tên gọi là Bung. Bung tạo nên tất cả từ cõi U Minh : đá, đất, loài vật cùng các lớp người đầu tiên mà ngày nay mọi ngườI thờ kính như các vị thần linh. Bung tạo ra một lớp thần để hầu hạ mình rồi cùng họ rời cõi U Minh để làm nên trời đất. Những vị thần này gọi là Xi Ô, Bơ Lang, Cơ Tang, Bơ Lang Ky An lên ở trên trời, cũng như Ngui, nữ thần Mặt trời, soi sáng và nuôi dưỡng vũ trụ. Còn các vị thần khác thì làm việc ở mặt đất, đưa từ cõi U Minh đến các vật cần dùng cho loài người. Tất cả những gì có trên mặt đất là đều do Bung sáng tạo từ cõi U Minh rồi cùng các vị thần thuộc hạ đưa đến.

 

 

Thần thoại người Ba Na.

 

  Trước khi chưa phân biệt ra trời đất, vũ trụ là một cõi hư vô mù mịt không có gì cả. Trong cái hư  vô đó tự nhiên sinh ra hai vị thần quyền phép vô cùng, ấy là Bok Kơi Dơi (Thần Nam ) và Ia Kon Keh (Thần Nữ), hai vị chia nhau lập ra vũ trụ.

 

  Bok Kơi Dơi làm ra mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao, chỉ phán một lời là các vật đó hiện ra. Mặt trời là một hòn lửa lớn, soi sáng cho người trần thấy đường làm ăn. Mặt trăng thế mặt trời soi sáng ban đêm.

 

  Nữ thần Ia Kon Keh dùng cám vắt ra trời đất. Bầu trời thì vắt hình cong úp trên mặt đất. Mặt đất thì phẳng đỡ lấy chân trời. Đấng Nữ Tạo Hóa Ia Kon Keh dựng xong trời dất thì đấng Nam Tạo Hóa Kon Kơi Dơi đem các tinh tú, mặt trăng , mặt trời treo lên cao cho nhau chạy quanh trái đất để chiếu ánh sáng.

 

 

Thần thoại người Việt.

 

  Ngày xưa trước hết tất cả mọi sự đã có Ông Trời. Trời là một bậc quyền phép vô song ở trên cao, làm ra tất cả, trái đất, núi non, sông biển, mưa, nắng, sinh ra tất cả : loài người, muôn vật, cỏ cây. Từ mặt trời , mặt trăng, các ngôi sao trên trời cho đến vạn vật ở mặt đất, tất cả đều do Trời tạo nên.

 

  Trời có con mắt thấy tất cả, biết hết mọi sự xẩy ra ở thế gian. Trời là cha đẻ muôn loài, xét đến muôn vật, thưởng phạt không bỏ ai. Do đó mà con người tin có đạo Trời, nhờ Trời, cho là Trời sinh Trời dưỡng và đến khi chết thì về chầu Trời.

 

  Trời cũng có vợ, gọi là Bà Trời, và mỗi khi hai ông bà cãi mắng nhau là lúc trời vừa mưa vừa nắng. Mỗi lúc Trời giận loài người lầm lỗi thì giáng xuống thiên tai, bão táp, lụt lội, hạn hán.

 

  Giang sơn của Trời là từ cõi mặt đất lên đến trên cao chín từng trời, có chỗ giáp với đất là chân trời. Trời vô hình, không nói, nhưng người ta tin là ở đâu cũng có mặt của Trời, không một ai tránh khỏi lưới Trời, mọi vệc đều do Trời định.

 

  Thần thoại Việt Nam còn có Thần Trụ Trời:

 

  Đời xửa  đời xưa, tự nhiên sinh ra trời đất. Trên trời có Ông Trời, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao cùng các thần sấm xét, mưa, gió. Dưới đất có cỏ cây, muôn vật, con người cùng các thần ma quỷ.

 

  Thuở trời đất còn mịt mù, hỗn độn, tự nhiên hiện lên một vị thần to lớn khác thường, đầu đội trời, chân đạp đất, đào đất vác đá, đắp thành một cái cột to để chống trời lên, mà phân chia ra trời đất. Trời như một cái vung úp, đất bằng như một cái mâm vuông, chia ra làm bốn hướng đông, tây, nam, bắc, chỗ giáp trời đất gọi là chân trời.

 

  Khi đã chống trời lên cao rồi, thần phá bỏ cột trụ đi, ném tung vãi đất và đá khắp tứ phương làm thành những đồi, núi, đảo, khiến mặt đất hóa ra chỗ cao chỗ thấp. Còn chổ thần đào đất để đắp cột chống trời về sau đầy nước thành biển.

 

  Dấu vết cột trống trời ngày nay, người ta cho là ơ núi Thạch Môn, thuộc về tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt, cũng gọi là núi Không Lộ (Đường lên trời) hay Khổng Lồ, hoặc là Kình Thiên Trụ (Cột chống trời). Dân chúng còn có câu hát nhớ đến việc của ông Trụ Trời vào thuở khai thiên lập địa :

 

                 Nhất ông đếm cát

                 Nhì ông tát bể

                 Ba ông kể sao

                 Bốn ông đào sông

                 Năm ông trồng cây

                 Sáu ông xây rú

                 Bẩy ông trụ trời.

 

 

Nhận xét :

 

  * Kinh Thánh nói Elohim Thiên Chúa dựng nên trời đất muôn vật trong 7 ngày. Thần thoại người Mèo cũng nói Chử Làu sáng tạo trời đất trong 7 ngày, Con số 7 được nhắc nhiều lần trong Kinh Thánh và Thần thoại người Mèo.

 

 * Thần thoại người Mèo nói 10 mặt trời và 9 mặt trăng chiếu sáng trái đất trong 7 năm liền khiến trái đất nóng quá nên loài người chặt cây làm cung tên bắn rơi 9 mặt trời và 8 mặt trăng chỉ còn 1 mặt trời và 1 mặt trăng, chạy trốn trong 7 năm liền khiến trái đất bị tối tăm lạnh lẽo mãi cho tới khi con gà trống gáy 7 lần, mặt trời và mặt trăng mới trở về soi sáng trái đất. Người Trung Hoa cũng nói đến 10 mặt trời và 9 mặt trăng nung đốt trái đất nên Hậu Nghệ làm cung tên bắn rơi 9 mặt trời và 8 mặt trăng chỉ còn lai một mặt trời và một mặt trăng.

 

 Người Mèo nói mặt trời là giống cái, mặt trăng là giống đực. Người Roglai nói Ngui, thần mặt trời, là giống cái.

 

 Người Việt cũng nói mặt trời là bà (giống cái), mặt trăng là ông (giống đực). Câu đồng dao hát

 

           Ông trăng mà lấy bà trời,

           Tháng năm ăn cưới tháng mười ăn cheo.

           Con lợn vừa bằng con mèo,

           Làng ăn chả hết làng treo cột đình,

           Sáng mai…Ông sãi đánh trống thình thình,

           Bao nhiêu con  nít ra đình gặm xương !

 

 * Thần thoại người Mán nói rằng dầu tiên có Nhiêu Vương và Bàn Cổ, hai vị này cùng sáng tạo dựng nên trời đất muôn vật. Nhiêu Vương dựng nên mặt trời, biểu hiệu cho Dương và mặt trăng biểu hiệu cho Âm. Còn Bàn Cổ thì sinh ra loài người và muôn vật, núi non, cây cỏ, sông biển. Âm Dương Ngũ Hành do người Mán (Dao) quan niệm đầu tiên rồi sau đó người Tàu khai thác thành triết thuyết cũng như Bàn Cổ tạo dựng loài người vạn vật đều là thần thoại của người Mán rồi người Tàu vay mượn nhận là của mình. Người Mèo tức người H’mong, người Mán tức người Dao, giống dân này được gọi chung là H’mong Mien, Kinh Thư gọi họ là Tam Miêu. Dân Tam Miêu bị Hoa tộc từ sa mạc phương bắc tràn xuống chiếm đất Việt tộc, đã đầy dân Tam Miêu lên các vùng núi non hiểm trở vì thế cho đến ngày nay họ toàn sống trên các vùng núi cao và luôn khởi loạn chống đánh người Tàu.

 

* Thần thoại Roglai  nói trước hết Bung (Trời) tạo nên một lớp Thần để hầu hạ rồi mới tạo nên vũ trụ, trái đất, vạn vật và con người. Những vị thần này có tên gọi là Xi Ô, Bơ Lang, Cơ Tang…Kinh Thánh cũng nói đến Yaveh dựng nên Thiên Thần có những tên như Michael, Raphael, Cherubim…

 

 

 

B- TẠO DỰNG LOÀI NGƯỜI

 

Sách Sáng Thế Ký (Genesis) viết về việc con người được tạo dựng như sau :

 

“ Vào ngày Yaveh  Thiên Chúa (cũng gọi là Yehovah, Eloahim) làm ra đất và trời thì trên đất chưa có bụi cây đồng ruộng nào, chưa có cỏ lả đồng ruộng nào, vì Yaveh Thiên Chúa không cho mưa xuống trên đất và chưa có người để canh tác đất đai. Một con nước tự đất dấy lên và cho cả mặt đất uống đã. Yaveh Thiên Chúa đã nắn hình người với bụi lấy từ đất đai và Người đã hà hơi sự sống vào mũi nó và người đã thành mạng sống.

 

Và Yaveh đã trồng vườn cây ở Eden , về phía Đông và Người đặt trong đó người đã được Người nắn ra. Và Yaveh Thiên Chúa đã cho từ đất mọc lên mọi thứ cây coi sướng mắt và ăn ngon lành và cây sự sống ở giữa vườn cùng với sự biêt tốt xấu. Một con sông từ Eden chảy đến để cho vườn sống và từ đó nó chia làm bốn nhánh. Tên nhánh thứ nhất là Phison. Nó chạy vòng quanh tất cả đất Havila là nơi có vàng. Vàng đất ấy là thứ vàng tốt, ở đó cũng nhủ hương và mã não.

 

Và tên sông thứ hai là Ghikhôn. Nó chảy vòng quanh tất cả đất Kush . Và tên sông thứ ba là Tigra nó chảy phía đông Assur và sông thứ tư là Phơrát. Yaveh Thiên Chúa đã đem người đặt trong vườn để nó canh tác và giữ vường.

 

Và Yaveh Thiên Chúa đã truyền dạy người rằng : “Mọi cây trong vườn ngươi đều được ăn. Nhưng cây “sự biết tốt xấu” ngươi không được ăn vì chưng ngày nào ngươi ăn nó, tất ngươi sẽ chết”.

 

Yaveh Thiên Chúa đã phán : “Không tốt, nếu người chỉ có một mình. Ta sẽ làm cho nó cái gì trợ giúp đương đối với nó”. Và Yaveh Thiên Chúa đã nắn ra từ đất đai mọi thứ đã thú và mọi giống chim trên trời và Người dẫn đến cho người để xem nó gọi làm sao.Và mọi mạng sống hễ người gọi sao thì tên là vậy. Và người đã đặt tên cho mọi thú vật và chim trời cùng mọi dã thú. Nhưng phần người, người vẫn không gặp được sự trợ giúp nào đương đối. Và Yaveh Thiên Chúa đã giáng xuống trên người một giấc đê mê và nó đã ngủ thiếp đi. Và Người đã rút lấy một xương sườn của nó, đoạn lắp thịt vào. Và trên sườn đã rút tự người, Yaveh Thiên Chúa đã xây thành người đàn bà. Đoan dẫn đến với người. Và nó đã nói : “Phen này là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi. Nàng sẽ đội danh là “đàn bà” vì được rút tự “đàn ông”.

 

Bởi thế đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắn khít với vợ mình và chúng sẽ nên một thân xác.

 

Và cả hai đều trần truồng, người và vợ nó, mà chúng không hổ ngươi.

 

SA NGÃ

 

Vả rắn là vật tinh ranh hơn mọi dã thú Yaveh đã làm ra. Nó nói với người đàn bà : “Hẳn Thiên Chúa đã phán: các ngươi không được ăn cây nào trong vườn ?” Người đàn bà đã nói với rắn : “Quả cây trong vườn chúng tôi được ăn. Nhưng về quả cây giữa vườn thì Thiên Chúa đã phán : các ngươi không được ăn, không được rờ đến kẻo phải chết”. Và rắn đã nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! Quả nhiên Thiên Chúa biết : ngày nào các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ trở nên những Thiên Chúa biết cả tốt cả xấu”. Và người đàn bà đã nhìn : quả là quả cây ăn phải ngon. Mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy, để được tinh khôn và bà đã hái lấy quả mà ăn, bà cũng đã trao cho chồng ở bên bà. Và ông đã ăn. Và cả hai đã mở mắt ra. Và chúng biết là chúng trần truồng. Chúng đã khâu lá vả làm khố cho mính.

 

Vì Adam và Eva đã không tuân lời Thiên Chúa và nghe con rắn ăn trái cấm biết tốt biết xấu nên bị đuổi ra khỏi vườn Eden. Thiên Chúa bắt loài rắn phảI bò bằng bụng. Bắt ngườ đàn bà phải mang nặng đẻ đau và người đàn ông phải làm lụng vất vả mới có cái nuôi thân, sau cùng phải chết. Thiên Chúa phán :

 

“Ngươi là bụi đất sẽ trở về cùng bụi đất”.

 

 

 

Sáng Tạo Loài Người Theo Các Dân Tộc ở Việt Nam .

 

 

Thần Thoại Người Mèo

 

Khi mặt đất khô ráo rồi, Chử Làu lấy một nắm đất nặn thân hình con người đầu tiên, hà sinh khí vào miệng, cho hồn vào bụng và tiếng nói ở cổ họng. Người đàn ông trở nên một sinh vật, có mắt và tiếng nói, đi đứng trên mặt đất. Sau đó Chử Làu đưa đến cho người đàn ông một người đàn bà để hai bên lấy nhau. Chử Làu làm ra thức ăn để nuôi vợ chồng cùng các súc vật cho họ dùng, nhưng vẫn để họ trần truồng. (Loài người đầu tiên dùng lá để che thân, họ ăn tươi nuốt sống. Họ tìm ra lửa trong khi lấy đá ném một con chó nằm trên tảng đá có rêu, đá bắn tia lửa làm cháy đám rêu, từ bấy giờ con người mớI biết dùng lửa để nướng thức ăn.)

 

Chử Làu giao tiếp thẳng với họ, đối mặt nói truyện trong ban ngày. Về sau, Chử Làu không liên lạc với loài người nữa, kể cả ban ngày, mà chỉ cho biết ý muốn của mình trong ban đêm, qua trung gian một người con gái hiện ra trong giấc mộng của người.

 

Thần Thoại Người Lô Lô.

 

Kết Dơ dùng bùn để làm ra người, lấy đất từ phương Tây đem qua phương Đông để nặn, nhưng đang làm dở dang thì trời tối. Qua ngày sau, họ nhận thấy tượng nặn hôm qua đã bị ai phá, và hai đêm liền như thế. Họ nặn đến lần thứ ba, rồi để ý coi chừng, đến nửa đêm thấy thần đất hiện tới hỏi họ làm gì ? Họ trả lời : “Chúng tôi nặn một con người”. Thần đất nói : “Đất này là của tôi, nếu các ngươi muốn để nặn con người thì trong bao nhiêu năm sẽ hoàn lại ?” Họ đáp : “Trong sáu mươi năm rồi phải chết đi để trả hình hài lại cho đất”.

 

Hai người Nam , Nữ xuất hiện trên mặt đất không có cha mẹ vì họ do đất nặn ra. Tự cho là anh em, muốn lấy nhau, họ đứng trên một ngọn núi lăn xuống một hòn đá. Hòn đá của người con gái lăn xuống thấp, hòn đá của người con trai lăn theo chồng lên. Họ lại lăn hai cái sàng, kết quả cũng như trước. Họ lại lấy mỗi người một chiếc giầy tung lên không, hai chiếc giầy cùng rơi xuống dính liền nhau. Hai người lại đốt lửa trên hai ngọn núi, khói bay lên rồi quấn quýt lấy nhau. Sau đó hai người kết thành vợ chồng. Người đàn bà đẻ một quả bầu đầy hột, mỗi hột hóa thành một người.

 

Đó là sự tích Kết Dơ và Ga Gie phân chia trời đất và hai người đàn ông, đàn bà đầu tiên sinh đẻ ra loài người chúng ta.

 

Thần Thoại người Roglai.

 

Bắt đầu khai thiên lập địa, Bung (Thượng Đế) lấy một cái búa nhỏ làm ra đất, rồI lấy một cái búa lớn làm ra trời. TrờI (Tru) và Đất (Tiah) lấy nhau. Ca Tru là Thần TrờI, Ca Ty A là Thần Đất. TrờI và Đất lấy nhau sinh ra Binh và Nơ Đon….

 

Sau khi tạo ra mọi vật ở cõi U Minh, Bung sửa soạn mặt đất cho người, vật, cỏ cây lên ở.

 

Thần Thoại người Ba Na.

 

Những công việc ấy làm xong (tạo dựng vũ trụ), hai vị thần Nam Kơi Dơi, thần Nữ Kon Keh mới cùng nhau phối hợp mà sinh đặng ba con. Một con giữ làm thần trên trời (Yă Pôm), còn hai con cho xuống làm người gọi là Yă Bok và Bà Ong, tức là tổ tiên loài người.

 

Buổi đầu mặt đất chỉ có đất và đá. Hai ông bà Ya Bok bèn xin cùng cha mẹ sửa sang lại cho đẹp đẽ. Kơi Dơi mới giao cho một nắm hột và bảo tổ tiên loài người đem xuống vãi trên mặt đất, chẳng bao lâu, những hột trổ chồi, mọc mầm sinh ra những cây cỏ tốt tươi. Tuy thế, đất đai còn rộng nên ông bà Ya Bok lại lên trời xin một lần nữa. Kon Keh liền phán một lời thì các loài chim muông tự nhiên sinh ra. Sau các loài chim ăn trái cây, bay đến đâu gieo hột ra đó, chẳng bao lâu cây cỏ mọc đầy đũ.

 

Người Mường : Huyền Thoại Trăm Trứng.

 

Mặt đất vào thời kỳ ấy chưa có dấu vết cùa loài người. Một ngày kia, có một cây si to lớn mọc trên núi cao, bị bão đổ xuống, trong đó bay ra một đôi chim lớn. Chúng đến ở động Hào, ngày nay là hang Ma Chung Diên ở về lối xóm Phú Nhiên, làng Ngọc Hào, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đôi chim đẻ ra một trăm cái trứng, trong có ba cái lớn dị thường. Đẻ xong đôi chim biến thành người, gọi tên là Ay và Ua, tức là hai con người đầu tiên ở trên mặt đất.

 

Đã năm tháng qua mà không một quả trứng nào nở cả, thất vọng, Ay và Ua mới vào rừng. Gặp hai bà tiên tên là Đam Cha Cu và Gia Cha Cang, hai người liền bầy tỏ nỗi lo âu. Hai bà tiên bảo : “Hai con hãy về xếp  lớp, cứ mỗi lớp năm chục trứng, lấy thứ cỏ huyền diệu này về đề ấp trứng. Cứ năm ngày lại thay đổi, lớp trên xuống lớp dưới, lớp dưới để lên trên. Cứ thế sau năm mươi ngày cả trăm trứng sẽ nở ra con”. Ay và Ua chưa kịp tạ ơn, hai bà tiên đã biến mất trong rừng.. Trở về hang, Ay và Ua làm y theo lời các bà tiên, và năm mươi ngày sau, chín mươi bảy quả trứng nở ra thành người. Năm mươi người về đồng bằng thành người Kinh, còn bốn mươi bảy người ở mạn ngược, về sau thành tổ tiên các giống dân Mường, Mán, Mèo, Thổ…

 

Ba cái trứng lớn nhất vẫn không nở, Ay và Ua ngạc nhiên quá, mới vào rừng, lại gặp các bà tiên, cho biết là ba quả trứng này sẽ nở ra những đứa con đặc biệt, nhưng phảI chờ đủ một trăm ngày. Rồi các bà biến đi. Ay và Ua yên lòng trở về hang. Đủ một trăm ngày, ba quả trứng lớn nở ra con. Quả trứng thứ nhất nở ra một người là Đại Ca, quả trứng thứ hai nở ra Lang Đa Cần, quả trứng thứ ba nở ra một người con gái, cô Nường Kịt. Mọi người đều sống trong hang đá Lôi Vung, cho đến ngày bầy trẻ khôn lớn. Dân Mường sinh ra trước tiên ăn toàn trái cây, đêm tìm hang đá mà ngủ, nhưng họ vẫn làm mồi cho thú dữ, đất đai thì bỏ hoang, họ không biết dùng lửa, sống rất kham khổ…

 

Người Phú Nọi : Hai Trái Bẩu.

 

Ngày xưa Ngọc Hoàng (Pó Then) cho con trai là Khun Bô Lom cùng hai nàng dâu, vợ của Bô Lom, nàng Dôm Ma Pha La (vợ bên phải) và nàng Ét Kheng (vợ bên trái) cùng mấy người ở thiên đình xuống trần. Thuở ấy có cây song Khưa Khao Cát quấn lấy cây Ton Hai to lớn che lấp cả trời. Khun Bô Lom phàn nàn với Trời cây to lớn che lấp không nhìn thấy Trời. Trời cho chặt cây, vì thế đường đi giữa trời và đất bị đứt đoạn. Cây song có hai trái bầu. Trái bầu thứ nhất bị dùi nung lửa cho chọc thủng, những người đầu tiên chun ra là người Khả bị than võ bầu làm cho nám đen vì thế da họ đen., những người chun ra sau đó trắng hơn, Người Phú Nọi chun ra tiếp theo sau người Khả trong lúc vỏ thủng còn nhỏ hẹp vì thế mà họ nhỏ bé nhất. Quả bầu thứ hai được bổ bằng rìu và mác. Người Lào chun ra không bị dồn éo, không bị than nên thân hình họ cao hơn và nước da sáng hơn.

 

Người Việt : Sáng Tạo Vạn Vật.

 

Sau lúc dựng xong vũ trụ, Ông Trời mới bắt đầu tạo ra vạn vật, Tương truyền rằng ban đầu Trời dùng những chất cặn còn sót lại trong trời đất mà nặn ra đủ mọi giống vật, từ những con to lớn đến những con nhỏ bé như sâu bọ. Sau đó Trời mới gạn lấy chất trong để nặn ra con người. Do đó loài người khôn hơn các giống vật.

 

Về công việc nặn ra người, Trời giao cho mười hai nữ thần khéo tay mà hạ giới gọi là mười hai Bà Mụ. Mười hai bà mụ mỗi người làm một công việc khác nhau, bà nắn tay nắn chân, bà nắn tai, bà nắn mắt, bà nắn cơ quan sinh dục, bà dạy bò, bà dạy lật, bà dạy nói cười. Có bà mụ đảng trí nên giống người mói có kẻ á nam á nữ, vì thiếu mất sinh thực khí.

 

Khi sáng tạo loài ngườI, Trời có ý định cho họ sống mãi khỏi phải chết, hể đến già rồi thì nằm yên một nơi trong ít lâu tự nhiên lớp da ngoài thay đổi, bỏ lớp già đi mà hóa trẻ lại, trái hẳn giống rắn, vì bản chất độc ác nên chỉ sống đúng tuổi rồi phải chết. Một vị thần được phái xuống hạ giới để thi hành việc đó, không ngờ gặp nhằm loài rắn trước. Lũ rắn bết được sứ mạng của thần Trời xuống tuyên án chết cho loài chúng mới rủ nhau lại hàng vạn con xúm vây lấy sứ nhà Trời, nhất quyết bắt thần phải nói là : “Rắn già rắn lột, người già người chui tọt vào săng”, nếu không thì lũ rắn nhất quyết một mất một còn với thần.Thấy lũ rắn dữ tợn, liều lĩnh chỉ chực hại mình, thiên sứ đành nghe theo lời chúng. Do đó mà loài rắn được lột xác sống mãi còn loài người khi già đành phải chết.

 

Khi Trời hay tin, giận thiên thần đã làm trái ý của mình, mới đày xuống hạ giới hóa làm kiếp bọ hung suốt đời chui rúc trong phân.

 

Nhận Xét :

 

* Thánh Kinh nói Yaveh lấy bụi đất để tạo dựng con người và hà hơi vào lỗ mũi để cho sự sống. Thần thoại các dân tôc cũng nói con người do Thượng Đế lấy đất nặn thành. Thần thoại người Mèo còn nói rõ Chử Làu lấy đất nặn thành thân hình con người đầu tiên rồi hà sinh khí vào miệng, cho hồn vào bụng và tiếng nói ở cổ họng.

 

* Thánh Kinh nói Yaveh phán : “Người là bụi đất sẽ trờ về với bụi đất”. Thần thoại người Lô Lô nói  Kết Dơ dùng bùn đế làm ra loài người, bị thần đất bắt gặp đòi con người sống ở trần gian một thời gian rồi phải chết đi để trả đất lại cho thần đất.

 

* Thánh Kinh nói con người nghe lờI dụ dỗ của con rắn mà ăn trái cấm nên bị Yaveh đuổi ra khỏi vườn địa đàng, đàn ông phải làm lụng vất vả mới có cái ăn, đàn bà phải mang nặng đẻ đau. Vì con rắn mà loài người phải chịu mọi đau khổ và cuối cùng phải chết. Thần thoại người Việt cũng nói nguyên do vì rắn mà loài người bị chết. Khi sáng tạo ra loài người, Trời định cho họ sống mãi, hễ khi già thì nằm yên một chỗ rồi tự nhiên trẻ lại, còn loài rắn thì phải chết. Trời sai sứ thần xuống trần gian để tuyên phán quyết định đó. Chẳng may, loài rắn biết được ý định đó của Trời mới rủ nhau hàng ngàn hàng vạn con xúm vây quanh thiên sứ bắt phải đổi bản án nhà Trời mà  đọc như sau : “Rắn già rắn lột, người già người chui tọt vào săng”, nếu không thì quyết ăn thua đủ với sứ nhà Trời. Thiên thần sợ quá nên đành phải đọc bản án theo ý chúng. Vì thế mà loài người phải chết.

 

* Thần thoai Mường kể : Từ thuở tạo thiên lập địa có cây si to lớn bị gió đánh ngã, từ trong đó bay ra hai con chim đại bàng, đẻ ra một trăm cái trứng. Trăm trứng này nở ra một trăm người con. Hai con đại bàng đẻ trứng xong thì hóa thành hai người, đàn ông tên Ay đàn bà tên Ua. Đó là hai người đầu tiên trên trái đất. Huyền thoại Việt kể: ông Lạc và bà Âu đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm con. Huyền thoại Việt cũng nói dòng họ vua đầu tiên là Hồng Bàng. Hồng Bàng phải chăng do sự tích chim Đại Bàng mà ra ?

 

* Thần thoại Lô Lô và Phú Nọi kể hai người được Thượng Đế tạo dựng nên đầu tiên đã đẻ ra hai trái bầu, từ trong trái bầu chui ra loài người, tổ tiên của các dân tộc. Thần thoại Việt kể hai ông bà Lạc và Âu đẻ ra bọc trăm trứng, nở ra trăm con. Bầu hay bào cùng nghĩa như nhau, người đàn bà có thai gọi là có bầu. Cái bầu cũng gọi là bào thai. Bào hay bọc cũng đồng nghĩa. Vì chúng ta cùng một bọc trăm trứng nở ra nên gọi nhau là đồng bào, nghĩa là anh em cùng một bọc do cha mẹ Âu Lạc đẻ ra.

 

* Thánh Kinh viết : “Bởi thế đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắn khít với vợ mình và chúng sẽ nên một thân xác”. Thánh Kinh đã nói đến chế độ mẫu hệ thời nguyên thủy, người đàn ông về ở nhà vợ. Chế độ mẫu quyền đã bị các thể chế vương quyền, thần quyền biến thành phụ hệ, phụ quyền. Cho đến tận ngày nay chế dộ mẫu hệ còn sót lại nhiều nơi như trong xã hội người Chăm, các dân tộc thiểu số ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên). Huyền thoại Tiên Rồng chỉ cho thấy đang ở thời kỳ mẫu hệ. Bà Âu Cơ là vợ của Đế Lai rồi của Lạc Long Quân. Bà Âu Cơ đẻ ra trăm con, chia 50 con cho Ông Lạc Long đi nơi khác, còn bà Âu Cơ ở lại cai trị nước rồi truyền ngôi cho Hùng Vương. Chế độ mẫu hệ của Việt tộc còn rõ nét cho tới thời kỳ nhà Hán, Hai Bà Trưng rồi Bà Triệu nổi lên chống chế độ xâm lăng của Hán triều áp đặt chế độ phụ hệ lên Việt tộc.

 

 

 

 

II-  Lụt Đại Hồng Thủy.

 

Theo Thánh Kinh thì ông bà Adam và Eva bất tuân lệnh Yaveh mà ăn trái cấm nên bị đuổi ra khỏi vưởn địa đàng Eden . Ông bà tổ loài người sinh con đẻ cái lan tràn mặt đất. Loài người thời đó sống rất lâu, như ông Mathusalem sống tới chín trăm tuổi (900 tuổi). Ông Noeh, lúc có Đại Hồng Thủy cũng đã sáu trăm tuổi. Nhưng loài người sinh ra thói hư tật xấu, tội lỗi lan tràn. Yaveh hối tiếc đã dựng nên loài người nên quyết ra tay trừng trị. Kinh Thánh viết :

 

“Yaveh đã thấy sự dữ của loài người đã sinh ra nhiều trên mặt đất, suy tính chúng có nặn ra được gì thì chỉ là độc dữ suột ngày. Và Yaveh hối tiếc vì đã làm ra con người trên đất và Người đã đau phiền trong lòng Người. Và Yaveh đã phán : “Ta sẽ xóa sạch khỏi mặt đất loài người ta đã dựng nên, từ loài người cho đến súc vật, côn trùng và chim trời, vì ta hối tiếc đã làm ra chúng. Nhưng Noeh đã có nghĩa trước mắt Yaveh. Noeh sinh được ba con trai : Sem, Kham và Yaphet.

 

Thiên Chúa phán với Noeh : “Giờ khánh tận của mọi xác phàm đã đến, Ta đã quyết định (trước nhan Ta). Bởi chưng vì cớ chúng đã đầy dẫy tội ác. Vậy này Ta sẽ hủy diệt chúng khỏi cõi đất. Ngươi hãy làm lấy một cái tàu bằng gỗ bách, ngươi làm tàu ấy có buồng đoạn lấy lịch thanh trám lại cả trong lẫn ngoài. Ngươi sẽ làm thế này : dài ba trăm xích, rộng năm mươi xích, cao năm mươi xích (chừng 450m,25m,25m). Ngươi sẽ làm cho táu một cái mui và cho mui kênh cao lên một xích và bên mạn thì trổ một cửa. Ngươi sẽ đặt làm tầng dưới, tầng nhì và tầng ba.

 

Phần Ta, này Ta cho Hồng Thủy đến trên cõi đất mà hủy hoại mọi xác thịt có sinh khí dưới gầm trời. MọI sự trên đất sẽ biến thành thây ma. Nhưng với ngươi, Ta lập giao ước của Ta. Và ngươi sẽ vào tàu, ngươi và con cái ngươi, vợ ngươi và vợ con cái ngươi làm một với ngươi. Trong mọi sinh vật, mọi xác thịt, ngươi sẽ đem vào tàu mỗI loại hai con, để độ sinh cho chúng, làm một với ngươi. Chúng sẽ là một con đực, một con cái. Thuộc chim chóc theo loại, thuộc súc vật theo loại, thuôc côn trùng trên đất theo loại, phảI có mỗI thứ hai con đến với ngươi, hầu được độ sinh. Còn ngươi lấy mọI thức ăn được, hãy tích trữ với ngươi. Đó là lương thực của ngươi và của chúng nó”. Và Noeh đã làm mọi sự như Thiên Chúa truyền cho ông làm sao, ông đã làm y như vậy.

 

Vào Tàu.

 

Yaveh phán với Noeh : “Hãy vào tàu, ngươi và cả nhà ngươi, vì Ta thấy ngươi là người đức nghĩa trước nhan Ta nơi thế hệ này. Trong các thú vật thanh sạch, ngươi hãy lấy với ngươi bảy con mỗi loại, đực và cái, còn trong các thú vật không trong sạch (ngươi hãy lấy) hai con đực và cái (và cả chim trời nữa, bảy con mỗi loại, trống và mái), để độ sinh giống má trên mặt đất. Vì bảy ngày nữa Ta sẽ cho mưa xuống đất bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, và Ta sẽ xóa khỏi mặt đất mọi sinh vật Ta đã làm ra”. Và Noeh đã thi hành mọi điều Yaveh truyền cho ông. Noeh chẵn sáu trăm tuổi thì Hồng Thủy nước lụt xẩy đến trên đất.

 

Và để tránh cơn Hồng Thủy Noeh đã vào tàu làm một với con cái ông, vợ ông và vợ con cái ông. (Thuộc các thú vật thanh sạch và các thú vật không trong sạch, và thuôc các chim chóc và thuộc mọi vật bò trên đất, thì cứ từng hai con, đực và cái, đến với Noeh mà vào tàu theo như Thiên Chúa đã truyền cho Noeh). Và sau bảy ngày, nước Hồng Thùy đã xẩy đến trên đất.

 

Năm sáu trăm đời Noeh, tháng hai ngày 17 trong tháng, trong ngày ấy, hết các mạch nước của uông mang vĩ đại bật tung và các cửa tò vò tầng trời toang mở. Và mưa đổ xuống đất bốn mươi ngày bốn mươi đêm.

 

Nhằm chính ngày ấy, Noeh và Sem, Kham, Yaphet, các con của Noeh, vợ Noeh, và ba người vợ của các con ông vào tàu. Cùng với họ, mọi mãnh thú theo loại và mọi thú vật theo loại, mọi côn trùng bò lê trên mặt đất theo loại, mọi chim chóc theo loại, các thứ cầm thú có cánh. Chúng đến với Noeh vào tàu mỗi thứ hai con thuộc mọi xác thịt và có sinh khí, và đi vào có một đực một cái thuộc mọi loại xác thịt, chúng vào chiếu theo điều Thiên Chúa đã truyền cho Noeh.

 

Và Yaveh đã đóng cửa lại đằng sau ông.

 

Lụt.

 

Và đã xẩy đến lụt Hồng Thủy trên đất bốn mươi ngày. Nước đã trướng đại và nâng tàu mà cất bỗng lên khỏi đất. Con nước dâng lên và trướng đại lớn lắm trên đất và táu trôi lên mặt nước. Con nước dâng lên lớn lắm trên mặt đất. Tất cả những núi cao nhất dưới mọi phương trời đều bị phủ lụt cả. Nước đã dâng cao mười lăm xích bên trên khiến mọi núi non đều bị phủ lút. Và mọi xác thịt động đậy trên đất đều tắt thở : chim chóc, thú vật, mãnh thú và mọi vật lúc nhúc trên đất và mọi người hết thảy. Mọi loài có hơi thở nơi mũi, tức tất cả các vật trên cạn đều chết hết.  (Yaveh) đã xóa sạch trên mặt đất hết thảy, từ người cho đến xúc vật, côn trùng, chim trời, chúng đều bị xóa sạch khỏi đất và còn lại chỉ có Noeh và những gì ở trong tàu làm một với ông. Và nước đã dâng lên trên đất một trăm năm mươi ngày.

 

Nước Rút.

 

Và Thiên Chúa đã nhớ đến Noeh, và mọi mãnh thú, mọi thú vật ở trong chiếc tàu làm một với ông. Và Thiên Chúa cho gió thổi ngang trên đất và nước đã dặt xuống. Bấy giờ các mạch nước uông mang và tò vò các tầng trời đóng lại, và trời đã tạnh mưa. Và nước đã rút dần dần khỏi đất. Mãn một trăm năm mươi ngày thì nước đã giảm. Tháng bảy, ngày mười bảy tháng ấy, tàu đã đậu lại trên núi non (xứ) Asarat. Nước cứ giảm dần cho đến tháng mười. Vào tháng mười,ngày mồng một tháng ấy, các đỉnh núi đã ló hiện.

 

Mãn bốn mươi ngày, Noeh mở cửa sổ ông đã làm. Và ông thả ra con quạ. Nó bay ra lượn đi lượn lại cho đến khi nước đã cạn trên đất. Và từ trong, ông thả bồ câu để xem nước đã chảy bớt khỏi mặt đất chưa. Những con bồ câu không tìm đâu đậu chân được thì trở về với ông trong tàu, vì nước vẫn còn trên mặt toàn cõi đất. Ông đã giương tay, đón lấy nó mà đem vào với mình trong tàu. Ông còn đợi bảy ngày nữa mới lại thả bồ câu ra khỏi tàu. Con bồ câu trở về lại với ông, lúc xế chiều. Và này nơi mỏ nó có cành ôliu mới ngắt. Vậy Noeh biết nước đã chảy bớt đi khỏi đất. Ông còn đợi thêm bảy ngày nữa, rồi thả bồ câu ra. Nhưng nó không trở về với ông nữa.

 

Năm sáu trăm lẻ một (đời Noeh), thàng giêng ngày mồng một tháng ấy, nước đã khô cạn trên đất. Noeh lật mái tàu để ngó, thì này mặt đất đã khô cạn. Tháng hai ngày hai mươi bảy tháng ấy đất đã khô ráo.

 

Ra Khỏi Tàu.

 

Thiên Chúa phán bảo Noeh rằng : “Hãy ra khỏi tàu, ngươi, vợ ngươi, con cái ngươi và vợ của chúng làm một với ngươi. Mọi thú vật ở với ngươi, thuộc mọi xác thịt : chim chóc, thú vật, mọi loài côn trùng bò trên đất : ngươi cũng cho chúng ra làm một với ngươi, để chúng nhung nhúc đầy trên đất và sinh sôi nảy nở trên đất”. Và Noeh đã ra cùng con cái ông, vợ ông và vợ con cái ông làm một với ông. Mọi mãnh thú, mọi côn trùng, mọi thứ chim chóc, mọi giống bò trên đất, theo từng giống của chúng, đều đã ra khỏi tàu.

 

Và Noeh đã xây một tế đàn dâng kính Yaveh. Ông đã lấy trong các thú vật thanh sạch và trong các thứ chim thanh sạch mà làm lễ thượng hiến trên tế đàn. Và Yaveh đã ngửi hương trấn nộ. Và Yaveh đã nói  trong lòng : “Ta sẽ không còn rủa độc đất đai lần nữa vì cớ loài người. Vì ngay từ thiếu thời lòng chúng chỉ nặn ra sự dữ. Ta sẽ không còn phá chúng sinh lần nữa như ta đã làm.

 

Bao lâu đất được còn ngày, tất sẽ không ngơi gieo gặt, lạnh nóng, hạ đông, đêm ngày”.

 

Trật Tự Mới.

 

Và Thiên Chúa đã chúc lành cho Noeh và các con ông. Người phán với chúng : “Hảy sinh sôi nảy nở, hãy nên đầy dẫy trên đất. Oai ngươi sẽ làm cho mãnh thú trên đất, mọi chim trời, mọi vật bò dưới đất và mọi cá trong biển phải sợ hãi kinh khiếp. Chúng đều được phó nộp trong tay các ngươi. Mọi vật máy động sinh sống sẽ là thức ăn của các ngươi. Một thể như cỏ cây, nộn thảo xanh tươi. Ta ban tất cả cho các ngươi. Song le các ngươi không được ăn thịt với mạng nó, máu huyết nó. Song le ta sẽ đòi máu huyết tính mạng các ngươi. Ta sẽ đòi mạng sống nơi các loài thú vật. Ta sẽ đòi mạng sống nơi tay ngươi, nơi tay anh em ngươi.

 

Đại Hồng Thủy trong thần thoại các dân tộc ở Việt Nam . 

 

Thần thoại người Thái :

 

Ngày xưa có trời, đất, cỏ, cây.

 

Trời giống hình như một cái nấm khổng lồ làm bằng bảy miếng đất, ba khối đá, chín con sông trong đó có con Nậm Tào (Hồng Hà), Nậm U và Nậm Khoong (Mekong).

 

Trời cho xuống mặt đất đủ giống người đem theo nơm cá, sắt và đồng.

Con người học cách ăn gỏi cá và thịt, cá vằm với rau thơm.

Họ bắt cá khe, cá Bốt với dụng cụ chài lưới.

Trên mặt đất họ bắt nai, hoẵng, trong làng họ bắt ngựa.

Thuở ấy, tất cả chim chóc, thú vật, cả loài rái cá, đều biết nói. Chúng nó thưa kiện với Trời về sự phá hoại của con người đã làm cho chúng. Trời bèn dùng phép tắc phi thường làm cho hạn hán khắp nơi. Trâu bò chết vì thiếu cỏ. Lúa khô cháy, loài cua chết khô ở ruộng đồng, rễ cây ăn được hư thối ngay ở dưới đất, trái cây Pao hỏng trong lúc còn ở trên cành.

 

Thuở ấy, ông Tổ trên trời (Chô Cung Phạ) ra lệnh cho loài rắn phải chết khô và loài nhái cùng chung một số phận. Trời dùng nghêu ốc để làm ra đồ đong rượu (vang láu), dùng con cú để làm ra một người bệnh (chao khoan), dùng ruồi làm một thanh niên, dùng cá pơ lát làm ra một chú tiều, dùng chim chích chòe (nốt thua) làm ra một người đàn bà tài giỏi (nang lang).

Sau đó trời trở nên tối tăm, sấm xét nổi dậy. Trong vòng một ngày có trên một trăm ngàn trận mưa rơi đầy mặt đất. Tất cả khe suối, ao hồ đều tràn ngập. Đồng ruộng cũng đầy cả nước. Nước dâng lên cao tận trời, tất cả mọi sinh vật sống trên mặt đất đều chết hết.

 

Sau đại họa ấy Trời đưa xuống những sinh vật khác. Pu Cha Tao Suông và Tao Ngân từ trời xuống mặt đất đem theo tám quả bầu và tám cái gậy bằng đồng gọi là Sao Căm Phạ (Gậy Chống Trời). Trong một những quả bầu ấy có đủ mọi thứ cần dùng cho đời sống, có 330 giống lúa để gieo, 330 giống người. Trong các quả bầu cũng có đủ những sách dạy các phép phù thủy, bói toán, tiên tri.

 

Chính Trời gởi hai vị thủ lãnh Tạo Suông và Tạo Ngân để tạo lập lại trên mặt đất. Họ xuống đến Mường Um và Mường Ai là nơi chính giữa Trời và đất. Họ chị thấy một vùng nước mênh mông còn đang bao phủ cả mặt đất. Trong ba tháng nước mới bắt đầu rút xuống. Sáu tháng mặt đất mới thật khô ráo. Tạo Ngân đóng ở Mường Um và Mường Ai, còn Tạo Suông xuống phía dưới thấp hon để tạo lập thế giới.

 

Đến Mường Lô, Tạo Suông phân phát các quả bầu và gậy đồng. Y gởi đến Mường Bô-Te-Thiên-Chiên sáu trái bầu và sáu chiếc gậy, còn lại hai trái bầu và hai chiếc gậy thì phân chia cho các Mường sau đậy :

 

     Mường Keo (Trung Việt)                                                 Mường Lào  (Ai Lao)

     Mường Lự   (Xứ Lư)                                                       Mường Mán  (Miến Điện)

     Mường Koi  ( Thái Lan)                                                   Mường Rô    (Cao Miên)

 

Hồng Thủy theo người Khả.

 

Ngày xưa có một người con trai cùng với em gái đi trong rừng gặp một con chuột lớn cho hay là trong sáu ngày nữa sẽ có một trận lụt lớn vô cùng. Nếu các người muốn thoát chết thì chặt một thân cây, đẽo ruột đi, để dành thức ăn vào đó rồi buộc vào một cây vả rừng. Hai người vào ở trong đó và nhớ lấy sáp ong bịt kín lại cho kỹ.

 

Sáu hôm sau, xẩy đến một trận lụt khắp nơi. Hai anh em nghe lời chuột chui vào trong thân cây, nhìn qua lỗ nhỏ thấy nước mênh mông tràn ngập cả xứ. Sau vài hôm nước rút xuống, hai anh em trong thân cây chui ra. Chung quanh họ chết sạch.

 

Họ gặp con chim Togo khuyên họ nên lấy nhau vì trên mặt đất cả loài người đều chết hết chỉ còn hai người nếu không thì sau một trong hai người chết đi, loài người sẽ bị tiêu diệt. Hai anh em quyết định theo lời khuyên của chim. Được ít lâu người đàn bà có thai rồi ba năm sau sinh hạ hai quả bầu. Hai vợ chồng không hiểu sao bỏ mặc trái bầu bên cối gạo. Một hôm người đàn bà làm gạo xong, mệt nhọc buông rơi cái chày làm vỡ một quả bầu. Tự nhiên trong đó chui ra vô số người : Thái, La, Nhuôn.

 

Còn trái bầu nguyên, người đàn bà sợ làm vỡ bị thương đến người trong đó, mời lấy một cái dùi nung lửa rồi từ từ chọc thủng. Người Khả ở trong liền chui ra với làn da nám đen than cháy ở vỏ bầu, Vì thế người Khả đen hơn tất cả các dân trong xứ.

 

Hồng Thủy theo người Mèo

 

 Loài người sống trên mặt đất được chín ngàn (9.000) năm. Có hai anh em cùng cuốc đất làm ở một cánh đồng, một hôm nhận thấy bao nhiêu luống đất họ đã cuốc lên hôm qua đến ngày sau lại liền như cũ. Đêm đến, họ thấy một ông già đang lấp lại những luống đất đã cuốc lên trong ngày.

 

Người anh cả toan giết ngay đi, nhưng người em út cản lại để hỏi duyên cớ thì ông già cho biết rằng đừng làm lụng vô ích, không được sống để hưởng mùa màng trồng tỉa đâu, vì đến tháng bảy năm nay có một trận lụt ngập cả mặt đất. Hai anh em mới nhận ra ông già kia không ai lạ hơn là Chử Làu, bèn hỏi làm cách nào cho khỏi chết đuối. Với người anh cả tính tình hung tợn, Chử Làu bảo hãy làm một cái trống bằng sắt, còn với người em út hiền lành thì Chử Làu khuyên nên làm một cái trống bằng gỗ trong đó sẽ chở người chị theo, cùng các giống vật mỗi thứ một con đực, một con cái. Hai anh em làm y theo lời Chử Làu dặn.

 

Đến tháng bảy, mưa liên miên suốt bốn mươi ngày đêm, nước tràn ngập mặt đất, dâng cao đến trời. Hai anh em chui vào trống mong thoát chết. Chiếc trống sắt chẳng bao lâu thì chìm, người anh cả chết theo. Còn chiếc trống gỗ trôi theo nước lên tận trời, người em út cùng chị lên nói với Chử Làu là mặt đất tràn ngập không còn ở được nữa. Chử Làu nhìn xuống thấy đất tràn ngập khắp nơi mới sai chín con rồng hình cầu vòng rút nước cho ráo mặt đất. Trong năm mươi ngày nước hạ xuống, trống theo nước trở về mặt đất ướt lầynhư cứt gà. Nước đã rút hết, hai chị em ở trong trống mới chui ra, thấy cả loài người đều chết sạch. Một con đại bàng bay lại mang hai chị em trên cánh đưa đến một nơi cao ráo. Chim không tìm thấy thức ăn trên mặt đất, hai chị em muốn trả ơn chim mới lấy thịt mình cho chim ăn. Mỗi người cho chim ba miếng thịt lấy ở gáy, dưới nách và kheo chân, do đó mà về sau thân hình người ta đều hõm vào ở ba chỗ đó.

 

Rồi họ bắt đầu làm đất, vãi những hạt giống mang theo.

 

Người em lớn lên, ngỏ ý muốn lấy chị, người chị từ chối, bảo rằng trời cấm chị em không được lấy nhau. Người em mới nài ép chị lấy cớ rằng trên mặt đất không còn có người đàn bà nào khác nữa. Hai chị em bèn hỏi ý Chử Làu bằng cách lăn hai cái thớt cối xay từ trên núi xuống, hai cái thớt dính liền nhau, cho rằng đó là ý trời muốn vậy, hai chị em bèn kết làm vợ chồng.

 

Con của họ đẻ ra không đầu, không tay, không chân, tròn như một quả trứng. Cho là có lẽ đứa bé ở trong đó, họ cắt ra. Không thấy đứa bé trong trứng, song mỗi miếng cắt ra rơi xuống đất thành một người. Thấy thế họ mới cắt ra thật nhiều miếng thành có vô số con. Mặt đất nhờ đó mà có người trở lại.

 

Hồng Thủy theo người Mán kể :

 

Thuở trời đất mới dựng nên, có một vị thần tên Chang Lô Cô xây một ngôi nhà  lợp bằng  lá chuối,  một  vị  thần khác tên  Lung Cung ( thần sét ) thách thức sẽ làm đổ  ngôi nhà, và làm thật,  rồi sau đó hóa thành một con gà trống tỏ vẻ đắc thắng.Chang Lô Cô thừa cơ túm đựơc, nhốt gà trống vào cái lồng hình vuông, không cho uống nước. Thần Sét khát quá, đưa ra một cái răng xin đổi lấy ít nước uống. Chang Lô Cô nhận lời đưa nước cho gà uống, gà vừa uống xong thì hiện nguyên hình Thần Sét, phá tan lồng bay lên trời.

 

Chang    Cô đem chiếc răng  của Thần Sét gieo xuống đất, thì mọc lên  một nhánh bầu  với một  quả bầu khổng lồ. Tức giận vì bị Thần Sét  đánh lừa, Chang Lô Cô  ngồi trên nóc nhà đã bị làm đổ giữa một cái ao, dùng phép  ngăn sông  dâng nước lên trời  để đánh  đuổi  kẻ thù.  Nước dâng lên cao  làm chết  đắm cả loài người. Chỉ có một  người đàn ông  là Phu Hay  đựợc  chim thần  đến báo cho biết trước  tai nạn  và khuyên anh em tìm đến quả bầu khổng lổ ấy để lánh nạn.

 

Khi nước dâng lên đến cửa nhà Trời,  Chang Lô Cô  đập mạnh cửa  gọi Thần Sét.  Thần Sét  bèn tháo nước trôi tuốt ra biển, Chang Lô Cô bị rơi theo, đầu va vào ngọn núi Côn Lôn và chết.

 

Trái bầu chở anh em Phu Hay thoát nạn cũng mắc trên đỉnh núi đó. Hai người độc nhất còn sống sót lại trên mặt đất, không biết tai hại thảm khốc đã tiêu diệt cả loài người, dắt nhau đi tìm người cùng nòi giống để kết hôn.  Đầu tiên họ gặp  một con rùa,  rùa bảo trên  mặt đất chỉ còn có  hai anh em mà thôi,  rồi khuyên họ lấy nhau Cho là rùa nguyền rủa mình,  Phu Hay đập con rùa tan ra từng mãnh. Những mảnh vỡ của rùa nối liền ngay lại với nhau, và ngày nay rùa còn mang đấu vết ở trên mai.

 

Sau đó,  hai anh em lại ra đi, gặp một cây tre,  tre cũng khuyên họ như rùa, Phu Hay tức giận chặt tre ra làm nhiều khúc nhưng các khúc tre nối liền với nhau và từ đó có dấu vết từng khúc trên thân tre. Cuối cùng Phu Hay cùng em gái phải lấy nhau, rồi đẻ ra một trái bầu.  Phu Hay cắt quả bầu  lấy hột giao cho vợ  đem gieo mỗi hạt mọc lên hóa thành một người.

 

Sau trận hồng thủy,  xuất hiện mười hai tinh cầu để làm khô ráo mặt đất. Nhưng sau khi mặt đất khô ráo, 12 tinh cấu vẫn chiếu nóng mãi khiến cho cây cối không mọc được.  Con người mới lấy cung bắn rụng hết các tinh cầu, chỉ để lại mặt trời và mặt trăng.

 

Hồng Thủy Theo Người Lô Lô.

 

Gia đình tổ tiên chúng ta gồm có bốn người, ba người anh và một em gái. Một hôm họ cày ruộng, đến ngày sau trở ra đồng  thì thấy những  luống cày  dính liền lại với nhau như cũ. Họ cày đến  ngày thứ ba  cũng lại thấy như thế. Thì ra đến đến nửa đêm có ông Nhi Gia tay cầm gậy trắng đến lấp những luống đã cày.Người anh cả muốn đánh, người em thứ muốn bắt trói lại, người em út muốn hỏi nguyên do tại sao ông già lại làm vậy. Ông già đáp, các ngươi làm việc làm gì nữa vô ích,  lụt hồng thủy sắp tới nơi rồi,  nước sẽ dâng lên tới tận trời, loài người sẽ chết hết. Bốn anh em kia lo sợ không biết tính ra sao….

Người  anh cả  ngồi trong  chiếc trống  bằng sắt  bị nước chìm.  Người em thứ  ngồi trong chiếc trống  bằng đồng cũng bị chết chìm. Người em út cùng chị  ngồi trong chiếc trống  bằng gỗ theo lời khuyên của ông già đã dặn,  mang theo  một cái trứng,  đợi lúc nào  gà nở  lên tiếng kêu  thì hãy mở  trống ra.. Trống gỗ chở hai người theo nước rút xuống mắc ở một cành cây si mọc ở sườn  đá lưng chừng núi.  Hai người phải nhờ đến một cây tre  cứu thoát cho. Khi xuống được  đất rồi, người con trai mới nói với cây tre rằng : “Tôi không có tổ tiên vậy tôi sẽ thờ tre làm tổ”. Từ đó người Lô Lô lấy tre làm vật tổ.

 

Hồng Thủy Theo Người Roglai.

 

Biển đông dâng lên  phía mặt trời  mọc,  nước dâng cao  đến tận trời.  Mây cũng theo nước lên cao.  Những người ở  miền núi, một đàn ông,  một đàn bà người Chàm,  một đàn ông,  một đàn bà  người Việt,  một đàn ông, một đàn bà người Cao Nguyên cùng loài chim một đực, một cái, hết thảy những giống có đôi cùng đếu theo chui vào cái trống.

 

Nước rút để lại hết thảy ở ngọn núi Yang La, voi, nai, tê giác, heo rừng, trâu ngựa, heo  mỗi giống một đôi. Khi mặt đất đã khô,  người ta từng đôi  đi về xứ mình ở,  người Chàm về xứ họ,  người Việt cũng thế,  còn người Thượng thì ở lại núi rừng. Do đó dân miền rừng núi còn truyền giống cho đến ngày nay.

 

Một Truyền Thuyết Khác :

 

Khi nước lụt từ biển đông  dâng lên đến  ngọn núi,  có hai người ở miền Thượng, một trai một gái chui vào một cái trống. Nước dâng lên cao vượt đầu các ngọn núi đến tận trời cuốn trông trôi theo.

 

Khi nước rút cái trống chở hai người mắc cạn ở ngọn núi Yang La thuộc vùng bộ lạc Roglai ngày nay. Sau trận lụt to lớn ấy, tất cả đều chết sạch chỉ trừ hai người còn sống sót ở trong cái trống.  Họ lấy nhau rồi dần dà sinh sôi nẩy nở ra loài người.

 

 

Hồng Thủy Theo Người Ba Na.

 

 

 

Ngày xưa,  thuở ban đầu,  con diều hâu  có truyện gây gỗ  với con cua, thừa lúc mổ  một cái  thật mạnh vào lưng con cua, nứt thủng mai cua,  còn để lại dấu vết đến ngày nay.  Con cua muốn trả thù nhưng không biết làm sao vì  con diều hâu bay nấp ở trên mây,  bèn dâng nước sông  và biển lên tận trời.  Tất cả mọi sinh vật đều chết, trừ có hai người, anh em trai và gái vào nấp ở trong một chiếc trống lớn.  Nước dâng lên bẩy ngày bẩy đêm, rồi người anh nghe  có tiếng gà gáy bên ngoài. Con gà này do thần sai đến báo  cho hai người còn sống sót hay là nước đã rút.  Người con trai liền mở cửa trống cho các giống vật chui ra.  Hai anh em ra sau cùng, hết sức bối rối vì gạo mang theo đã lấy ra ăn hết sạch,  mà mùa màng đã bị hư hại cả, biết lấy lúa đâu mà gieo. Đang lúc hai anh em lo lắng thì bỗng nghe gọi đến tên mình, và tiếng nói từ mặt đất đưalên.Người

Anh nhìn  xuống dưới chân thấy một con kiến đen,  gọi là Hmoch Kenton.  Con kiến tha đến hai hột lúa của thần cho,  bảo với người anh rằng : “ Này, người lấy hai hạt lúa  đem gieo ngay đi,  rồi sẽ được mùa sớm ”. Người con trai nghe lời,  đem gieo hai hạt giống thần,  thì sáng hôm sau, cánh đồng mọc lên  đầy những lúa tươi tốt, mỗi hột to đầy một nồi,  ăn vừa một bữa.  Sau đó anh em lấy nhau,  sinh nhiều con cái.  Người nào đến lúc già chết đem chôn ở gốc cây Lông Blô thì sống lại như hồi niên thiếu, vì vậy cho nên mặt đất chẳng bao lâu có người đông đúc. Số người trở nên đông quá, đến nỗi con kỳ đà Moueul Jol không thể bò đi chơi được vì bị người ta dẫm lên đuôi. Nó bèn gạt người ta, khi chết đem chôn ở gốc cây Lông Khung, và từ đấy loài người hễ chết là chết luôn.

 

  Người Ba Na còn có một sự tích khác về Lụt Hồng Thủy như sau :

 

   Loài người trở nên  hoang dâm vô độ,  khắp nơi bày ra cảnh kỳ quái.  Bok Kơi Dơi lấy làm căm tức,  mới làm mưa luôn mấy ngày đêm thành một trận đại hồng thủy, thiên hạ đều chết hết. Chỉ có hai anh em nọ tính nết hiền lành được Bok Kơi Dơi bảo tránh nạn vào một cái trống và đem theo đủ các loài thú vật, mỗi giống một cặp đực cái. Vì vậy người ta kêu hai anh em ấy là Bok Sơgơr (ông bà tránh nạn trong trống).Bềnh bồng trên mặt nước độ chừng trên một tháng  Ia Bok Sơgơr mới thả thử một con chim bồ câu ra  thời nó bay luôn không về,  lại thả thêm một con quạ nữa,  đến khi nó bay trở lại  thì chân có vết bùn.  Hai anh em biết nước rút xuống rồi mới chui ngoài trống và tnhả các giống vật ra. Số hạt giống đem theo họ đã ăn hết sạch, họ nhờ có con kiến đem lại một hột lúa thần,  đem gieo thì ngày hôm sau  lúa mọc đầy đồng  mênh mông,  mỗi hạt lúa có thể nấu đầy một nồi và ăn no một bữa..

 

  Hai anh em  ở trống chui ra là hai người còn sống sót trên mặt đất, nên phảI lấy nhau. Họ sinh được mười tám người con, 7 trai và 11 gái.  Số trai gái không bằng nhau nên  các anh em trai  phải lần lượt  thay phiên nhau lấy các chị em gái. Do đó mà con họ đẻ ra chỉ biết có mẹ mà không biết cha là ai.

 

 

NHẬN XÉT :

 

*  Thánh Kinh nói  nguyên do có  Đại Hồng Thủy là vì   loài người đã  phạm nhiều tôi ác,  Yaveh muốn hủy diệt loài người để tạo dựng  một thế hệ mới lành mạnh hơn.  “ Chúng có nặn ra được gì thì chỉ là độc dữ suốt ngày”.

 

 Người Thái nói,  loài người thời đó  đã bắt cá  trong  khe suối để  ăn gỏi với rau thơm,  lại bắt cả các thú vật khác như nai, hoẵng,trâu, ngựa…. để ăn thịt.  Các loài vật  kiện lên  Ổng Tổ trên trời  (Chô Cung Phạ). Chô Cung Phạ  mới làm lụt,  trong một  ngày có  trăm ngàn  trận mưa làm ngập lụt tất cả mặt đất nước dâng cao tới tận trời giết chết tất cả loài người.

 

 Theo  người Mán  thì vì sự thách thức của  hai vị thần,  một vị thần  chạy lên trời trốn, vị kia tức giận làm mưa dâng nước lên tận trời để đuổi bắt, vì thế mà có trận lụt lớn làm chết cả loài người, thú vật.

 

 Người Ba Na nói vì con diều hâu và con cua gây gỗ nên cua dâng nước lên bắt diều hâu làm lụt.

 

 Người Ba Na cũng nói nguyên do loài người hoang dâm vô độ nên Thượng Đế làm lụt  để trừng trị giết hết loài người chỉ trừ hai anh em có tính nết hiền lành được cứu sống.

 

 

 Ở vùng Lưỡng Hà  (Mesopotamia) trong truyện  Upanapishtim ( tương đương với ông Noeh ) nói thần Enlil tức giận  vì loài người gây ồn ào quá làm thần  không nghỉ ngơi được  nên ra tay trừng phạt cho trên trời mưa xuống, nước biển dâng lên làm chết hết loài người cùng thú vật.

 

*  Trời tuy hủy diệt  loài người cùng thú vật,  nhưng cũng cứu  một số người để gây dựng lại loài người. Thánh Kinh kể :  vì Noeh có nghĩa  trước mặt  Yaveh nên  Yaveh  dạy đóng  một chiếc tàu dài  300 xích,  rộng 50 xích,  cao 50 xich đem theo vợ cùng 3 con và dâu cùng các thứ súc vật có cặp đực cái.

 

Truyện  Upanapishtim cũng nói  thần Enlil bảo ông đóng tàu,  đem gia đình và giống vật mỗi thứ một căp đực cái để gây giống sau này.

 

 Người Mèo nói,  loài người sống trên  mặt đất được  9.000 năm thì có lụt lớn.  Chử Làu  bảo với người anh hung dữ làm một cái trống bằng sắt, còn với người em hiền lành thì Chử Làu bảo làm một cái trống bằng gỗ trong đó chở người chị theo  cùng các giống vật mỗi thứ  một cặp đực cái và đủ thức ăn.  Khi nước lụt đến,  trống bằng sắt của người anh bị chìm,  còn trống gỗ người em và chị thì nổi.

 

 Người Roglai nói nước  biển dông dâng lên  đến tận trời làm chết hết mọi,  sinh vật người và thú vật chỉ trừ hai người miền Thượng,  một trai một gái,  sống sót nhờ chui vào cái trống,  họ cũng mang theo các giống thú vật mỗi thứ một cặp đực cái.

 

 

* Thánh Kinh nói khi nước rút cạn thì tàu ông Noeh đậu trên đỉnh núi Ararat thuộc nước Armenia ngày nay.

 

 Truyện Upanapishtim nói tàu của họ đậu trên núi Nisia.

 

 Người Roglai nói chiếc trống chở hai anh em đậu trên ngọn núi Yang La thuộc bộ lac Roglai. (Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam )

 

 Người Mán nói hai anh em được chim thần bảo cho hay nên chui vào trái bầu để tránh nạn hồng thủy. Khi nước rút, trái bầu mắc cạn trên ngọn núi Côn Lôn. (thuộc vùng Trung Á)

 

 Người Lô Lô nói trái bầu anh em họ mắc vào cành si ở cạnh núi và nhờ cây tre mà họ được cứu.

 

 Người Ba Na (Cao Nguyên Trung Phần VN) nói “trong cơn hồng thủy, một con heo đực đã phá tung đoạn đâp chắn,  cho nước rút đi,  cứu thoát loài người”.  Dân bản địa Đài Loan  Tsuwo và Bunun cũng có truyện con heo đực phá đập cứu loài người như người Ba Na.

 

*  Kinh Thánh nói  ông Noeh thấy trời tạnh mưa,  thả chim để dò xem đất đã khô ráo chưa. Đầu tiên ông thả một con quạ,  nước chưa rút thì nó cứ lượn qua lượn lai.  Sau ông thả một con chim bồ câu, vì nước còn ngập mặt đất,  nó không tìm được chỗ đậu  nên bay  trở vế tàu.  Rồi ông lại thả một con bồ câu khác ra, con chim bồ câu bay trở về, chân lấm bùn còn mỏ ngậm một cành ô liu mới ngắt. Ông biết nước đã cạn. Ông ra khỏi tàu.

 

 Truyện Utanapishtim kể :  “ Đến ngày thứ bảy  (theo truyện này thì lụt chỉ có sáu ngày),  tôi đã đem ra  một con bồ câu mà thả nó ra.  Bồ câu đi rồi trở về.  Bởi nó không có chỗ đậu  thì đã trở lại.  Tôi đem ra một con én mà thả nó đi.  Con én đi rồi trở về bởi nó không có  chỗ nào đậu,  nó đã trở lại.  Tôi đem ra một con quạ mà thả nó đi,  quạ đi và thấy nước cạn rồi.  Nó ăn,  nó lội bì bỏm, nó kêu oác oác, nó không trở lại. Và tôi thả nó ra tứ phia”.

 

   Người Ba Na nói anh em ở trong trống  muốn biết đã hết mưa hay chưa  mới thả một chim bồ câu ra thì nó bay đi mất, lạI thả một con quạ thì nó bay về chân lấm bùn, họ biết là nước đã cạn.

 

 

* Kinh Thánh nói khi ra khỏi tàu, ông Noeh lập  đàn tế lễ tạ ơn Yaveh.  Yaveh hứa sẽ  không còn “phá hủy chúng sinh như đã làm” và lấy dấu hiệu cầu vòng như lời giao ước.

 

  Truyện Upanapishtim nói  dâng lễ vật trên núi chỗ tàu ông đậu lại và thấy  “chư thần hít được mùi thơm, chư thần như ruồi bu lại trên đầu người tế lễ”.

 

*  Truyện  Đại Hồng Thủy của  người Việt đã biến dạng  thành truyện của  hai thần Sơn Tinh  và Thủy Tinh tranh nhau cưới  Mỵ Nương con vua Hùng.  Sơn Tinh đem đồ sính lễ tới trước với  “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao ”  nên cưới được Mỵ Nương.  Sơn Tinh tức giận dâng nước lên đánh Sơn tinh,  làm lụt lội khắp dân gian.  Còn Sơn Tinh thì nước  dâng tới đâu làm núi cao tới đó nên không hề hấn gì.

 

 

VƯỜN ĐỊA ĐÀNG (VƯỜN EDEN ) Ở ĐÂU ?

 

 Kinh Thánh nói về vườn Địa Đàng ( Eden ) như sau :

 

  “ Và Yaveh Thiên Chúa  đã trồng  vườn cây ở Eden , về phía Đông  và Người đặt trong đó, người đã được Người nắn ra.  Và Yaveh Thiên Chúa  đã cho từ đất mọc lên  mọi thứ cây coi sướng mắt  và ăn ngon lành.

Và cây sự sống ở giữa vườn và cây sự biết tốt biết xấu. Một con sông từ Eden chảy đến để cho vườn uống và từ đó nó chia ra làm bốn nhánh. Tên nhánh thứ nhất là Khison. Nó chảy vòng quanh tất cả đất Havila là nơi có vàng.

 

  Vàng đất ấy là thứ vàng tốt, ở đó cũng có nhũ hương và mã não. Và tên sông thứ hai là Ghikhon. Nó chảy vòng quanh tất cả đất Kush . Và tên sông thứ ba là Tigra. Nó chảy phía đông Assur và sông thứ tư là Phơrat. Yaveh Thiên Chúa đã đem người đặt trong vườn Eden để nó canh tác và giữ vườn.”

 

   Điểm đáng lưu ý là vườn Eden ở về phương Đông  và có bốn con sông từ vườn Eden chảy ra. Kinh Thánh đã kể tên bốn con sông  này là Kison, Ghikhon, Tigra và Phơrat. Hai con sông Tigra và Phơrat (tức sông Tigris Euphrates ) là hai con sông ở nước Irap ngày nay. Còn hai con sông Kison và Ghikhon  thì không biết ở đâu.  Có người nói đó là  hai con sông  Jordan  chảy qua đất Palestine và con sông Nile của Ai Cập. Nhưng hai con sông này ở cách sông Tigris  và Euphrates quá xa, không thể là cùng bốn nhánh như Kinh Thánh nói.

 

  Địa điểm vườn địa đàng theo Kinh Thánh viết thì phải ở vào thượng nguồn hai con sông Tigris và Euphrastes tức vùng đất phía bắc Iraq tức vùng đất của ngườI Kurdish. Người ta hồ nghi nơi đây có thể là vườn địa dàng hay không vì đất nơi đây chỉ có đá và cát, cây cối lơ thơ thì làm sao có thể là vườn địa đàng được ?

 

    Mới đây,  vào năm 1994, do một người  chăn súc vật phát hiện,  các nhà khảo cổ đã tìm ra ở Gobekli Tepe, phía đông của Thổ Nhĩ Kỳ,  phía bắc Iraq , một địa điểm được coi như là vườn Địa Đàng (vường Eden ).  Tờ Daily Mail viết, qua dịch thuật của Hồng Nhung đăng trên mạng  Take2 Tango :

 

  “… Gobekli Tepe bao gồm  những tảng đá thuôn  hình chữ nhật,  được dựng trên những tấm thạch phẳng, khiến nhiều người liên tưởng tới vòng tròn đá Stonehenge .

 

   Hầu hết những tảng đá được khắc những hình vẽ rất tinh tế và kỳ lạ, với phần lớn hình các con vật giống như vịt hay lợn rừng, những con rắn rất dài, thậm chí cá tôm và sư tử cùng các nét vẽ mô tả hoạt động săn bắn, các trò chơi.

 

   Những tảng đá đó còn có những hình vẽ rất giống với hình dạng con người. Về chức năng, các nhà khảo cổ học tin rằng Gobekli Tepe trước đây là một thánh đường hoặc khu vưc hành lễ.

 

    Đầu tiên là về “tuổi thọ”, theo khảo sát cacbon,  tổ hợp này ít nhất tồn tại từ  12.000 năm  nghĩa là nó được  xây dựng trong khoảng  năm 10.000 trước Công nguyên. Trong khi đó Stonehenge đâu hình thành từ  năm 3.000 trước  Công nguyên,  còn Kim thự tháp Giza   là năm 2.500 trước  Công nguyên.  Có thể  thấy

Gobekli là khu vực có công trình xây dựng “già” nhất trên thế giới, trước khi có chữ viết,  xuất hiện đồ gốm.

 

  Ngày nay, xung quanh Gobekli là khu đất khô cằn.  Tuy nhiên theo những chạm khắc trên phiến đá cũng như những vết tích khảo cổ còn sót lại thì nơi đây tùng là một mảnh đất xanh tươi, màu mỡ với những sông đầy cá, chim muông để săn bắn, các thảm cỏ xanh và cây quả dại.

 

   10.000 năm trước, khu sa mạc này từng là một thiên đường. Điều gì đã phá hủy môi trường nơi đây. Câu trả lời rất có thể là … con người.

 

    Khi loài người bắt đầu canh tác đã làm thay đổi khí hậu cũng như cảnh quan nơi đây. Khi cây bị chặt bỏ, tất cả  những việc cày cấy,  thu hoạch,  khiến cho đất  bị xói mòn và khô cằn.  Như thế có thể   nghĩa là “thiên đường bị đánh cắp”.

 

  Giống như trong Kinh Thánh viết : “Kẻ săn bắn Adam bị buộc rời thiên đường Eden và bị đầy tới trái đất”.  Có nhiều bắng chứng lịch sử cho thấy  những người  viết sách Kinh Thánh,  khi đề cấp đến Eden thực chất là mô tả khu vực ở Thổ Nhĩ Ký ngày nay.

 

  Trong cuốn sách Genesis, Eden nằm ở phía Tây Assyra và đó cũng chính là nơi tìm thấy Gobekli. Tương tự, Eden giáp với 4 dòng sông, bao gồm sông Tigris , Euphrates . Gobekli nằm đúng giữa hai con sông này.

 

   Trong cuốn sách của Assyra  có nhắc đến “ Beth Eden ”,  một ngôi nhà ở vương quốc nhỏ này nằm cách Gobekli Tepe 50 dặm. Bản thân từ Eden theo tiếng Sumeri có nghĩa là “đồng bằng” và Gobekli nằm trên khu vực đồng bằng của Harran .

 

  Tổng hợp các yếu tố trên, bằng chứng tỏ ra khá thuyết phục. Gobekli Tepe là “thánh địa ở Eden ”, được xây dựng bởi những người tổ tiên “nhàn nhã” của loài người.  Những người có thời gian để chạm khắc ra nghệ thuật, kiến trúc hay những lễ nghi phức tạp trước khi nông nghiệp làm thay đổi phong cách sống và hủy hoại thiên đường của họ.

 

  Khoảng 8.000 năm trước Công nguyên, những người sáng tạo ra Gobekli đã cho lấp ngôi đền này dưới hàng nghìn tấn đá, tạo thành một khu đồi như hiện nay.

 

  Không ai biết tại sao lại bị vùi sâu dưới lòng đất. Có lẽ đó là một sự hy sinh cho đấng tối cao đang tức giận hay đó là sự sám hối  cho những tội ác và hình phạt hà khắc,  mà những tảng đá tín ngưỡng này  góp phần vào.

 

  Dù câu trả lời là gì, những tảng đá ở Gobekli Tepe dường như muốn cảnh báo con người nhìn vào những sự thật mà họ đang tạo ra, vì chính con người phá hủy khu Eden đầu tiên trên thế giới.”

 

  Đó là sự kiện các nhà khảo cổ cho “vườn Eden” nói trong Thánh kinh là ở khu vực Gobekli Tepe  thuộc Thổ Nghĩ Kỳ ngày nay.  Nhưng cũng có những người nói “vườn địa đàng” nằm trên dãy núi Himalaya . Chúng ta theo rõi xem họ nói làm sao.

 

 

VƯỜN ĐỊA ĐÀNG ( EDEN ) Ở TRÊN DÃY HY MÃ LẠP SƠN.

 

  Phía tây dãy Hy Mã Lạp Sơn nơi giáp ranh giữa Tây Tạng với Nepal và Ấn Độ, có đỉnh núi mang tên Kailas, cao 22.000 bộ. Đây là ngọn núi thiêng của người theo Ấn giáo và Phật giáo.  Người ta tin nơi đây  là ngọn núi Tu Di  (Meru, Sumeru),  là trục của vũ trụ,  nơi ngự trị của   thần  Shiva.  Người ta tổ chức các cuộc  hành hương tới Kailas,  đến từ Ấn Độ,  Nepal và Tây Tạng. Họ bỏ cả năm trời, vượt đèo, vượt suối, với những lối đi chật hep, gập gềnh,  cheo leo,  chỉ xẩy chân một chút là rơi xuống vực thẳm tan xương nát thịt. Thời tiết thì khắc nghiệt, lạnh lẽo, lúc thì mưa đá,  lúc thì gió, có lúc lại nắng cháy da. Dọc đường có  rất ít nhà cửa,  phố xá nên những  người hành hương  phải tự túc mang theo  đồ ăn thức uống,  chăn mền và lều trại.  Có những người tự hành xác, chỉ xin ăn dọc đường, hy vọng là sẽ có một đời sống tố lành vào kiếp sau.

 

  Kailas đứng sừng sững một mình trong dãy Hy Mã Lạp Sơn, phủ đầy tuyết trắng, nom như một chiếc đĩa bạc khổng lồ in trên nền trời trong xanh, vì thế  được gọi là Ngân Sơn. Dưới chân Ngân Sơn có hai cái hồ, cái lớn tên Manasarovar, cái nhỏ tên Rakastal. Từ đây phát xuất  bốn con sông   sông Indus ,  sông Satlej,  sông Karnali và sông Bramaputra.  Sông Satlej chảy xuống hạ lưu nhập vào sông Indus.   Sông Karnali là một chi nhánh của sông Hằng.

 

   “ Tất cả chúng đều được phát xuất từ khu vùng Ngân Sơn – Manasarovar,  đó là vùng cao nhất của cao nguyên Tây Tạng.

 

Trong các tài liệu cũ, các con sông này đều được xem như chảy ra từ hồ Manasarovar nằm dưới chân Ngân Sơn  và người ta cho rằng  nước chảy bảy vòng quanh vùng thiêng này  trước khi chảy  về bốn phía và với cách này đã biểu lộ lòng kính trọng ngai vàng  cùa các vị thiên nhân, đúng như truyền thống đi diễu chung quanh (pradaksina). Người Tây Tạng gọi tên con sông Brahmaputra xuất phát từ phía Đông của vùng Ngân Sơn- Manasarovar là Tantchog – Kham-bab, có nghĩa con sông chảy ở “hàm ngựa”. Sông Satlej, bắt nguồn phía Tây  được gọi tên là  Sangtachen- Kham-bab  có nghĩa là “chảy từ miệng voi”.  Sông Indus ở phía Bắc, được gọi là Seng-Kham-bab “chảy từ miệng sư tử”.  Sông Karnali được gọi là Magtscha-Kham-bab  “chảy từ miệng chim công”…

 

 Mối liên hệ tôn giáo và văn hóa giữa Ấn Độ và Tây Tạng ở những dòng sông này mà trở nên rõ nét.  Chúng thể hiện rõ nét ở con sông Indus và Bramaputra, hai con sông đó hiện ra như hai cánh tay khổng lồ từ vùng Ngân Sơn- Manasarovar, ôm lấy tổng thể của Hymalaya và bán đảo Ấn Độ, trong đó con sông Indus chảy ra vịnh Ai Cập ở phía Tây và Brahmaputra chảy ra vịnh Bengale phía Đông”.

(Con Đường Mây Trắng, Anagarika Govinda)

 

  Ông A.Govinda viết về Ngân Sơn như sau :

 

  “ Khi qua thung lũng phía tây của Ngân Sơn, khách thấy mình nằm giữa vách đá đỏ rực mà cấu trúc của nó làm khách tưởng như mình đi giữa đền đài khổng lồ, với màn trướng, vách cột. Trên những cấu trúc đó đỉnh Ngân Sơn trắng xóa bỗng hiện ra.

 

    Dáng hình của đỉnh núi thật hết sức đều đặn, hầu như nó được đẽo ra từ một tảng băng vĩ đại.  Phía tây của đỉnh là hai hố lõm vào như hai con mắt của một chiếc đầu lâu trắng, nhìn kẻ hành hương phía dưới một cách bí ẩn và  nhắc nhở họ  nghĩ đến khía cạnh dữ dội  của Shiva và Demtschog,  cả hai vị đều được trang hoàng bằng đầu lâu và biểu thị cho trí tuệ của tính không và tính vô thường của mọi sự.

 

  Mây đen và bão tuyết thường che phủ ngọn núi thiêng và khách hành hương phải đợi cả ngày, thiên nhiên mới nguôi giận  và bức mản mây của mây mù  mới kéo nhau đi.  Rồi ngọn núi bỗng hiện hình trong một sự sáng rỡ và thanh tỉnh siêu nhiên, với đĩnh núi trắng xóa, với những tảng băng  loáng màu xanh lục,  những hình bóng màu xanh  và vách đá mảu đỏ tím,  ở những nơi mà băng tuyết  không bám giữ được,  một cảm quan làm mọi ngôn từ đều im bặt.

 

  Ngọn núi hiện ra gần tới mức mà khách hành hương tưởng có thể vươn tay tới được đồng thời khách lại có cảm giác đứng trước hiện tượng Thiện Mỹ không thể với tới,  không thể sờ mó được,  hầu như nó nằm bên kia thế gian, bên kia của sự thực vật chất.”  

 

  Ông A. Govida viết về hai hồ thiêng :                                                        

 

      Và cũng như các ngôi đền Ân Độ luôn luôn có hồ nước thiêng thì phía nam Ngân Sơn cũng có hai hồ thiêng liêng, Manasarovar và Rakask,  trong hai cái thì cái thứ nhất  có hình mặt nhật, biểu tượng cho sức mạnh của ánh sáng,  còn cái sau có hình  trăng lưỡi liềm,  biểu tượng cho sự ẩn tàng của bóng đềm,  sức mạnh đó, nếu tự tính của nó không được nhận rõ và đưa vào vị thế đúng đắn sẽ hiện thành năng lực đen tối của ma quái…

 

  …Mặt trời mặt trăng biểu tượng hai nguồn năng lực tâm lý,  chúng là hai dòng chảy năm bên phải và bên trái của cột sống. Trong phép du già, hai dòng năng lực đó được hợp nhất trong một nguồn năng lực trung tâm và vươn lên  qua các trung khu hay mức độ nhận thức  (luân xa),  cuối cùng nó đạt mức độ cao nhất, bốn chiều của ý thức giác ngộ.  Tương tự,  Ngân Sơn biểu tượng cột sống của con ngườI  nó cũng chính là truc của vũ trụ có có ý thức, vũ trụ đó xuyên suốt  vô số các tầng lớp thế giới – từ tầng mức con người  đến các cõi thiên, trong lúc đó thì hai hồ chính là bể chứa của hai nguồn năng lực tâm linh đó.