TRANH CHẤP MỘ PHẦN Ở LAM SƠN
GIỮA HỌ LÊ VÀ HỌ ĐỖ

                                                  ĐÔNG BIÊN




   Sách Lam Sơn Thực Lục do Nguyễn Trãi biên soạn và Lê Thái Tổ đề tựa, ông  Mạc Bảo Thần dịch, nxb Tân Việt 1956, in lần thứ ba, cơ sở Nhân Văn in lại năm 1983 tại CA. USA. mở đầu nói về sự phát tích của nhà Lê như sau :

   “Nguyên xưa lúc nhà vua chưa sinh, ở xứ Du Sơn trong làng, dưới cây rừng quế, thuộc thôn Như Áng, thường có con hổ đen, thân nhau với người, chưa hề làm hại ai ! Đến giờ Tý ngày mồng Sáu tháng Tám năm Ất Sửu sinh ra Nhà Vua từ đó không thấy con hổ đâu ! Người ta cho là chuyện lạ….

   “ Khi ấy Nhà Vua sai người cày ruộng ở xứ Phật Hoàng động Chiêu Nghi. Chợt thấy một nhà sư già. mặc áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng :

  1. Quý hóa thay phiến đất này ! Không có ai đáng dặn !

   Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với Nhà Vua, Nhà Vua liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó. Có người bảo rằng :  
   -Sư già đi xa rồi.
   Nhà Vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ Lôi, (tức huyện Lôi Dương ngày nay) thấy một cái thẻ tre, đề chữ rằng :
           Thiên đức thụ mệnh.
           Tuế trung tứ thập,
           Số chi dĩ định,
          Tích tai vị cập.
       Nghĩa là :
          Đức trời chịu mệnh,
          Tuổi giữa bốn mươi !
          Số kia đã định,
         Chưa tới…tiếc thay.
   Nhà Vua thấy chữ mừng lắm, lại vội vàng đi theo. Khi ấy có rồng vàng che cho Nhà Vua ! Bỗng nhà sư bảo Nhà Vua rằng :

  1. Tôi từ bên Lào xuống đây, họ Trịnh, tên là sư núi Đá Trắng (Bạch Thạch Sơn Tăng). Hôm thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn !

Nhà Vua quỳ xuống thưa rằng :
 -  Mạch đất ở miền đệ tử tôi sang hèn thế nào xin thầy chỉ bảo cho ?
Nhà sư nói :

  1. Xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc

ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh (ở miền Lão Mang), bên trong có núi đất Bạn Tiên. Lấy thiên sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Ứng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuổi hạt trai. Con trai sang không thể nói được. Nhưng con gái phiền có truyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thể phân cư. Ngôi vua có lúc Trung hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết táng lại, thì trung hưng được năm trăm năm.
   Nhà sư nói rồi, Nhà Vua liền đem đức Hoàng Khảo táng vào chỗ ấy. Tới giờ Dần, về đến thôn
Hạ Dao Xá nhà sư bèn hóa bay lên trời ! Nhân lập chỗ ấy làm điện Du Tiên. Còn động Chiêu Nghi thì làm am nhỏ (tức là nơi mộ Phật Hoàng). Đó là gốc của sự phát tích vậy.
   Khi ấy Nhà Vua cùng người ở trại Mục Sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường
làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma Viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ) Nhà Vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, Nhà Vua hỏi :
       - Sắt nào đây ?
   Thận nói :
          - Đêm trước quăng chài bắt được.
     Nhà Vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà Vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy                     nó có chữ “Thuận Thiên” cùng chữ “Lợi”.
    Lại một hôm, Nhà Vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài dũa thành hình, Nhà Vua lạy trời khấn rằng :
        - Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau !
 Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, bèn thành ra chuôi gươm.
Tới hôm sau, lúc đêm trời gió mưa, sớm ngày mai, Hoàng Hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy
bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng Hậu cả kinh, vào gọi Nhà Vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà Vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra”.

Đoạn văn trên in chữ nghiêng được dịch giả chú như sau : “Xem lời văn chứ Hán, đoạn
này khác hẳn với đoạn trên, chắc của người sau thêm vào”  (trang 18)

   Lại xuống đoạn dưới nơi trang 21, lời chú của dịch giả viết : “Cả ba đoạn, được đất,
được gươm, được ấn, lời văn dốt nát, có chỗ không thành câu, chắc là của người sau thêm vào”.

   Xuống dưới nữa, nơi trang 22 và 23, LSTL viết :
“Khi ấy có người thôn Hào Lương ở cùng huyện, tên là Đỗ Phú, tranh dành với Nhà Vua, đem
kiện với tướng giặc Minh. Viên quan khám xét, cho lý của Nhà Vua là phải, xử cho được kiện. Đỗ Phú nhân lấy việc đó làm thù, bèn đem của đút cho giặc Minh. Giặc Minh bức Nhà Vua. Nhà Vua cùng Lê Liễu chạy đến sông Khả Lam, bỗng thấy một người con gái nằm chết, mình còn mặc chiếc áo trắng, cùng đeo thoa vàng, xuyến vàng. Nhà vua cùng Liễu ngửa mặt lên trời khấn rằng:
-  Tôi bị giặc Minh bức bách, xin phù hộ cho tôi thoát nạn này, ngày sau được thiên hạ, xin lập làm miếu thờ, hễ có cỗ bàn, cúng nàng trước hết !
Đắp mả chưa xong thì giặc xua chó ngao đến, Nhà Vua cùng Lê Liễu chạy vào bộng cây đa ! Giặc lấy mủi giáo nhọn đâm vào, trúng vào vế tả của Liễu, Liễu bốc cát cầm vuốt vào lưỡi giáo, cho khỏi có vết máu. Tự nhiên bỗng thấy con cáo trắng chạy ra ! Chó ngao liền đuổi cáo. Giặc không ngờ bèn kéo đi. Nhà Vua mới được thoát (đến khi bình định thiên hạ rồi, phong vị thần Áo Trắng làm Hoằng Hựu Đại Vương, phong cho cây đa làm Hộ quốc Đại Vương, tới nay dấu tích ấy hãy còn)”.
Dịch giả chú : “Đoạn này chắc cũng của người sau thêm vào, ít ra là hồi sửa lại”.

    Như thế, theo ông Mạc Bảo Thần thì “việc được đất, được gươm, được ấn” là truyện hoang đường, không đáng tin, có tính chất dị đoan do người sau thêm vào để nâng cao uy thế của Lê Lợi mà thôi.

   Trước đây đọc đoạn này tôi cũng thấy hình như soạn giả Nguyễn Trãi có ý đề cao vị anh hùng Lam Sơn đã có công đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước đem lại tư do cho dân tộc nên thêm thắt truyện này truyện nọ cho có vẻ huyền bí, đề cao thuật phong thủy, số trời đã định, cốt thu phục lòng người. Hơn nữa trong khi nhà Minh cứ khăng khăng đòi phải đưa tôn thất dòng họ Trần lên làm vua thì có bia đặt truyện được đất, được kiếm, được ấn để dân chúng tin Lê Lợi có số làm vua do trời đã định cũng là truyện thường tình.

   Nhưng gần đây tìm hiểu về gia phả họ Đỗ làng Bồng Trung thuộc xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, tôi thấy có một liên hệ đến ngôi mộ tổ Lê Lợi và thấy cũng nên làm sáng tỏ chuyện này.

   Tuy nhiên, trước hết xin hãy tóm tắt đoạn trên nói về ngôi mộ tổ Lê Lợi : Có một nhà sư (có lẽ là một nhà phong thủy) chỉ cho Lê Lợi ngôi đất phát đế vương. Lê Lợi đem cốt hoàng khảo (cha) táng vào đó. Sau đó Lê Lợi được bạn là Lê Thận tặng cho thanh kiếm lưới được ở sông Mục Sơn, rồi Lê Lợi lại được chuôi kiếm trước nhà, cắm vào vừa khít. Lại hôm sau ra sau vườn thấy có quả ấn báu khắc hai chữ Thuận Thiên cùng chữ Lợi. Lúc đó, Lê Lợi có việc kiện tụng với Đỗ Phú, quan tướng nhà Minh xử cho Lê Lợi được kiện. Không thấy nói kiện tụng về việc gì. Đỗ Phú lây làm hận, đút lót cho giặc Minh bức Lê Lợi. Lê Lợi nhân việc bị bức đó mà mưu việc chống giặc Minh. Lê Lợi bị đuổi chạy núp vào bụi cây, giặc cho chó săn sục tìm, có con chồn chạy ra, chó đuổi theo vì thế Lê Lợi thoát nạn.

   Giặc Minh muốn ép Lê Lợi phải hàng nên cho “bầy tôi làm phản” tên là Ái và Đỗ Phú lấy tiểu đựng cốt của tổ phụ Lê Lợi treo trước thuyền. Lê Lợi sai Trịnh Khả và Đỗ Bí (sau được Lê Lợi cho mang họ Lê thành Lê Bí) đội cỏ bơi rình lấy được cốt đem về táng lại chỗ cũ. (LSTL, tr. 24)

  Lê Quý Đôn trong Đại Việt Thông Sử cũng có nói đến việc Lê Lợi được đất phát đế vương như sau: “Khi Hoàng đế giúp việc ở Khả Lam, được hồn sư ông Bạch Y hiển hiện chỉ cho ngôi huyệt phát “đế vương” ở động Chiêu Nghi…..Có tên Đỗ Phú người xã Hào Lương, đến ty Bố Chánh kiện Hoàng đế về việc lấn ruộng đất, nhưng y đuối lý, bị thua kiện, đem lòng oán hận, bèn cáo mét quan nhà Minh dẫn quân bức bách Hoàng đế ở Lạc Thủy (nay đổi là Cẩm Thủy). (Lê Quý Đôn, Đại Việt Thông Sử, bản dịch của Trúc Viên Lê Mạnh Liên, Tủ sách Cổ Văn - Ủy ban dịch thuật, Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên, 1973)

   Nay nói đến gia phả họ Đỗ ở làng Bồng Trung viết về ngôi mộ tổ. Nguyên Đỗ Phú quê làng Như Áng, Lam Sơn, làm quan tri phủ Thọ Xuân (Lam Sơn thuộc địa phận phủ Thọ Xuân). Đỗ Phú lựa được đất tốt ở vùng Lam Sơn đem hài cốt của tổ phụ táng vào đó. Lê Lợi làm phụ đạo tức là lang đạo, một chức chủ đất thuộc dòng quý phái của người Mường làng Như Áng, cùng quê Đỗ Phú, được người chỉ cho chỗ đất tốt đem cốt tổ phụ đến táng thì chỗ đó Đỗ Phú đã táng cốt cha mình rồi. Lê Lợi lập mưu đem cốt cha mình chôn xuống bên dưới cốt tổ phụ của Đỗ Phú rồi đi kiện  với quan nhà Minh. Viên quan nhà Minh đến xét tại chỗ thì thấy cốt tổ phụ Lê Lợi nằm dưới cốt tổ phụ Đỗ Phú. Chứng cớ rành rành, viên quan nhà Minh cho Lê Lợi thắng kiện, bắt Đỗ Phú phải rời cốt tổ phụ mình đi chỗ khác. Gia phả họ Đỗ chép như sau : “ Họ Lê tìm cách đặt hài cốt của cụ tổ dòng họ mình bên dưới hài cốt của cụ tổ họ Đỗ. Hai bên tranh dành, kiện đến nhà cầm quyền bấy giờ. Quan tướng nhà Minh xử kiện cho dòng họ Lê được kiện vì hài cốt đặt bên dưới”.

    Lam Sơn Thực Lục có nói đền việc kiện tụng giữa Lê Lợi và Đỗ Phú nhưng không nói rõ vì việc gì, nay thì đã rõ. Đó là việc tranh nhau đất táng tổ phụ. Sở dĩ có việc tranh dành vì đó là huyệt phát đế vương. Lê Lợi biết được chỗ đất phát đế vương thì Đỗ Phú đã chôn tổ phụ mình rồi nên tìm cách đặt hài cốt tổ phụ họ Lê bên dưới rồi đi kiện, quan nhà Minh cho được kiện. Vì thế có sự hiềm khích giữa Lê Lợi và Đỗ Phú để Lê Lợi bị bức bách mà nhân đó đi đến việc khởi nghĩa chống quân Minh.

   Tiếp theo đó, theo LSTL thì “Đỗ Phú lấy làm thù, bèn đem của đút cho giặc Minh. Giặc Minh bức Nhà Vua”. Còn Lê Lợi thì “Nhà Vua thường hậu lễ, nhún lời, đem nhiều vàng bạc của báu đút lót cho các tướng  giặc là Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ mong thu bớt tấm lòng hãm hại Nhà Vua” (LSTL, tr. 23,24)
Theo lời hiểu dụ của Lê Lợi với quan quân thì : “Trẫm trước gặp lúc loạn ly, nương mình ở Lam Sơn, vốn cùng mong giữ toàn được tính mệnh mà thôi ! Ban đầu cũng không có lòng muốn lấy thiên hạ. Đến khi quân giặc càng ngày càng tàn ác, dân không sao sống nổi ! Bao nhiêu người trí thức, đều bị chúng hãm hại. Trẫm đã chịu khánh kiệt cả gia tài để thờ phụng chúng ! Vậy mà chúng vẫn đem lòng muốn hại Trẫm, không chịu buông tha ! Việc khởi nghĩa, thực cũng là bất đắc dĩ mà Trẫm phải làm ! ….Ngày nay thành công, là Hoàng Thiên giúp đỡ, mà Tổ Tiên Trẫm chứa nhân tích đức đã lấu, cũng ngấm ngầm phù hộ, cho nên mới được như thế.” (LSTL, tr. 71, 73)

   Còn Đỗ Phú thì lúc đó đang giữ chức tri phủ vả lại có hiềm khích với Lê Lợi vì bị Lê Lợi dành mất phần đất chôn tổ phụ, hẳn là có cộng tác với quân Minh bức bách Lê Lợi. Sau khi Lê Lợi chiến thắng vẻ vang, quân Minh thảm bại phải rút về Tàu thì Đỗ Phú sợ bị trả thù nên mang toàn gia đình lánh nạn sang Ai Lao. Trong gia phả không nói rõ Đỗ Phú sang Lào  ở vùng nào. Có lẽ ở vùng Sầm Nưa và Đỗ Phú đã qua đời ở bên đó. Việc Đỗ Phú đi lánh nạn là truyện đương nhiên vì nếu không, sẽ bị trả thù. Những người từng cộng tác với Lê Lợi như Trần Nguyên Hãn nhận xét về Lê Lợi : “Nhà Vua có tướng như Việt Vương (Câu Tiễn) không thể cùng sung sướng được”. Trần Nguyên Hãn bị Lê Lợi giết, cháu là Trần Nguyên Đán bị tù. Phạm Văn Xảo có công được mang họ Lê, nhưng trong hội thề với Vương Thông lại được mang họ Trần để cho mạnh thế là có người họ Trần cùng Nhà vua lo vệc nước. Chính vì dính vào mang họ Trần mà bị chết, vì sợ ông này được quân Minh cho làm vua ! Còn những người họ Đỗ từng  giúp Lê Lợi có công được mang họ Lê như Đỗ /Lê Bí, Đỗ/Lê Khuyên  Đỗ Trừng bị cho là gốc gác thấp hèn, con cháu bị giết hết ! Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết : “Giết Tư mã Lê Lai, tịch thu gia sản vì Lai cậy có công đánh giặc nói ra những lời ngạo mạn nên bị giết”. Lê Lai bị giết này có phải Lê Lai cứu chúa bị giặc Tàu bắt hay Lê Lai nào khác nữa ? Dủ Lê Lai nào thì nó cũng chứng tỏ lời nhận xét của Trần Nguyên Hãn “không thể cùng sướng được” là đúng !

   Con của Đỗ Phú là Đỗ Viên Thịnh thấy tình hình đã êm nên trở về nước. Đỗ Viên Thịnh suôi theo giòng sông Mã đến vùng Đông Biện Phường định cư, nay là làng Bồng Trung, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Theo gia phả họ Đỗ thì cụ Đỗ Viên Thịnh thấy núi sông hữu tình, trước làng có Mã giang (sông Mã), sau làng có Cù sơn (núi Đa Bút còn gọi là núi Mông Cù, đang có cuộc khảo cổ ở đây), thiên nhiên thật đẹp đẽ, bốn phương đông tây nam bắc có đủ che chở. Cụ tổ có tầm mắt nhìn xa trông rộng, nơi đây có điều kiện con cháu sau này sẽ phát triễn tài năng, trí tuệ. Thế là cụ quyết định ở lại đây sinh cơ lập nghiệp. Theo tục truyền, khi mới về là rừng rậm hoang vu, thú dữ, chim muông rất nhiều, Cụ dựng một ngôi nhà rất nhỏ bên cạnh cây thị mọc tư nhiên. Đó chính là nơi nương thân của cụ. Cụ Đỗ Viên Thịnh mất năm 1444, con cháu chôn cụ dưới gốc cây thị, cây thị đến nay vẫn còn sống, đã trên 700 tuổi. Theo tục truyền, mộ cụ mai táng trong một thời gian, mối đùn lên thành đám đất to, cho rằng cụ được thiên táng (được đất)… Con cháu về sau nhiều người thành đạt đi làm quan ở Kẻ Chợ rồi sinh cơ lập nghiệp ở Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương… Đó là gốc tích họ Đỗ làng Bồng Trung (Gia phả họ Đỗ).

    ĐƯỢC ĐẤT, ĐƯỢC KIẾM, ĐƯỢC ẤN.

   Việc Lê Lợi được đất, được kiếm, được ấn có thực không ? Theo ông Mạc Bảo Thần, người dịch cuốn Lam Sơn Thực Lục do Nguyễn Trải soạn và Lê Thái Tổ đề tựa thì “cả ba đoạn được đất, được gươm, được ấn, lời văn dốt nát, có chỗ không thành câu, chắc là của người sau thêm vào”. Vậy ông Bảo Thần cho là chuyện bịa, không có thực. Nay ta xét từng việc xem hư thực ra sao.

   Được Đất.
   Tằng tổ Lê Lợi làm nghề ông thày tức thày mo, thày cúng từ thôn Như Áng dọn đến đất Lam Sơn ở vì cho chỗ đất ấy tốt. Nghề của ông cố Lê Lợi là ông thày tức ông mo còn Lê Lợi làm phụ đạo tức phú tạo (quan lang, lang đạo), trong Lam Sơn Thực Lục Lê Lợi tự xưng là Chúa động Lam Sơn, cho thấy Lê Lợi là người Mường dù trong chính sử hay Lam Sơn Thực Lục không hề nói Lê Lợi là người Mường.

   Ở Lam Sơn, Lê Lợi trở nên giàu có, chiêu hiền đãi sĩ, kết nạp kẻ trốn, kẻ làm phản. Lê Lơi có mộng lớn, không chịu lòn cúi quân Minh. Có kẻ (nhà sư) chỉ cho Lê Lợi ngôi đất phát đế vương, bèn đem cốt tổ đến táng.

  Nếu việc đựoc đất chỉ có thế, nghĩa là  chỉ có một chiều như Lam Sơn Thực Lục viết thì ta có thể tin như ông Bảo Thần, cho đó là chuyện bịa đặt thêm thắt có vẻ huyền hoặc không đúng sự thực.

   Nhưng việc “được đất” này lại liên quan đến dòng họ Đỗ là ông Đỗ Phú. Gia phả họ Đỗ viết : “ Họ Lê tìm cách đặt hài cốt của cụ tổ dòng họ mình bên dưới hài cốt của cụ tổ họ Đỗ”.

   Như thế việc “được đất” là có, vì chứng cớ là việc tranh dành ngôi mộ tổ giữa họ Lê và họ Đỗ. Để dành phần thắng về phía mình, Lê Lợi đã tìm cách chôn hài cốt cụ tổ họ Lê bên dưới hài cốt cụ tổ họ Đỗ. Rồi đi kiện quan. Quan lúc ấy là tướng nhà Minh. Khám xét ra thì cớ rành rành, cốt cụ tổ họ Lê nắm dưới cố cụ tổ họ Đỗ, nghĩa là nằm dưới là chôn trước, còn nắm trên là chôn sau. Quan nhà Minh cho Lê Lợi được kiện. Đỗ Phú phải đem cốt cụ tổ mình đi nơi khác !

   Trong Lam Sơn Thực Lục không nói rõ hai bên tranh chấp vì việc gì mà phải đưa nhau ra trước quan nhà Minh để kiện tụng mà chỉ nói “Nhà Vua được kiện”. Gia phả nhà họ Đỗ nói rõ là vì hai  bên tranh nhau đất chôn mộ tổ, Lê Lợi thắng kiện vì mưu mô đặt hài cốt tổ phụ mình dưới hài cốt tổ phụ Đỗ Phú. Có cuộc tranh chấp vì đó là cuộc đất phát đế vương. Cuộc tranh chấp còn kéo dài với việc “tên bầy tôi phản bội là tên Ái cùng Đỗ Phú dẫn quân Minh đào lấy tiểu đựng hài cốt tổ phụ Lê Lợi treo sau thuyền hẹn Nhà Vua phải ra hàng, khiến Nhà Vua phải sai Trịnh Khả và Đỗ/Lê Bí đội cỏ bơi rình giặc ngủ say lên thuyền ăn trộm được tiểu đựng xương đem về trình…táng lại chỗ cũ.”

   Đỗ Phú thời đó đang giữ chức tri phủ Thọ Xuân, chức tri phủ này chắc làm từ thời nhà Trần qua nhà Hồ, quân Minh tới được lưu dụng lại. (Không biết Đỗ Phú có liên hệ gia tộc gì với Đỗ Mãn tướng nhà Hồ đi đánh Chiêm Thành ?) Đỗ Phú hẳn là có quyền thế được tướng nhà Minh tin tưởng, nhưng Lê Lợi cũng là người có thế lực, giữ chức phụ đạo (quan lang) trong vùng nên “Nhà vua thường hậu lễ, nhún lời, đem nhiều vàng bạc, của báu, đút cho các tướng giặc…” (LSTL. tr.23). Như thế giữa Đỗ Phú và Lê Lợi kẻ tám lạng người nửa cân, kẻ cậy quyền thế, kẻ chuốc của cải không ai kém ai.

   Quân Minh muốn lợi dụng Lê Lợi nên mời ra làm quan nhưng Lê Lợi khẳng khái từ chối và thường nói “làm trai sinh ở trên đời nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời chứ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người”. Chỗ khác Lê Lợi lại nói : “Trẫm đã bị khánh kiệt cả gia tài mà chúng vẫn đem lòng muốn hại trẫm không chịu buông tha ! Việc khởi nghĩa thực cũng là bất đắc dĩ mà trẫm phải làm”.(LSTL. tr. 71)

   Việc khởi nghĩa của Lê Lợi, lúc đầu chỉ là bị bức quá mà trốn tránh, phải 3 lần trốn vào núi Chí Linh, lính tráng, thật ra chỉ là gia nhân, lẫn trốn đi theo, có lần súyt bị bắt, nhờ Lê Lai chết thế. Có lúc đã phải cầu hòa (VNSL. Tr.221, LSTL. tr.30). (Núi Chí Linh, Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Thanh Hóa chép : “Núi Chí Linh cách huyện Thụy Nguyên – nay là Thọ Xuân _  52 dặm về phía tây nam, giáp châu Lang Chánh”. Đứng ở Bái Thượng nhìn lên thấy hai ngọn núi cao ngất thường hay có mây tụ ở đỉnh, dân địa phương gọi là núi Bù Dinh (Pu Rinh), đó là núi Chí Linh, địa  điểm rất hiểm trở.)

   So sánh thực lực giữa quân Minh và quân Lê Lợi thì một trời một vực, như trứng trọi với đá. Quân Minh đông có trên mười vạn quân đóng trấn các nơi, còn Lê Lợi chỉ có : “quan võ ba mươi lăm (35) người, quan văn dăm ba người, với hai trăm (200) thiết kỵ, hai trăm (200) nghĩa sĩ, hai trăm (200) dũng sĩ và mười bốn (14) thớt voi. Còn bọn chuyên chở lương thảo cũng già yếu đi hộ vệ vợ con cũng chỉ hai nghìn (2000) người ! (LSTL. tr. 70)

    Với quân số chênh lệch như thế, làm sao Lê Lợi có thể thắng quân Minh ? Trước hết phải nói là lòng dân quá uất ức quân Tàu bóc lột của cải, đàn áp, đày đọa trăm bề khổ cực nên khi có người lãnh đạo liền hưởng ứng. Nhưng công cuộc khởi nghĩa đi dến thắng lợi phải có mưu cơ, có kế sách, chiến lược, người có đủ điều kiên đó là Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn. Lê Lợi đã được quân sư tài ba giúp làm nên sự nghiệp.

   Kể từ khi có Nguyễn Trải tới gia nhập làm quân sư dâng bài sách bình Ngô thì việc chống quân Minh mới tiến triễn khả quan. Bắt đầu chiếm Nghệ An rồi mới ra Thanh Hóa và tiến đánh Đông Đô, chém Liễu Thăng, bắt bọn Vương Thông phải hàng, để Nguyễn Trãi viết lên bài Bình Ngô Đại Cáo hùng tráng, làm vẻ vang cho dân tộc.

   Lê Lợi, một thổ hào nơi rừng núi đã lập chiến công hiển hách, đánh đuổi quân Tàu, đem độc lập tự chủ cho dân tộc, lập nên một vương triều lâu đời, thử hỏi tài ba nào mà Lê Lợi thu phục được bao nhiêu người tài dưới trướng để dành được thắng lợi to lớn như vậy ? Phải chăng nhờ cuộc đất táng tổ phụ đã đến ngày phát đế vương ?

   ĐƯỢC KIẾM, ĐƯỢC ẤN.

   LSTL. viết rằng ở làng Mục Sơn, làng này nằm ở bờ sông Sủ (sông Chu, có chỗ gọi sông Lương), phía trên Lam Sơn, có người tên Lê Thận chài lưới bắt được thanh kiếm đem dâng cho Lê Lợi, lưỡi kiếm đã rỉ sét, mài ra thấy đó là thanh kiếm báu, lại bắt được chuôi kiếm cắm vào vừa khít. Rồi hôm sau ra vườn thấy có quả ấn khắc hai chữ Thuận Thiên và chữ Lợi.

   Đọc đoạn này, ta thấy câu truyện có vẻ mơ hồ huyền bí, mang tính chất tuyên truyền để thu phục sư tin tưởng quân sĩ dưới trướng và dân chúng. Có thể Lê Lợi đã cho thợ rèn một thanh kiếm và đúc quả ấn có khắc chữ Lợi và Thuận Thiên. Hoặc giả có môt hiệp khách nào đó tặng rồi thêm thắt như của trời ban cho có vẻ thần bí.

   Nhưng khi Lê Lợi đã chiến thắng quân Tàu, lên ngôi lấy niên hiệu Thuận Thiên như có khắc trên thanh kiếm (1428). Đất nước thanh bình, một hôm Lê Lợi ngự thuyền ra chơi hồ hóng mát thì thấy một con rùa lớn nổi lên gần thuyền, ngài hoảng sợ giơ kiếm lên định chém thì rùa ngậm lấy kiếm và lặn xuống hồ. Nhân chuyện này, nhà Vua đặt tên cho hồ là hồ Hoàn Kiếm, ý nói ngài được trời ban kiếm để cứu đất nước, nay công việc đã xong, nên trời cho rùa thần lên đòi lại. Lê Lợi lại cho xây một tháp Rùa ở giữa hồ để nhớ tích hoàn kiếm này. Rùa thần lâu lâu lại nổi lên nhiều người được chứng kiến. Vậy việc được kiếm, hoàn kiếm này ta nghĩ sao ? Chuyện thật lịch sử hay chỉ là thuật tâm lý chiến thu phục lòng dân như Nguyễn Trải viết chữ bằng mật trên lá cây, cho kiến ăn thành câu “Lê Lợi vi quân Nguyễn Trải vi thần” rồi thả trôi theo dòng nước, dân chúng cho là điềm thần dị mà tin theo ?

   Rùa, đối với lịch sử dân tộc, có nhiều liên hệ. Từ thời thái cổ, rùa đã đem chứng tích cho cổ nhân làm ra Hà Đồ Lạc Thư và vạch ra Âm Dương. Bô Việt Thường viết ra lịch pháp trên lưng rùa rồi truyền cho vua Ngjhiêu học mà làm lịch. Thời An Dương Vương xây thành Cổ Loa phải nhờ Rùa Thần (thần Kim Quy) giúp mới xây xong. An Dương Vương bị Triệu Đà đánh bại chạy ra biển được thần Kim Quy đưa xuống thủy cung, đánh dấu một thời nền Văn Hiến Lạc Việt suy trầm với ngàn năm bị đô hộ. Đến thời Lê Lợi thần Rùa lại trở lên giúp lấy lại nền tự chủ, làm sáng tỏ nền Văn Hiến ngàn đời của dân tộc.

Cánh Đồng Chó. 

   Phía trên Bái Thượng, bên bờ sông Sủ (Chu) có một nơi gọi là Cánh Đồng Chó. Dân chúng truyền khẩu rằng nơi này là chỗ Lê Lợi chạy giặc Minh chui vào bụi rậm ẩn trốn. Giặc Minh thả chó ngao ra săn đuổi. Lũ chó đuổi đến đây đánh hơi thấy có người sủa la dữ dội, bỗng từ trong bọng cây chạy ra một con cáo, đàn chó chạy theo đuổi cáo. Giặc Minh không bắt được Lê Lợi tức giận bầy chó ăn hại nên giết sạch, vì thế mà Lê Lợi thoát nạn. Nơi đó dân chúng gọi là Cánh Đồng Chó, tên này ngày nay vẫn còn.

   LSTL. có nói đến việc này. Lê Lợi và Lê Liễu bị giặc vây khổn chui vào bụi rậm trốn. Giặc có chó ngao đuổi theo. Đến bụi rậm chó sủa vang, giặc lấy giáo đâm vào bụi trúng đùi Lê Liễu, Lê Liễu chịu đau lấy cát vuốt vào lưỡi giáo cho khỏi có vết máu. Bỗng có con cáo trằng chạy ra, chó đuổi theo cáo, Lê Lợi thoát nạn.

   LONG MẠCH.

   Nhân truyện ngôi mộ phát đế vương của Lê Lợi, chúng ta tìm hiểu thêm về các ngôi mộ phát đế vương khác mà trong chính sử hay dã sử có nói đến.

   Linh Mục Cadière viết trong “Bulletin des Amis du Vieux Hué” (Đô Thành Hiếu Cổ) bài “La Merveilleuse Capitale” (Đế Đô Kỳ Diệu) nhận định về đất cát phong thủy như sau : “Sự hiện diện của con người trên cõi đời này, cuộc sống của họ, hành động của họ, cái chết sau cùng, tất cả đều nối liền chặt chẽ với toàn bộ những năng lực huyền bí xoay vần trên đầu mỗi người. Những năng lực này lại liên hợp với những tinh tú trên trời hay ẩn nấp trong lòng đất, mạch đất để tác động dưới chân mỗi người. Năng lực trời và đất không phải cõi riêng biệt, chúng phối hợp chặt chẽ với nhau cấu thành toàn bộ rất điều hòa, dù rằng vô cùng phức tạp… “Ảnh hưởng đất địa lý gồm hai mặt, cũng như nguyên lý cấu tạo và điều hòa toàn thể vũ trụ. Thanh Long, Bạch Hổ biểu tượng những năng lực nói trên được nhân cách hóa theo truyền thống phong thủy đôi khi liên hợp đôi khi xung khắc. Bề ngoài hai uy lực biểu hiệu qua núi đồi – đôi khi một gò đất tầm thường – qua sông ngòi, hồ ao. Núi Ngự Bình, đồi Thiên Mụ, gò Long Thọ là những phát hiện tự nhiên của những mảnh lực địa tiềm…” (Bản dịch của Diên Chi, dẫn lại bởi Ngô Nguyên Phong, Phong Thuỷ và Phong Thủy Việt Nam dưới góc độ khoa học, nxb. VHTT. Hà Nội)

   Ông Phan Kế Bính nhận xét : “Lại xét các nhà phong thủy có tiếng xưa nay như bọn Quách Phác, Trần Đoàn bên Tàu, ông Tả Ao, Hòa Chính bên ta, cứ như lời chép trong sách lưu truyền thì cũng lắm điều linh nghiệm, không dám quyết là lời hoang đường cả”.

   Lê Quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ ghi lại Sách Quảng Đông tân ngữ của Khuất Đại Quân : “ Ta xem mạch núi Giao Chỉ phát từ Quí Châu mà Quí Châu là miền cuối các sông núi ở đó đều phát từ Ba Thục chạy tới : đại khái long mạch chạy qua như muôn vàn đợt sóng, nhảy nhót không ngừng thẳng đến Giao Chỉ mới kết thành đất nước.”

    “Long mạch nước ta từ dãy Hy Mã Lạp Sơn chạy qua Vân Nam Quý Châu khi vào nước ta hình thành một hệ thống nan quạt từ Tây sang Đông với các dãy Đông Triều, Bắc Sơn Ngân Sơn, dãy sông Gấm, dãy Hoàng Liên Sơn, dãy sông Đà và gần Hà Nội có dãy Tam Đảo. Tất cả đều hướng về trung tâm là Hà Nội. Các dòng sông cũng hướng theo các dãy núi đổ về Hà nội rồi chảy ra biển Đông.

   “Còn dãy Trường Sơn vẫn liền mạch với hệ thống vùng Tây Bắc Việt Nam, chạy dài xuống phương Nam uốn theo hình chữ S hình thể như con Rồng đang giương nanh múa vuốt, đầu hướng về phương Bắc, đuôi vẫy vùng phía Nam mà dãy Trường Sơn là xương sống, não sọ là miền Bắc. Dãy Trường Sơn có hàng trăm rặng núi đâm ngang hướngTây Bắc – Đông Nam rồi dựa theo các núi ngang ấy có nhiều sông suối tạo thành những cánh đồng bằng nho nhỏ. Có nhiều nơi sơn triều thủy tụ quí địa chân long không bút nào diễn tả cho hết được. Riêng Sai Gòn Gia Định dư khí của dãy Trường Sơn tỏa ra các tỉnh  Bà Rịa, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh…tạo thành những ngọn núi nhắm vào Sài Gòn mà triều bái.” (Ngô Nguyên Phi, sđd)

   Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim viết : “Cao Biền thấy bên Giao Châu ta lắm đất đế vương, thường cỡi diều giấy đi yểm đất, phá những chỗ sơn thủy đẹp và hại mất nhiều long mạch”.

   Theo “Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự” do Cao Biền viết trong thời gian làm Giao Châu Thứ Sử (864-871) nói: “Đất Giao Châu có 632 huyệt chính và 1517 huyệt bàng”.
Cao Biền đã tìm thấy và viết ra từng vùng từng tỉnh mỗi nơi có bao nhiêu huyệt chính bao nhiêu huyệt bàng, thí dụ Hà Đông có 81 huyệt chính và 246 huyệt bàng… Hẳn là ông ta đã ếm phá các huyệt đó rồi.

   Có lẽ vì vậy mà đất Giao Châu xưa, nay là miền Bắc Việt Nam ít còn có đất phát đế vương mà đất phát đế vương phần nhiều nằm ở Cửu Chân tức là tỉnh Thanh Hóa. (Cửu Chân không thuộc quyền cai trị của Cao Biền).

    “Thanh Hóa có hai con sông lớn là sông Mã và sông Chu (Sủ) phát nguyên từ Ai Lao chảy qua. Nhìn tổng thể tỉnh Thanh Hóa như một vương miện đầu quay về phía Tây Bắc, miệng hướng về biển Đông. Đây là một tỉnh có nhiều phát tích đế vương : Tiền Lê (Đại Hành), Hậu Lê (Lợi), nhà Hồ (Quý Ly), chúa Trịnh (Kiểm) chúa Nguyễn (Hoàng) kéo đến vương hệ Nguyễn Gia Miêu (Gia Long). Gia Miêu là một làng của tỉnh này”. (Ngô Nguyên Phi, sđd.)

   HUYỆT ĐẾ VƯƠNG.

   Sách “Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện” của Phan Kế Bính kể việc các vua được đất phát đế vương ở Miền Bắc có Đinh Bộ Lĩnh và Lý Công Uẩn :

Đinh Tiên Hoàng : Ông Đinh Công Trứ là nha tướng của Dương Diên Nghệ, vợ ông        Trứ đi tắm dưới suối bị con rái cá hiếp về có mang, sinh ra Đinh Bộ Lĩnh. Sau khi ông Trứ chết, con rái cá bị dân làng bắt ăn thịt quẳng xương ra đường cái, bà mẹ Đinh Bộ Lĩnh nhặt xương đem về gác lên bếp

   Đinh Bộ Lĩnh lớn lên có tài bơi lội. Một hôm có một ông thày Tàu đi xem đất thấy dòng sông sâu thắm mà có xoáy mạnh lắm, đồ là có huyệt đế vương mới bảo Đinh Bộ Lĩnh lặn xuống coi thử ra sao thì thấy có con ngựa đá, lên cho ông thày Tàu hay, ông này đưa cho Đinh Bộ Lĩnh nắm cỏ bảo dử vào mồm ngựa xem sao. Ông lặn xuống đưa cỏ ra thì ngựa há miệng ra đớp ngay. Ông lên cho thày Tàu hay, ông thày Tàu thưởng tiền rồi bỏ đi.

   Đinh Bộ Lĩnh vốn thông minh hiểu biết hẳn đó là đại huyệt mới về bảo mẹ chỉ chỗ chôn hài cốt cha để đem đến táng nơi ngựa đá. Mẹ ông lấy bộ xương rái cá đưa cho ông, ông lấy nắm cỏ bọc xương rồi dứ vào mỏm ngựa thì con ngựa cũng đớp mà nuốt đi.

   Từ đấy ông sinh ra bặm trợn, các trẻ chăn trâu đều sợ, bầu ông làm trưởng. Lúc đó nước Việt đang lâm vào nạn 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh nhân dịp ấy theo phe phò ông Trần Minh Công. Khi ông Trần Minh Công mất, Đinh Bộ Lĩnh lên thay rồi dẹp hết các sứ quân khác và lên làm vua tước hiệu Đinh Tiên Hoàng.

   Lý Công Uẩn:  “Ông thân sinh ra Lý Công Uẩn nhà nghèo phải đi làm ruộng thuê cho nhà chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh), phải lòng một thiếu nữ có mang, nhà sư thấy thế đuổi đi. Vợ chồng mang nhau đi đến rừng Báng, chồng khát nước xuống chỗ giếng giữa rừng uống nước, chẳng may xẩy chân chết đuối. Vợ ngồi chờ lâu không thấy chồng, lại chỗ giếng xem thì đất đã đùn lên lấp giếng rồi, nên vào chùa Ứng Tâm ngủ nhờ, rồi xin nhà sư ở ngoài tam quan.

   Chỗ này có sử chép là mẹ ông nằm mơ thấy giao hợp với thần núi Tiêu Sơn, có mang sinh ra ngài. Ông sư chùa Cổ Pháp tên là Lý Khánh Vân nuôi làm con nuôi nên theo về họ Lý.

   Khi được 8,9 tuổii theo học ông sư ở chùa Tiêu Sơn tên là Vạn Hạnh, lớn lên làm quan thời nhà Lê. Lê Ngọa Triều mất con còn nhỏ, các quan mưu đồ lập ngài lên làm vua. Nơi ngài sinh ta là chùa Ứng Tâm nên ngày nay gọi chùa ấy là chùa Dặn”.

   Trịnh Kiểm :  Trịnh Kiểm người làng Sóc Sơn, huyện Chân Định, (nay là xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, thôn Bồng Thượng), tỉnh Thanh Hóa. Khi còn hán vi, nhà nghèo lắm mà thờ mẹ rất có hiếu. Me tính hay ăn thịt gà, mà nhà thì không có, ngày nào cũng phải ăn trộm một con gà của láng giềng để nuôi mẹ. Láng giềng ai cũng ghét, một bữa nhân ông đi vắng, bắt mẹ ông ta ném xuống vực Tôm ở cạnh làng, để khỏi ăn trộm gà nữa. Không ngờ lòng trời run rủi, chỗ vực ấy chính là một huyệt to. Đêm hôm ấy, trời nổi cơn mưa to gió lớn, rồi vực ấy bỗng dưng nổi đất lên thành mộ. Có thày địa lý xem ngôi đất ấy nói rằng : “Ngôi đất này phát ra không phải đế, cũng không phải bá, mà có quyền nhất cả thiên hạ, tryền được tám đời rồi vạ tự trong nhà sinh ra”.

   Trịnh Kiểm từ khi mẹ mất, đi lơ bờ kiếm ăn, nấn ná sang Ai Lao, ở chăn ngựa cho ông Nguyễn Kim. Nguyễn Kim đang tìm kế khôi phục nhà Lê. Một hôm Nguyễn Kim, đang đêm mở cửa ra sân trông xuống dưới trại, thấy có hai khối tinh đỏ đòng đọc, tựa hồ hai bó đuốc, sai người đánh đuốc xuống xem là cái gì, thì té ra là Trịnh Kiểm đang ngủ ở chỗ ấy, hào quang từ trong mắt ánh ra.

   Nguyễn Kim thấy người có tướng lạ, biết không phải người tầm thường, đem lòng yêu mến, cử lên làm tướng bộ hạ và gả con gái là nàng Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm. Khi Nguyễn Kim mất, quyền bính vào cả tay Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm tìm được Duy Bang là tôn thất nhà Lê, lập làm vua, tức là vua Lê Anh Tông. Trinh Kiểm đánh đuổi nhà Mạc, đem lại giang san cho nhà Lê, được tiến phong làm Bình An Vương.

   Ngôi Mộ Nhà Nguyễn. Đại Nam Nhất Thống Chí viết về ngôi mộ tổ nhà Nguyễn như sau : “Lăng Trường Nguyên của Triệu Tổ Tỉnh Hoàng Đế bản triều : ở núi Triệu Tường, huyện Tống Sơn (nay là huỵên Hà Trung, Thanh Hóa), tương truyền huyệt mở miệng rồng, lúc đặt tử cung (quan tài) xong thì cửa huyệt khép chặt lại, phút chốc có gió to mưa lớn, mọi người đều sợ hãi chạy tan, lúc họp lại thì núi đá liên tiếp, cây cối um tùm không nhận được mộ đâu nữa, cho đến nay phàm gặp sự lệ, chỉ trông vào núi để làm lễ mà thôi”.

   Hồi nhỏ tôi thường được nghe người dân Thanh Hóa kể sự tích nhà Nguyễn như sau : Nguyên làng Triệu tường ở gần núi có nhiều hổ hay bắt trâu bò và cả người nữa. Ông tổ họ Nguyễn một hôm đi núi bị cọp bắt ăn thịt bỏ xương đúng vào đại huyệt. Dân làng đi tìm chỉ thấy đống mối đùn lên rất lớn, về sau cũng mất tung tích không còn biết ngôi mộ ở đâu nữa. Mỗi khi vua nhà Nguyễn hay các quan đại diện về hành lễ bái tổ thì chỉ trông vào núi bái vọng mà thôi. Thành Thanh Hóa có nhà cho vua ở mỗi khi về bái tổ, gọi là hành cung. Trước hành cung có một sân cỏ rộng, bọn tôi thường hay tới đá banh. Thành này đã bị Việt Cộng phá bình địa gọi là tiêu thổ kháng chiến.

   Vùng này nguyên là một nhánh của dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển, giáp giới tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình. Dãy núi này đã từng có nhiều huyệt đế vương. Đinh Bộ Lĩnh ở phía bắc của dãy núi này. Nguyễn Gia Miêu ở phía nam của dãy núi. Trịnh Kiểm cũng chung mạch của dãy núi này *.