Biến Dịch và Bất Dịch

 

 

           Tự ngàn xưa, ba ḍng tư tưởng lớn Phật Lăo Khổng đă ḥa nhập làm một và có ảnh hưởng thật sâu đậm đối với văn-hóa Đông Phương.  Cả ba ḍng tư tưởng đó đều đề cập rất nhiều tới Lẽ Biến Dịch ( hoặc Luật Vạn Vật Vô Thường ) và lẽ Bất Dịch ( hoặc Luật Chân Thường Bất Biến ).

 

            Tuy nhiên nếu lẽ Biến Dịch hoặc Luật Vạn Vật Vô Thường rất phổ cập trong dân gian th́ Lẽ Bất Dịch hoặc Luật Chân Thường Bất Biến dường như rất ít người đề cập tới, ngoại trừ những học giả khổ tâm nghiên cứu Chu Dịch và các vị cao tăng.

 

            Vạn Vật Vô Thường có nghĩa là vạn vật muôn loài trong vũ trụ luôn luôn biến đổi từng giờ từng phút từng giây, không có cái ǵ cố định, không có cái ǵ là trường tồn bất biến.  Điều đó thật dễ hiểu:  Con người sinh ra, lớn lên, già yếu rồi chết đi; cây cỏ mọc mầm nhú lên, đâm trồi nảy lộc, cành lá xum xuê, rồi lá rụng thân khô, tàn lụn dần đi mà chết.  Núi cao có ngày thành biển sâu; biển xanh có ngày thành ruộng dâu; trong vũ trụ dường như chẳng có ǵ là trường tồn bất diệt.

 

            Chân Thường Bất Biến ngược lại hàm ư rằng có những cái luôn luôn bất dịch, không bao giờ thay đổi.

 

            Nhưng đă có Luật Vạn Vật Vô Thường tại sao c̣n có Luật Chân Thường Bất  Biến ?  Đă có lẽ Biến Dịch tại sao c̣n có lẽ Bất Dịch ?  Nếu vạn Vật trong vũ trụ luôn luôn thay đổi không ngừng th́ c̣n có cái ǵ không bao giờ thay đổi ?

 

            Đây có thể là một trong những công án hóc búa nhất, khó giải nhất.  Nhưng nếu ta giải được công án này th́ ta cũng đồng thời hy vọng có thể giải được một loạt những công án khác, những câu hỏi hóc búa dường như đă đưa tới bế tắc tư tưởng cho toàn thể nhân loại.

            Đă nói vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến đổi không ngừng mà lại nói có những cái không bao giờ biến đổi, như thế có phải tự mâu thuẫn không ?  Thoạt nghe ta thấy triết lư Đông Phương cực kỳ khó hiểu, cực kỳ mâu thuẫn, cực kỳ phi lư và dường như cực kỳ phản khoa học.

            Những người quen với lối suy luận toán học của Tây Phương có lẽ sẽ thấy cách suy luận toán học của Tây Phương rơ ràng sáng sủa, dễ hiểu và thuần lư hơn rất nhiều.  Descartes đă đặt nền tảng cho khoa toán học bằng suy luận sau đây :

 

            Nếu A / B th́  không thể đồng thời A # B.

 

            Trắng khác Đen.  Cái ǵ đă Trắng th́ không thể đồng thời lại Đen.  Nếu vạn vật đă luôn luôn biến dịch th́ không thể có những cái không bao giờ biến dịch. Đó là nền tảng nhị nguyên luận của Tây Phương.

 

             Có thể nào đồng thời công nhận luật Vạn Vật Vô Thường và luật Chân Thường Bất Biến mà không thấy tự mâu thuẫn không ?  Ngay đến một cao đồ của Đức Phật là ngài A Nan cũng thấy mâu thuẫn đó thực không thể hiểu nổi.

 

            Trong kinh Lăng Nghiêm có dẫn tích đức Phật sai La Hầu La đánh tiếng chuông lên để giải cho ngài A Nan thấy cái "tính" trong vạn vật.  Vạn vật tuy thay đổi không ngừng nhưng cái "tính" của vạn vật th́ không hề thay đổi.

 

            Đoạn kinh Lăng Nghiêm vẫn c̣n quá khó hiểu đối với mọi người chúng ta.  Ta thử t́m những thí dụ cụ thể hơn, có tính cách khoa-học hơn để làm sáng tỏ những ǵ đức Phật muốn nói.

 

            Nói rằng vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến đổi không ngừng th́ thật dễ hiểu, chẳng cần bàn tới.  Điều ta cần t́m hiểu là :  có ǵ luôn luôn bất dịch, không bao giờ thay đổi hay không ? 

 

            Giả thử ta đứng nh́n một ḍng nước và nhớ câu Khổng Tử nói :

 

            "Thệ giả như tư phù ! bất xả trú dạ."

            ( Nước trôi măi như thế này ư ! Ngày đêm không ngừng. )

 

            Thực là một h́nh ảnh sống động nói lên sự biến dịch của vạn vật trong vũ trụ.  Ḍng nước chảy không ngừng từ núi cao ra biển cả, bốc lên trời, rơi xuống rừng núi và lại chảy ra biển cả.  Quả nhiên rằng nước luôn luôn biến đổi.

 

            Thế nhưng ngày nay ai cũng biết rằng dưới áp suất khí trời nước bốc hơi ở 100 độ Celsius và đông đặc thành nước đá ở 0 độ Celsius.  Nhiệt độ đông đặc và nhiệt độ bốc hơi của nước dưới áp suất khí trời được dùng làm mốc đo nhiệt độ.  Sở dĩ ta có thể dùng nhiệt độ đông đặc và nhiệt độ bốc hơi  của nước làm mốc đo nhiệt dộ v́ qua rất nhiều quan sát và thí nghiệm ta kết luận rằng hai nhiệt đó bất biến, không thay đổi.  Đó là cái "tính" của nước mà đức Phật đă nói tới.

 

            Tự ngàn xưa nước vẫn trôi chảy măi, vẫn luôn luôn biến dịch; nhưng trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, cái "tính" của nước vẫn không bao giờ thay đổi :  hễ đun tới 100 độ Celsius th́ nước bốc hơi, hễ để lạnh tới 0 độ Celsius th́ nước đông đặc.  Trực giác cho ta thấy rằng tuy vạn vật luôn luôn biến đổi nhưng cái "tính" của vạn vật th́ lại bất dịch, không bao giờ thay đổi.

 

            Thử bàn sang một lănh vực khác :  những Luật Thiên Nhiên hay Luật Tạo Hóa.  Ta thử xét những định luật và nguyên lư khoa học xem chúng biến dịch hay bất dịch.  Archimedes phát biểu định luật mang tên ông vào khoảng 200  năm trước Thiên Chúa giáng sinh; định luật đó đă được chứng nghiệm là đúng vào thời đó, nay đă hơn 2000 năm sau vẫn luôn luôn được chứng nghiệm.  Nếu một định luật hoặc nguyên lư khoa học được chứng nghiệm là đúng th́ nó sẽ c̣n đúng măi.  Nếu nó không c̣n đúng nữa th́ ta cũng chẳng thể gọi nó là định luật.  Như thế mọi định luật khoa học đều phải có tính cách bất dịch.  Mọi Luật Tạo Hóa nói chung đều như vậy.

 

            Từ những dẫn chứng trên ta thấy Đông Phương có cái nh́n thâm thúy vô cùng khi lấy Tam Tài ( Thiên Địa Nhân ) làm nền tảng cho vũ trụ quan và nhân sinh quan nhân bản.  Khi ta bàn tới vạn vật biến dịch trong vũ trụ là ta bàn tới vật chất; đó chính là lănh vực của ĐỊA trong Tam Tài.  Khi ta bàn tới "tính" và Luật Tạo Hóa ( bao gồm cả những định luật và nguyên lư khoa học ) là ta bàn tới lănh vực của THIÊN  ( thiên lư, thiên tính).  Luật Tạo Hóa là những luật chi phối vạn vật và con người trong vũ trụ :  THIÊN chi phối ĐỊA và NHÂN.  ĐỊA  ( vật chất ) luôn luôn biến dịch, THIÊN  ( tính của vật chất và những luật Tạo Hóa ) luôn luôn bất dịch.  Con người vừa được cấu thành bởi vật chất vừa bị chi phối bởi những Luật Thiên Nhiên cho nên hàm chứa cả những thành tố BIẾN và BẤT BIẾN.  Nhưng v́ THIÊN chi phối ĐỊA và NHÂN nên sách Chu Dịch mới có câu :  "Cái Bất Biến chỉ huy cái Biến" chính v́ lẽ đó.

 

            Sự hiện hữu đồng thời của lẽ Biến Dịch và lẽ Bất Dịch là một công án cực kỳ hóc hiểm, không thể dùng tri thức suy luận toán học thông thường để phân giải.  Tri thức suy luận toán học có tính cách thuần lư; mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ dường như không phải lúc nào cũng thuần lư.  Dường như ta phải dùng tới bát nhă hoặc trực giác không phân cực ( non-dual intuition ) mới có thể hiểu nổi .

 

            Tri thức thực nghiệm cho ta thấy vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến đổi không ngừng.  Tri thức thuần lư cho ta thấy luật Biến Dịch có tính cách thường hằng bất biến, bất di bất dịch.  Trớ trêu thay khi ta công nhận Luật Biến Dịch có tính cách bất dịch thường hằng bất biến th́ ít ra trong vũ trụ ta đă t́m thấy một cái không bao giờ thay đổi :  đó chính là Luật Biến Dịch.  Mâu thuẫn đó đưa tới bế tắc trên con đường dùng lư trí để đi t́m chân lư.  Chỉ có bát nhă hay trực giác không phân cực mới có thể phá giải nổi bế tắc đó.

 

            Một trong những công án thường được đề cập tới trong thiền môn là câu hỏi sau đây :

            "Người có thể dùng hai bàn tay để tạo thành tiếng vỗ tay.  Vậy thế nào là tiếng vỗ tay của một bàn tay ?"

 

            Trực giác giúp ta nhận thấy ngay là không thể nào có tiếng vỗ tay của một bàn tay.  Cũng như vậy, "Vạn vật luôn luôn biến dịch" là một bàn tay, "Luật biến dịch đó có tính cách thường hằng bất biến" là bàn tay thứ hai.  Nếu muốn có vế thứ nhất th́ không thể không có vế thứ hai, cũng như muốn có tiếng vỗ tay th́ không thể chỉ dùng một bàn tay.

 

            Tới đây th́ ta thấy vạn vật trong vũ trụ luôn luôn hỗ tương tùy thuộc lẫn nhau.  Muốn giải một công án th́ đồng thời ta lại vấp phải một, hoặc rất nhiều , công án khác.

 

            Suy luận toán học rất rơ ràng sáng sủa, dễ hiểu, chính xác, hữu dụng và thuần lư; nhưng dường như lại không hoàn toàn phù hợp với những ǵ thực sự xảy ra trong vũ trụ.

 

            Dường như ngay sau khi ta vừa khám phá ra một "chân lư", chỉ cần suy ngẫm lại và đối chiếu với những ǵ thực sự xảy ra trong vũ trụ, ta lại giật ḿnh nhận thấy "chân lư" đó hầu như rung rinh muốn sụp đổ.

 

            Mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ có tính cách THUẦN LƯ  ( rational ) hay KHÔNG THUẦN LƯ  ( irrational ) ?  Đây lại là một công án vô cùng nan giải.

 

            Trước hết xin hăy cùng nhau suy ngẫm lại suy luận toán học của Descartes :

 

            "Nếu A # B th́ không thể đồng thời A = B "

 

            Thoạt tiên ta thấy suy luận toán học của Descartes quá đúng, đúng đến nỗi hầu như không thể nào t́m được một kẽ hở để mà chỉ trích; đúng một cách hiển nhiên như 1 + 1 = 2 vậy.

            Nhưng suy ngẫm lại và đối chiếu với những ǵ thực sự xảy ra trong vũ trụ ta lại thấy dường như chân lư đó chỉ đúng trong một khoảnh khắc phù du trong khi ta làm toán.

 

            Giá thử có hai nhóm người; nhóm thứ nhất ta gọi là A, nhóm thứ hai ta gọi là B, mỗi nhóm đều gồm 2 người.  Ta có thể nói hai nhóm người đó bằng nhau được không ?  Được lắm chứ !  V́ cả hai nhóm đều gồm 2 người như nhau.

 

            Giả thiết :    A = 2  ;  B = 2

            Suy ra :       A = B

            Suy luận toán học đó chắc như cua gạch.

 

            Nhưng giả thử nhóm A là một cặp vợ chồng trẻ khỏe mạnh và rất mực ḥa thuận; nhóm B là hai kẻ thù bất cộng đái thiên như Sadam Hussein và George Bush chẳng hạn.  Nếu ta thả hai nhóm người đó lên hai hoang đảo khác nhau th́ sau một thời gian rất có thể cặp vợ chồng ở nhóm A sẽ sinh con đẻ cái thành một gia đ́nh đông đúc, trong khi đó hai người ở nhóm B có lẽ đă biến thành một kẻ tàng tật và một bộ xương khô hoặc cả hai bộ xương khô.

 

            Ngay trong khoảnh khắc mà ta làm toán th́ suy luận của Descartes dường như quá đúng; nhưng chỉ một thời gian sau đó th́ suy luận đó lại không c̣n đúng nữa.  Sở dĩ như vậy là v́ trong khi ta suy luận toán học ta đă giản lược hóa con người thành những con số.  Phải giản lược hóa như vậy th́ ta mới cộng trừ nhân chia được.  Trên thực tế con người chẳng bao giờ chỉ là những con số.

 

            Nếu con người chỉ là những con số th́ 1 + 1 = 2 là một chân lư muôn đời không thay đổi, ta có thể đếm đầu người mà vững bụng cộng trừ nhân chia với tin tưởng rằng mọi hiện tượng trong vũ trụ đều diễn biến một cách tuyệt đối thuần lư như những công thức toán học.  Tiếc thay con người chẳng hề chỉ là những con số, v́ thế suy luận toán học của Descartes đúng đấy mà cũng có thể sai đấy.

 

            Nhưng dẫn chứng nói trên chỉ khiến ta mường tượng thấy mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ không hẳn đă luôn luôn thuần lư như Descartes đă nghĩ; dẫn chứng đó không đủ để ta kết luận rằng mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ đều có tính cách phi lư ( irrational ), nghĩa là không tuân theo một định luật nào, không sao thể hiểu nổi và cũng không sao thể tiên liệu trước được.

 

            Nếu ta cho rằng mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ đều có tính cách phi lư th́ có nghĩa là ta đă mặc nhiên phủ nhận tất cả mọi luật tạo hóa.  Ở thời đại ngày nay quan niệm đó dường như khó có thể đứng vững.

 

            Biết bao định luật khoa học đă được chứng nghiệm và vẫn c̣n được chứng nghiệm.  Ta không thể phủ nhận sự hiện hữu của những Luật Tạo Hóa.  Tuy thế mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ có tính cách thuần lư hay không thuần lư vẫn là một bí ẩn chưa thể hiểu nổi.  Đó vẫn là một câu hỏi mà loài người vẫn đang khắc khoải muốn t́m lời giải đáp, nhưng cho đến nay vẫn chưa ai t́m được một lời giải đáp thỏa đáng.

 

            Tính cách thuần lư hay không thuần lư của mọi hiện tượng trong vũ trụ tùy thuộc rất nhiều vào nhận thức của nhân loại về lẽ Biến Dịch và Bất Dịch.  Ta hiểu lẽ Biến Dịch và Bất Dịch đó ra sao ?

            Phải chăng vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến dịch theo những luật nhân quả khắt khe cố định ?  Phải chăng nếu ta biết rơ những luật nhân quả đó th́ ta có thể tiên đoán thật chính xác mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ cũng như trong xă hội loài người ? Nếu Luật Nhân Quả chi phối vạn vật trong vũ trụ th́ mọi hiện tượng xảy ra trong trời đất có tính cách Tất nhiên hay Ngẫu Nhiên ?  Biến Dịch cũng có nghĩa là Tiến Hóa; vậy vũ trụ và xă hội loài người tiến hóa theo đường thẳng hay biến dịch tuần hoàn theo từng chu kỳ ?

 

            Bao nhiêu câu hỏi đó rối mù và dường như chỉ là những công án hóc hiểm nát óc không sao thể hiểu nổi.  Dău sao ta cũng sẽ phải cố gắng t́m hiểu từng câu hỏi một, bởi v́ dù muốn dù không trong đầu mỗi người cũng từ từ h́nh thành những lời giải đáp cho những câu hỏi đó hoặc thật rơ rệt, hoặc mù mờ lúc ẩn lúc hiện.  Những lời giải đáp cho những câu hỏi đó của mỗi cá nhân trong xă hội sẽ ḥa với nhau biến thành một vũ trụ quan và nhân sinh quan chung cho đại đa số người dân trong nước.  Vũ trụ quan và nhân sinh quan đó chính là nền móng của một nền văn hóa.

 

            Có người chắc hẳn sẽ thắc mắc tại sao trong thời đại tân tiến hiện nay mà c̣n mất th́ giờ bàn những chuyện trên trời dưới đất vớ vẩn trừu tượng và vô bổ như Biến Dịch và Bất Dịch.

            Có lẽ "Biến Dịch" và "Bất Dịch" là những chữ quá cổ nay ít ai c̣n dùng tới.  Nhưng nếu ta hiểu một cách giản dị Biến Dịch có nghĩa là "Thay Đổi" và Bất Dịch có nghĩa là "Không Thay Đổi", ta sẽ thấy vấn đề đặt ra chẳng hề trừu tượng và xa vời chút nào.  Chỉ cần đổi chữ dùng đi một chút ta sẽ giật ḿnh nhận thấy lẽ Biến Dịch và Bất Dịch đó ảnh hưởng sâu đậm đến mọi sinh hoạt của loài người như thế nào.

 

            Cuộc "cách mạng" 1789 tại Pháp làm đảo lộn cơ cấu xă hội ở các nước Tây Phương; cuộc "cách mạng" tháng 10 ở Nga đưa một phần nhân loại vào những cơn thảm họa tàn khốc suốt 70 năm trường.  Trên địa hạt nông nghiệp, người ta thường nói tới cuộc "cách mạng xanh", trên địa hạt khoa học kỹ thuật người ta lại bàn tới cuộc "cách mạng tín học".  "Cách mạng" là ǵ, nếu không phải là "Thay Đổi" ?  Những thay đổi đó dù nông hay sâu, dù nhanh hay chậm, dù tốt hay xấu th́ vẫn là thay đổi; và thay đổi th́ có khác ǵ Biến Dịch ?

 

            "Cách mạng" cũng là Biến Dịch, "Đổi Mới" cũng là Biến Dịch, "Cải Tạo" cũng là Biến Dịch, "Đổi đời" cũng là Biến Dịch.  Biến Dịch có thể mang lại niềm hy vọng lớn lao cho nhân loại như cuộc cách mạng 1789 ở Pháp, cuộc cách mạng xanh trong lănh vực nông nghiệp, cuộc cách mạng tín học trong lănh vực khoa học kỹ thuật; nhưng Biến Dịch cũng có nghĩa là "cải cách ruộng đất", là "cách mạng văn hóa", là "cải tạo" , là "đổi đời".  Nghĩ tới các trại cải tạo hoặc tới cuộc đổi đời ngày 30 - 4 -1975 là muốn rụng rời chân tay.

 

            Một trong những câu nói của Karl Marx đă hầu như làm rung chuyển nếp suy nghĩ của loài người trong mấy thập niên vừa qua là câu ông ta phê b́nh các tư tưởng gia của nhân loại.  Ông viết:

 

            "The philosophers have only interpreted   the world in different ways, but the point is to make it different."

            ( Các triết gia cho tới nay đă chỉ  diễn giải  vũ trụ theo những cách nh́n khác nhau, nhưng điều cần thiết là phải  đổi khác nó đi. )

 

            Câu nói đó có một hấp lực quyến rũ thật ma quái.  Khi nói tới nỗ lực đổi khác vũ trụ, đổi khác vạn vật, đổi khác xă hội, đổi khác con người là nói tới ư định muốn thay trời hành đạo, muốn thay đổi vạn vật trong vũ trụ theo ư muốn con người, hay nói đúng hơn theo ư muốn của một nhóm người.  Đó là nỗ lực đưa con người lên ngang hàng với Thượng Đế hoặc trên Thượng Đế.

 

            Ư tưởng táo bạo đó đă lôi cuốn không ít người nhẹ dạ.  Tư tưởng "cách mạng" đó đă như một luồng gió mới thổi vào xă hội Việt Nam cổ kính, thế rồi một sớm một chiều những con người mới xă hội chủ nghĩa đă đứng dậy đập phá tan tành nền văn hóa của dân tộc.

            Ngẫm cho kỹ sẽ thấy một điều vô cùng lạ lùng khó hiểu.  Luồng gió cách mạng thay cũ đổi mới đó đă thổi vào xă hội Việt Nam một tư tưởng rất mới là vũ trụ và xă hội loài người đă không hề thay đổi suốt mấy ngàn năm và như thế là lẽ Biến Dịch của vạn vật trong vũ trụ mà Đông Phương thường đề cập tới dường như không đúng, hoặc không hề có.  Dường như tự thuở khai thiên lập địa vạn vật trong vũ trụ cũng như xă hội  loài người luôn luôn ù ĺ bất biến, và chỉ có nỗ lực của những con người cách mạng như Karl Marx mới có thể "đổi khác" nó đi.  Nhưng xét cho cùng th́ ư nghĩ của Karl Marx cũng chẳng có ǵ lạ.  Nếu ta muốn người Tây Phương cầm đũa ăn cơm với mắm bồ hóc như ta mà họ không chịu nghe theo, cứ giữ măi cái hủ tục ăn bánh ḿ có từ mấy ngàn năm, th́ có lẽ ta cũng bực ḿnh v́ họ quá ù ĺ bảo thủ thiếu hẳn tinh thần cách mạng thay cũ đổi mới như ta.  "Cách mạng" dường như chỉ có nghĩa là ḿnh nay đă đổi khác, đă biến thành người khác, suy nghĩ bằng đầu óc của người khác, mở miệng nói ra những điều người khác muốn ḿnh nói, hành động theo ư muốn của người khác, cái đổi khác lớn nhất là ḿnh không c̣n là ḿnh nữa.

 

            Từ khi có sự va chạm với nền văn hóa Tây Phương và nhất là từ khi có sự du nhập chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam th́ ḷng háo hức thay cũ đổi mới hầu như luôn luôn bồng bột trong ḷng đa số người dân Việt.

 

            Nhưng thay cũ đổi mới hoài mà sao dân tộc ḿnh vẫn không khá, chỉ thấy mỗi ngày một thêm lụn bại ?  Tại sao cuộc cách mạng 1789 đă đưa dân tộc Pháp tiến lên mà cuộc cách mạng tháng 10 ở Nga rút cục đă sụp đổ theo bức tường Bá Linh ?  Tại sao cuộc cách mạng mùa thu héo úa ở Việt Nam đă chỉ đưa mấy trăm ngàn người dân Việt chết tức tưởi trong ḷng biển cả và cả một dân tộc bốn ngàn năm văn hiến xuống hàng một trong những nước nghèo nàn lạc hậu nhất trần gian ?  Hẳn nhiên phải có một cái ǵ sai lầm ghê gớm !

 

            Đôi khi tĩnh tâm, tôi chợt nhớ lời Phật dạy :

 

            "Khi c̣n ở bên này bến mê th́ núi là núi sông là sông, khi bắt đầu dời khỏi            

bến mê th́ núi không c̣n là núi sông không c̣n là sông, khi sang tới bờ giác ngộ th́ núi vẫn là núi sông vẫn là sông."

 

            Chẳng biết ḿnh vẫn c̣n mê hay đă tỉnh ?

 

            Qua bao nhiêu đổi thay trong xă hội, chẳng biết giấc mơ lớn lao nhất trong ḷng mỗi người dân Việt nay vẫn chỉ là mau mau "thay cũ đổi mới" cho sớm thành quả chuối vỏ vàng ruột trắng hoặc con khỉ đỏ đít hay ước mơ thầm kín vẫn chỉ là giấc mơ giản dị được làm người như thuở ban đầu ?

 

            Biến Dịch hay Bất Dịch ngẫm lại vẫn luôn luôn là những thắc mắc lớn lao cho toàn thể nhân loại.