Dựng Lại Niềm Tin

 

 

           Khi nh́n lại lịch sử Việt Nam trong ṿng 100 năm trở lại ta không khỏi đau ḷng nh́n nhận dân tộc Việt Nam đă trải qua một cơn khủng hoảng lớn lao chưa từng có trong ḍng lịch sử.

 

            Lần đầu tiên dân tộc Việt Nam đă mất hết niềm tin vào nền văn-hóa nhân bản của dân tộc ḿnh, lần đầu tiên dân tộc Việt Nam đă hối hả đổ xô ra ngoài, ngỡ ngàng nh́n ra những chân trời mới lạ, ngẩn ngơ và thán phục khi thấy những "ngọn đèn lộn ngược", lần đầu tiên dân tộc Việt Nam đă phải đối diện với một thực tế phũ phàng:  chỉ vài chục tên lính Pháp ô hợp với vài chục khẩu súng trường trên tay là đủ phá tan những đạo quân tinh nhuệ của những trung thần nghĩa sĩ khiến những hịch Cần Vương thiết tha xúc động tan vào không khí như những làn sương khói mỏng manh.

 

            Thế rồi người Việt hối hả chạy ra ngoài t́m đường cứu nước, vội vă chụp giựt những chủ nghĩa ngoại lai mang về làm bí kíp vơ công.  Thế rồi người dân trong nước bắt đầu chĩa những mũi dáo sáng quắc vào nhau, đâm nhau, giết nhau, tàn sát lẫn nhau, sỉ nhục nhau, kết án nhau.  Từ những phương trời xa lắc người Việt hăm hở mang về hàng chồng mũ quái dị, hăm hở chụp mũ bừa băi lên đầu thân nhân, bạn bè, đồng bào ḿnh :  nào mê tín, địa chủ, phản động, Việt gian, phản cách mạng, phản khoa học, phản tiến hóa, phong kiến, hủ lậu, thực dân mới, tư bản bóc lột, tay sai đế quốc, vv và vv...

 

            Thế rồi người Việt đă leo lên ngồi chễm chệ trên những đống sọ người cao ngất với niềm hănh diện lớn lao rằng những trại Đầm Đùn, trại Lư Bá Sơ và vô vàn trại tù cải tạo của ta dă man tàn ác gấp ngh́n lần các trại tù Đức Quốc Xă.  Cái "đỉnh cao trí tuệ loài người" cao ṿi vọi đó nồng nặc mùi xú uế phát ra từ những thây người chết và những rác rưởi cặn bă của những nền văn minh ngoại lai mà ta đă vui mừng đến rơi lệ lượm lặt về.

 

            Thế rồi thế hệ trẻ lớn lên nh́n ra ngoài xă hội chỉ toàn thấy những điều nghịch lư :  Đảng Cộng Sản Việt Nam anh hùng ngủ chỉ nhắm một mắt v́ chưa van xin được tên Đế Quốc đầu sỏ Mỹ quên quá khứ mà tha cho ta cái bản án Cấm Vận, những người mang danh "vô sản" có trong tay những tài sản kếch xù lớn hơn nhiều tỉ phú ở Mỹ trong lúc nhân dân đói khổ lầm than nằm la liệt nơi vỉa hè xó chợ, xă hội do nhân dân làm chủ mà người dân chỉ cần mở miệng thốt ra một lời nói thật là bị tù 20 năm...  Cái huyền thoại "dân tộc giải phóng" rút lại biến thành việc thay thế những quan Thái Thú Tô Định hoặc những quan Toàn Quyền Pháp tàn ác x́ xồ nói tiếng Tây tiếng Tàu bằng những quan Cách Mạng Việt Nam độc ác bất nhân gấp bội.

 

            Cơn khủng hoảng niềm tin lớn lao đó vẫn đè nặng chĩu trên con tim khối óc mỗi người dân Việt, khiến không ai c̣n có thể tin ai.  Điều đau sót nhất là sự mất tin tưởng vào nền văn-hóa nhân bản tràn lan khắp nơi như một bệnh dịch, khiến không ít người Việt khinh bỉ dân tộc ḿnh, khinh bỉ đồng bào ḿnh và khinh bỉ luôn chính ḿnh.  Người Việt trở thành kẻ thù không đội trời chung của người Việt.  Con tố cha, anh em oán hận nhau thấu xương tủy, bạn bè nối khố đâm sau lưng nhau.  Những chuyện đó xảy ra nhan nhản ở khắp nơi.  Hiện tượng thê thảm đó chưa từng có trong ḍng lịch sử.

 

            Thử truy nguyên lại xem v́ đâu mà có cơn khủng hoảng niềm tin đó.  B́nh tâm suy xét kỹ ta sẽ thấy chuyện đó không có ǵ là lạ :  khi một người bị chính đồng bào ḿnh lường gạt, đối xử tàn ác hơn loài dă thú, th́ cái ư niệm T̀NH NGƯỜI dễ dàng trở nên vô nghĩa mỉa mai.  Tôi chẳng thể tin anh nếu tôi biết rơ trong thâm tâm anh chỉ nghĩ tới một điều duy nhất là lừa gạt tôi, tước đoạt tất cả những ǵ tôi có, chiếm hữu mọi quyền lực để bắt tôi làm khuyển mă cho anh.  Cái "thiên đường hạ giới" anh vẽ ra càng đẹp đẽ bao nhiêu khi đối chiếu với thực tại phũ phàng càng tương phản bấy nhiêu.

 

            V́ đâu mà có cơn khủng hoảng niềm tin đó ?

 

            Khi có sự va chạm với một nền văn-minh ngoại lai, ta có dịp so sánh và nhận thấy sự khác biệt giữa các nền văn-hóa.  "Ngọn đèn lộn ngược" mà Nguyễn Trường Tộ mang về là một thí dụ điển h́nh của sự khác biệt đó.  Ta cũng có dịp nhận thức được một sự thực phũ phàng là xă hội ta có những điều yếu kém, trong khi đó các dân tộc Tây phương hùng mạnh hơn rất nhiều.

 

            Nhưng nếu ta tĩnh tâm suy xét th́ sẽ thấy ngay rằng sự gặp gỡ giữa những nền văn-hóa dị biệt không hẳn tất nhiên phải gây ra đổ vỡ thê thảm trong xă hội.  Nếu khôn ngoan sáng suốt biết gạn lọc những cái hay của người ḥa nhập với những cái hay của ḿnh, th́ sự gặp gỡ giữa những nền văn-hóa dị biệt có thể là một cơ hội vàng son để cả dân tộc tiến lên thực mạnh mẽ.  Dó là bài học DUNG HỢP của tiền nhân.  Tiền nhân ta đă dung hợp rất nhiều nền văn-hóa khác nhau mà không hề gây ra những thảm cảnh cho đất nước.  Sót sa thay trong ṿng 100 năm qua người Việt đă không làm được chuyện đó.

 

            Mặc cảm tự ti đă phá nát niềm tin vào nền văn-hóa nhân bản của dân tộc ḿnh và đưa đến sự ngưỡng mộ sùng bái không cân nhắc bất cứ cái ǵ mang từ phương xa về.

 

            Cái sai lầm lớn lao đó đă khiến cho không ít người Việt vội vă mang những chủ chủ nghĩa ngoại lai từ phương xa về tưởng như bắt được những "cẩm nang thần kỳ" đủ phép màu để biến Việt Nam thành một đất nước hùng mạnh phú cường trong một sớm một chiều.

 

            Những câu thơ sau đây của Tố Hữu bộc lộ hết những ư nghĩ thầm kín trong đầu óc những lănh tụ Cộng Sản Việt Nam :

 

                                    Thuở anh chưa ra đời

                                    Trái đất c̣n nức nở

                                    Nhân loại chưa thành người

                                    Đêm ngàn năm man rợ !

 

            "Anh" đây là cuộc cách mạng tháng 10 ở Liên Xô.  Ư tứ những câu thơ đó có thể diễn tả huỵch toẹt như thế này :  Trước khi có cuộc cách mạng tháng 10, cả nhân loại sống trong u mê tăm tối, xă hội loài người là là một xă hội man rợ chưa thành người.  Chỉ nhờ có chủ nghĩa Cộng Sản mà nhân loại mới phút chốc một sớm một chiều biến thành một thiên đường hạ giới.

 

            Chỉ cần b́nh tâm suy nghĩ kỹ một chút ta sẽ thấy ngay đó là một tư tưởng cực kỳ cao ngạo đến độ lố bịch.  Nó là sự biến đổi đột ngột của một đầu óc ngu muội tối tăm khi vừa bước ra đường gặp một thằng điếm chỉ vẽ cho chút mánh lới thủ đoạn lừa người đă vội cảm thấy ḿnh biến thành một ông khổng lồ vĩ đại.  Đó là sự "phối hợp nhuần nhiễn" giữa cái rác rưởi của cả hai nền văn-hóa, kết quả là một sự pha trộn lộn xà ngầu cái mặc cảm tự ti thảm hại với cái mặc cảm tự tôn kệch cỡm.

 

            Không ai phủ nhậ rằng các xă hội Tây phương đă phát triển rất nhanh chỉ trong ṿng một vài thế kỷ vừa qua.  Sự phát triển đó phần lớn là nhờ những khám phá khoa học kỹ thuật.  Xă hội cổ truyền Việt Nam thiếu hẳn mọi nỗ lực phát triển khoa học kỹ thuật, v́ thế dân tộc ta cảm thấy ḿnh thua kém khi có dịp va chạm với văn-hóa tây phương.

 

            Nhưng khoa học kỹ thuật thực ra chỉ là sản phẩm của một nền văn-minh, tự nó chưa phải là nền văn minh.  Khoa học kỹ thuật là kết quả sự góp sức của rất nhiều người trong việc t́m ṭi, khám phá, quảng bá và ứng dụng những định luật khoa học vào việc cải thiện đời sống con người.  Nếu không có sự góp sức của rất nhiều người vào nỗ lực chung đó th́ cũng không có khoa học kỹ thuật.

 

            Sở dĩ xă hội Tây phương tiến bộ được chính là v́ họ đă tạo được một môi trường thích hợp khiến mọi người cảm thấy hăng hái nỗ lực làm việc, chung sức nhau tạo dựng một xă hội đáng sống.

 

            Một xă hội đáng sống là một xă hội mà những giá trị tinh thần được thấm sâu và tỏa rộng vào tâm hồn mỗi người dân, khiến đa số người dân đều cảm thấy ḿnh phải ăn ở đàng hoàng tử tế với nhau, nếu ḿnh muốn người khác cũng đối xử đàng hoàng tử tế với ḿnh như vậy.

 

            Cuộc cách mạng 1789 ở Pháp đă đề ra ba giá trị văn hóa làm nền tảng để xây dựng xă hội  :  Tự Do - B́nh Đẳng -  Bác Ái .

 

            Những giá trị văn hóa đó tuy có khác với những giá trị tinh thần được đề cao trong nền văn hóa nhân bản của Việt Nam, nhưng nếu b́nh tâm suy xét kỹ ta sẽ thấy hai nền văn hóa Đông Tây không hề xung khắc nhau, mà lại bổ túc nhau.  Thực là một điều dại dột lớn lao khi ta vội vă mù quáng đặt Đông Tây vào hai thế đối nghịch để rồi, hoặc khăng khăng ôm lấy đấng quân vương vùi đầu xuống cát, hoặc hốt hoảng đoạn tuyệt với quá khứ vội vă vứt bỏ di sản vô cùng quí báu mà tiền nhân đă phải trả xương máu nhiều đời mới gây dựng nên được.

 

            Người Nhật đă khôn ngoan hơn dân tộc ta rất nhiều.  Vào thời Minh Trị Thiên Hoàng, họ mở thật rộng cửa đón nhận mọi trào lưu văn minh Âu Mỹ tràn tới.  Họ cử rất nhiều người đi du học khắp nơi, họ mời rất nhiều khoa học gia, kỹ thuật gia Âu Mỹ tới giảng dạy, họ nỗ lực dịch sách của các tư tưởng gia , khoa học gia Âu Mỹ trên một qui mô thật rộng lớn.  Chính sách khai phóng đó đă làm thay đổ bộ mặt nước Nhật trong một thời gian thật ngắn ngủi.

 

            Nhưng đồng thời với nỗ lực canh tân đó, họ nỗ lực không kém vào việc vun đắp ǵn giữ những giá trị tinh thần trong nền văn hóa sẵn có của họ.  Họ hiểu rơ văn-hóa là chất keo kết hợp ḷng người, thiếu chất keo đó th́ dân tộc sẽ ră rời thành từng mảnh vụn.  Cái sáng suốt của người Nhật là họ đă nhận thấy rơ Đông và Tây khác nhau nhưng lại bổ trợ cho nhau.

 

            Cuốn Kinh Dịch mà rất nhiều người Trung Hoa và Việt Nam chỉ dùng làm sách để bói toán, đă được người Nhật t́m hiểu thật thấu đáo  để đem ra ứng dụng vào đời sống thực tế.  Khi mà rất nhiều người Trung Hoa nghiền ngẫm Kinh Dịch như bước vào một Bát Quái Trận Đồ mờ mờ ảo ảo, rối mù dày đặc, không sao t́m thấy đâu là cửa Sinh cửa Tử th́ người Nhật tĩnh tâm suy ngẫm về cái lẽ TRONG SÁNG GIẢN DỊ là đầu mối của vô vàn phức tạp.

 

            Michio Kushi chẳng hạn đă có thể diễn tả những Luật Tạo Hóa được đề cập tới trong Kinh Dịch bằng những lời thật giản dị sáng sủa sau đây :

 

            The Seven Universal Theorems :

 

                        1- Everything is a differentiation of one Infinity

                        2- Everything changes

                        3- All antagonisms are complementary

                        4- There is nothing identical

                        5- What has a front has a back

                        6- The bigger the front, the bigger the back

                        7- What has a beginning has an end

 

            Bảy Luật vũ trụ :

 

                        1- Mọi sự vật đều chỉ là biến thái của Vô Cực

                        2- Mọi sự vật đều biến dịch

                        3- Mọi đối cực đều có tính cách bổ trợ lẫn nhau

                        4- Không có ǵ là hoàn toàn đồng nhất

                        5- Cái ǵ có mặt tiền th́ có mặt trái

                        6- Mặt tiền càng lớn th́ mặt trái cũng càng lớn

                        7- Cái ǵ có Bắt đầu th́ sẽ có Kết Thúc

 

            Những tư tưởng thâm trầm sâu sắc như trêN rút ra từ Kinh Dịch đă được người Nhật phối hợp với thuyết Tri Hành Hợp Nhất của Vương Dương Minh để biến thành những tư tưởng chỉ đạo hướng dẫn mọi chính sách thực tiễn của quốc gia họ.

 

            Nay ta thử suy ngẫm xem đâu là sự khác biệt căn bản giữa hai nền văn hóa Đông Tây và thử xét xem hai nền văn-hóa đó có thực sự lâm vào thế đối đầu một mất một c̣n hay không.

 

            Có lẽ sự khác biệt lớn lao nhất giữa Đông và Tây là Tây Phương thiên nhiều về Lư Trí, trong khi Đông Phương nghiêng nặng về Trực giác.  Trực Giác đó Vương Dương Minh gọi là Lương Tri,  Đức Phật gọi là Bát Nhă, tiếng dùng tuy khác nhau nhưng đều là Trực Giác cả.  V́ thiên về Lư Trí nên người Tây Phương phát triển rất mạnh óc Phân Tích.  Chính óc Phân Tích đó đă giúp họ có tinh thần khoa học, bất cứ chuyện ǵ cũng chuộng sự tách bạch rơ ràng,sáng sủa, phân định trắng đen thật rơ rệt.  Suy luận toán học của DEscartes là điển h́nh của óc phân tích đó.  Ngay trong lănh vực khoa học nhân văn là lănh vực của những vấn đề phức tạp bao quát và đa diện nhất th́ người Tây Phương cũng luôn luôn sử dụng óc phân tích để t́m hiểu, do đó Triết Học là khoa học phát sinh từ Tây Phương.  Triết vốn có nghĩa là bẻ nhỏ ra, là tách bạch.  Triết học là khoa học bẻ nhỏ những vấn đề thực lớn lao phức tạp ra thành nhiều vấn đề nhỏ để có thể nh́n thật rơ ràng chính xác.

 

            Cái nh́n đó khác hẳn cái nh́n của Đông phương.  Đông Phương nghiêng nặng về Trực giác, nên thường có cái nh́n tổng hợp.  T́m hiểu một con người th́ quan sát nguyên vẹn con người đó chứ không t́m cách mổ sẻ ra thành từng bộ phận rời rạc.  Về lănh vực nhân văn, Đông Phương chỉ có Đạo học mà không có Triết học.  Một trong những thí dụ điển h́nh nhất cho cái nh́n nguyên thể này là tư tưởng của Khổng Tử.

 

            Khổng Tử từng nói :

            "Ngô đạo nhất dĩ quán chi"

            ( Đạo của ta lấy Một mà suy ra Tất cả )

 

            Đạo đó là đạo Hiệt Củ, đạo Trung Thứ, quan sát một sự vật, một hiện tượng mà suy ra cái lư chung chi phối vạn vật trong vũ trụ.  Do đó Đông Phương thường nghiêng nặng về cái nh́n tổng hợp mà ít chú trọng đến việc phân tích sự vật ra từng mảnh vụn.

 

            Nói chung th́ như vậy, nhưng điều đó chẳng hề có nghĩa là Tây Phương không có cái nh́n tổng hợp hoặc Đông phương không có óc phân tích.  Từ mấy ngh́n năm trước ở Tây phương Aristotle cũng đă từng nh́n thấy sự khác biệt giữa hai cái nh́n phân tích và tổng hợp.  Ông từng nói :

 

                        "The Whole is more than the Sum of its Parts"

                        ( Cái Toàn Thể không phải chỉ là Tổng Số của những phần tử hợp thành )

 

            Ư tưởng đó thực thâm trầm sâu sắc.  Ta có thể lấy một thí dụ nhỏ để làm sáng tỏ những ǵ Aristotle muốn nói :  Nước ( H2O ) do Oxy ( O ) và Hydro ( H2 ) hợp thành; nhưng tính chất của nước khác hẳn tính  chất của Oxy và Hydro.

 

            Thí dụ đó cho ta thấy nếu ta dùng suy luận toán học của Descartes để suy ra H2O  = H2 + O th́ suy luận đó vừa đúng vừa không đúng tùy theo cách nh́n của mỗi người.

 

            Những điều nói trên tới nay chẳng c̣n ǵ mới lạ đối với toàn thể nhân loại.  Ngày nay những người có cái nh́n sáng suốt dù ở Đông hay Tây cũng chẳng xem Đông và Tây như hai nền văn-hóa đối nghịch xung khắc nhau đến độ cái nọ phải diệt cái kia đi th́ mới có thể tồn tại.  Óc Phân Tích và Óc Tổng Hợp tuy khác nhau nhưng lại bổ trợ cho nhau.  Cái nh́n Nguyên Thể ( the Whole ) và cái nh́n tách bạch từng phần ( the Parts ) cũng y hệt như vậy.

 

            Với cái nh́n cởi mở dung hợp như trên th́ mọi thế lưỡng cực đố đầu giữ Đông và Tây, giữ Lư Trí và Trưc Giác, giữa Tâm và Vật, giữa Thượng Đế và con người, giữ Cá Nhân và Xă-Hội đều có thể dễ dàng hóa giải.

 

            Một nhà văn-hóa học Nhật Bản là Shimahara cũng t́m cách mô tả sự khác nhau giữa các nền văn-hóa.  Ông cho rằng văn-hóa nhân loại có hai khuynh hướng khác biệt chính yếu.  Ông gọi hai khuynh hướng đó là khuynh hướng ly tâm và khuynh hướng qui tâm.

 

            Một xă-hội qui tâm khi đa số người dân trong nước mưu t́m sự Ḥa Hợp giữa các cá nhân trong xă-hội, người nọ nương tựa với người kia, gắn bó với người kia.  Những xă hội Đông Phương xưa kia, từ Trung Hoa, Nhật Bản đến Việt Nam đều có thể được xem như những xă hội qui tâm  điển h́nh.  Trung Hoa đề cao Tam Cương Ngũ Thường.  Cương Thường là giềng mối hay những sợi dây vô h́nh ràng buộc những phần tử trong xă hội với nhau.  Việt Nam đề cao T́nh Nghĩa, từ T́nh Nghĩa Vợ Chồng, Cha Con, Anh Chị Em, Bạn Bè, Đồng Bào tới T́nh Người.

 

            Một xă-hội ly tâm là một xă hội trong đó đa số người dân trong nước mưu t́m Tự Do Cá Nhân; khuynh hướng chung của đa số người dân trong nước là khuynh hướng Tự Lực.

 

            Nếu đi về hai  đối cực tuyệt đối th́ cả hai khuynh hướng đó đều tai hại như nhau.  Khuynh hướng qui tâm khi có tính cách cực đoan quá khích sẽ biến thành độc tài chuyên chính, hủy diệt tự do cá nhân, con người bị ép vào khuôn khổ cứng ngắc bị guồng máy xă hội vô tri nghiền nát vụn.  Trung Hoa cổ xưa đă phần nào đi về tận cùng đối cực như vậy nên mới có những tư tưởng như " Quân sử thần tử thần bất tử bất trung, phụ sử tử vong tử bất vong bất hiếu" ( Vua muốn bày tôi chết, bày tôi không chịu chết là bất trung ;  cha muốn con chết, con không chết là bất hiếu ).  Việt Nam thời xưa dù chịu ảnh hưởng của văn-hóa Trung Hoa rất nhiều cũng chưa hề có tư tưởng quá khích như vậy.

 

            Mặt khác khuynh hướng ly tâm nếu trở thành cực đoan sẽ đẩy xă hội tới chỗ phân hóa ră rời thành từng mảnh vụn, mỗi cá nhân sẽ trở thành một ốc đảo tách biệt chỉ mưu t́m hạnh phúc cá nhân mà không nghĩ ǵ tới đồng loại.

 

            Nhưng nếu ta hiểu rơ mọi đối cực đều có tính cách bổ trợ lẫn nhau th́ khuynh hướng qui tâm và ly tâm chẳng phải là hai kẻ thù bất cộng đái thiên mà trái lại sự phối hợp hài ḥa hai khuynh hướng đối nghịch đó có thể là một động lực thúc đẩy xă-hội tiến lên thật mạnh mẽ.

 

            Không may khi có sự va chạm giữa hai nền văn hóa Đông Tây trong những thập niên đă qua th́ đa số người Việt đă bối rối như con lừa đứng trước hai máng cỏ và thái độ chung dường như chỉ là sự lựa chọn dứt khoát giữa một trong hai đối cực, chọn cái nọ th́ dứt khoát đoạn tuyệt với cái kia.

 

            Những người Cộng Sản c̣n mắc phải lỗi lầm lớn lao hơn nữa.  Không những họ khinh rẻ nền văn-hóa nhân bản của Việt Nam mà cũng bài xích luôn nền văn hóa Tây Phương.  Lưỡi liềm được dùng để chặt đứt văn hóa qui tâm Đông Phương ra từng mảnh nhỏ, cái búa được dùng để đập cho nền văn-hóa ly tâm Tây Phương bẹp dúm.  Họ mê mẩn chạy theo Karl marx , tin tưởng tuyệt đối vào thuyết "mâu thuẫn sinh tiến hóa".  TỪ quan niệm đó họ chặt vụn con người thành Tâm và Vật, xé nát nhân loại thành những giai cấp đối nghịch, biến loài người thành những kẻ thù bất cộng đái thiên, luôn miệng hô hào đấu tranh một mất một c̣n giữa những người đồng chủng.  Cuộc đấu tranh một mất một c̣n do họ đề xướng nếu chẳng may thành tựu th́ nhân loại có lẽ sẽ chỉ c̣n là con số không to tướng.

 

            Sau bao nhiêu đau thương đổ vỡ có lẽ giờ đây người Việt đă bắt đầu từ từ tỉnh ngộ và nh́n thấy những giá trị lớn lao trong nền văn hóa nhân bản của dân tộc.  Những giá trị đó thực giản dị đơn sơ, mộc mạc như đôi guốc gỗ, như chiếc nón lá, như không khí trong lành buổi sáng , như gáo nước mưa mát rượi.

 

            Nền văn-hóa nhân bản đă tạo cho Việt Nam một dân tộc hiền ḥa thuần hậu, biết đối xử với nhau bằng một tấm ḷng thiết tha chân thật, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

 

            Cái tâm hiền ḥa thuần hậu đó là cốt lơi của nền văn-hóa nhân bản mà tiền nhân đă bao đời vun bồi ǵn giữ.  Cái tâm hiền ḥa thuần hậu đó chẳng có ǵ là phản khoa học, phản tiến bộ hết.  Nó không hề là một trở ngại ngăn cản ta hấp thu những tinh hoa trong nền văn hóa Tây phương, nó chẳng phải là tư tưởng độc tài độc tôn đối nghịch với Tự Do Dân Chủ, nó chẳng phải là mê tín dị đoan đối nghịch với khoa học kỹ thuật, nó chẳng hề là yếu tố tạo nên một dân tộc ươn hèn.  Tấm ḷng của người Việt được thể hiện qua những Phạm Ngũ Lăo, Lương Ngọc Quyến chỉ nói lên sức mạnh quật cường hiền ḥa nhưng mănh liệt đă là chất keo gắn bó dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm.

 

            Những người lớn lên trong ngục tù Cộng Sản thấu hiểu hơn ai hết tác hại của chủ nghĩa Cộng Sản như Nguyễn Chí Thiện, Phùng Quán, Trần Dần, Trần Văn Thủy, Nguyễn Đan Quế đă không cầ tới bất cứ một chủ nghĩa ngoại lai nào, họ cũng chẳng thèm dùng những từ ngữ dao to búa lớn.  Những lời họ nói lên phát xuất tự đáy ḷng, giản dị nhưng chân thật, vừa thốt lên là đủ khiến cả triệu trái tim cùng rung động.

 

            Phùng Quán, Trần Dần chỉ nói tới ḷng Thành Thật, Trần Văn Thủy chỉ viết chuện Tử Tế, Nguyễn Chí Thiện chỉ dương Tă Trắng lên thay cờ, Nguyễn Đan Quế chỉ dựng tấm bảng "Cao Trào Nhân Bản" rồi b́nh thản ngồi ch́a tay cho cán bộ Cộng Sản móc c̣ng dẫn vô tù.

 

            Ôi những con người ấy họ có ǵ khác chúng ta đâu ?  Họa chăng họ chỉ có một tấm ḷng Việt Nam phát xuất từ nền văn-hóa nhân bản của cha ông mà họ đă không vội vă vứt bỏ để đổi lấy đồng đô la hoặc chiếc khăn quàng đỏ.  Nhưng chính nhờ những tấm ḷng cao quí đó mà chúng ta mơ"i c̣n hy vọng dựng lại niềm tin cho những thế hệ mai sau.