Khi Văn-Hóa

Cạn Ḍng Đứt Đoạn

 

 

           Tôi không sao quên được h́nh ảnh bà lăo già chết đứng trên băi biển Kuku vào một ngày cuối tháng tư năm 1982.

 

            Kuku là một ḥn đảo nhỏ thuộc lănh thổ Nam Dương, được dùng làm trạm tiếp cư cho những thuyền nhân may mắn dạt vào lănh thổ Nam Dương.  Trên đảo không có dân cư.  Thuyền nhân được tạm giữ ở Kuku trước khi được chuyển về trại tị nạn Galang, nơi có Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc bảo trợ.  Trên đảo dựng sơ sài vài chục căn nhà làm bằng  nylon mỏng manh phủ lên sườn gỗ dùng làm nơi tạm trú cho vài trăm thuyền nhân tị nạn.  Mỗi buổi chiều chúng tôi thường kéo nhau ra bờ biển nh́n về phía xa.  Cứ vài ngày lại có một thuyền tị nạn được hải thuyền Nam Dương hộ tống tới đảo.

           

            Một buổi chiều cuối  tháng tư năm 1982, chúng tôi reo mừng đổ xô ra băi biển đón một thuyền tị nạn vừa tới.

 

            Chúng tôi chăm chú nh́n từng người tị nạn bước lên cầu tàu làm thủ tục kiểm dịch trước khi bước lên bờ.  Ai cũng mong ngóng hy vọng gặp được một người thân trong số người mới tới.  Khi đoàn người tị nạn mới đă lên hết trên bờ, tôi ngạc nhiên thấy một đám đông túm tụm xúm xít bao quanh một bà lăo.  Tôi bước tới gần, cố len vào để xem tận mặt bà lăo.

 

            Khi len được vào đứng ngay trước mặt bà lăo, tôi bỗng cảm thấy toàn thân rung động  như muốn rụng rời chân tay.  Trước mặt tôi không phải là một người sống mà chỉ là một thây ma đứng sững.  Hai mắt bà lăo đă hoàn toàn lạc thần bất động, thân thể và chân tay cứng như khúc gỗ.  Tôi không có đủ tài như Nguyễn Du để tả cảnh Từ Hải chết đứng.  Tôi chỉ biết ghi lại cái cảm giác lạnh buốt  xương sống khi nh́n một bà già đứng bất động như khúc cây, sắc mặt đă hoàn toàn hết sinh khí.  Nếu các anh em thuyền nhân đứng quanh không đỡ có lẽ bà lăo đă đổ xuống như một cây chuối vô tri.

 

            Nh́n vào đôi mắt đờ đẫn lạc thần của bà lăo, tôi  thấy tất cả nỗi đau khổ tận cùng của một con người.  Nỗi đau khổ câm nín không sao nói lên được.

 

            Những mẩu chuyện được ráp nối từ những ǵ các thuyền nhân đi chung chuyến ghe với bà lăo kể lại  giúp tôi h́nh dung được vài nét chính nỗi đau đớn của bà cụ .  Bà lăo đă khoảng xấp xỉ tám mươi.  Bà cụ có một người con trai duy nhất vẫn c̣n nằm trong trại cải tạo.  Người vợ lên thăm chồng được chồng dặn ḍ hăy t́m mọi cách vượt biên đưa đứa con trai duy nhất mới chừng 7,8 tuổi tới vùng trời tự do.  Người vợ làm theo lời chồng.  Sau một chuyến vượt biên thất bại, ngả bệnh và ĺa trần.

 

            Bà lăo thương con và thương cháu, quyết hoàn thành tâm nguyện của người con trai.  Bà cụ dẫn đứa cháu vượt biên.  Cuộc phiêu lưu trên biển cả kéo dài cho đến khi trên tàu cạn hết lương thực và nước uống.  Đứa cháu nhỏ kiệt sức dần và chết.  Bà lăo đau đớn nh́n những người đi cùng thuyền  vứt xác đứa cháu xuống biển khơi.  Ôi làm sao tả hết nỗi thất vọng tột cùng của bà lăo !

 

            H́nh ảnh bà cụ già chết đứng trên băi biển Kuku đă làm tôi ray rứt măi nhiều năm sau khi đă định cư ở vùng đất mới.  Bà cụ già không phải là người duy nhất phải chịu những thảm cảnh sau cuộc chiến ở Việt Nam .Bà lăo cũng chưa hẳn là người chịu những thảm trạng lớn nhất.  Nhưng bà lăo có thể là biểu tượng nỗi đau đớn chung mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu sau một cuộc chiến tranh dai dẳng.  Nỗi đau đớn đó ch́m sâu vào đôi mắt lạc thần, uất nghẹn và tắt lịm v́ không nói lên được.

 

            Nh́n vào đôi mắt tê dại đờ đẫn của bà lăo tôi thấy tất cả sự đổ vỡ thê thảm chưa từng có của xă-hội Việt Nam.

 

            Đây không phải là một cuộc chiến như mọi cuộc chiến.  Thường th́ khi băo tố của một cuộc chiến đă tan người dân trong nước bắt đầu b́nh tĩnh lại thu vén những ǵ c̣n chưa mất, hàn gắn những vết thương đau và bắt đầu dựng lại một cuộc sống mới.  Chưa có một cuộc chiến nào khi tàn cục người dân phải chịu những hậu quả tàn khốc như cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

 

            Thực là mỉa mai khi cuộc chiến tranh đó đă được gán cho những mỹ từ lộng lẫy như "chiến tranh chống xâm lược".  Trong lịch sử Việt Nam, dân tộc Việt Nam đă nhiều lần đứng dậy chống ngoại xâm.  Có bao giờ sau chiến thắng chống Mông Cổ, Măn Thanh mà cả triệu người dân trong nước lâm vào cảnh tuyệt vọng đau thương đến nỗi phải liều chết bỏ quê hương ra đi hay không ?

 

            Nỗi đau lớn lao của người dân Việt là đất nước Việt Nam đă không c̣n là đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam đă không c̣n là dân tộc Việt Nam, xă-hội Việt Nam đă không c̣n là một xă-hội đáng sống.

 

            Nếu xưa kia những câu ca dao như :

 

          "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, 

      "Người trong một nước phải thương nhau cùng"

 

            đă thấm sâu vào tận cùng tâm hồn mỗi người dân Việt qua bao nhiêu thế hệ, th́ nay cũng câu ca dao đó trở thành kỳ dị và đầy những ư nghĩa mỉa mai đến nỗi khó ai có thể thốt lên mà không nghẹn ngào đau xót.

 

            Không biết bao nhiêu người Việt nay có thể thành thật nhận xét rằng những kẻ đă đối xử tàn ác nhất đối với bản thân họ, gia-đ́nh họ, thân nhân, bạn bè hoặc đồng bào họ không hẳn đă là những ông Tàu  bụng phệ, ông Tây mũi lơ, ông Mỹ mắt xanh mà thường lại chính là người Việt Nam máu đỏ da vàng.

 

            Xưa kia dân tộc Việt Nam rất đồng tâm mỗi khi đứng dậy chống lại kẻ ngoại bang thống trị dân Việt v́ tin chắc  rằng chỉ có những thái thú Tô Định hoặc những toàn quyền Pháp mới tham lam tàn ác với dân lành.  Nhưng nay kẻ thống trị dân tộc Việt c̣n tàn ác gấp ngh́n lần  Tô Định hoặc những quan Toàn Quyền Pháp. Điều đau đớn nhất là những kẻ thống trị đó ngày nay lại chính là người Việt Nam.

 

            Có lẽ đó là một trong muôn ngh́n lư do đă khiến một bà cụ già 80 tuổi liều ḿnh vượt biên.  Hẳn là bà cụ đă không mong đợi ǵ cho chính bản thân khi phải ra đi.  Cái điều mong ước duy nhất mà ai cũng có thể thấy rơ là bà cụ muốn cứu lấy đứa trẻ thơ.  Cứu lấy nó là giúp nó thoát khỏi một xă hội không c̣n đáng sống và cho nó một cơ hội để sống như một con người.

 

            Sự đổ vỡ lụn bại của xă-hội Việt Nam cũng như sự mất mát thê lương trong ḷng người dân Việt từ đâu mà có ?

 

            Truy nguyên lại nguồn gốc, ta phải nói ngay nguyên nhân chính đă đem đến nỗi bất hạnh lớn lao cho dân tộc Việt chính là sự du nhập những chủ nghĩa ngoại lai, trong đó chủ nghĩa Cộng sản hiển nhiên là độc hại nhất.

 

            Tác hại lớn nhất của chủ nghĩa Cộng Sản là đă xé nát dân tộc Việt thành từng mảnh vụn, đă tàn phá tâm hồn người dân Việt và  đă hủy hoại nền văn hóa nhân bản vốn có sẵn tự ngàn xưa.

 

            Sự mất mát văn hóa đó đă được giáo sư Trần Ngọc Ninh mô tả là "văn hóa cạn ḍng đứt đoạn".  V́ văn hóa cạn ḍng đứt đoạn nên người không c̣n là người mà đă biến thành thú dữ.  V́ văn hóa cạn ḍng đứt đoạn nên độc ác bất nhân đă trở thành quốc sách được nhồi nhét vào đầu óc mỗi tên cán bộ ngu đần.

 

            Nhưng có trách những kẻ thừa hành đầu óc tối tăm cũng là vô ích.  Việc cần thiết hơn thế là t́m hiểu rơ cái hấp lực ma quái của chủ nghĩa Mác-xít để t́m cách phá giải.  Việc cần hơn nữa là dựng lại nền văn hóa nhân bản mà tiền nhân đă bao đời dày công vun đắp.

 

            Khi bàn về văn hóa, thượng tọa Thích Nhất Hạnh đă đưa ra một định nghĩa thật ngắn gọn và khá chính xác:

 

            "Văn hóa là nếp sống vươn lên Chân Thiện Mỹ của một dân tộc."

 

            Câu nói đó rất hay, tuy nhiên vẫn c̣n đôi chút khó hiểu nếu ta nhớ lại câu nói của Lăo Tử :

 

            "Làm thày thuốc mà lầm th́ giết một người, làm chính trị mà lầm th́ giết một nước, làm văn hóa mà lầm th́ di hại đến muôn đời."

 

            Nếu văn-hóa là nếp sống vươn lên Chân Thiện Mỹ của một dân tộc th́ tại sao làm văn hóa lại có thể lầm và di hại đến muôn đời ?  Làm văn-hóa, hiểu theo nghĩa của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, là nỗ lực vươn lên Chân Thiện Mỹ.  Chẳng lẽ nỗ lực vươn lên Chân Thiện Mỹ mà lại có thể "lầm"  và di hại tới muôn đời hay sao ?

 

            Thoạt nghe câu hỏi đó ta thấy dường như phi lư, dường như đó là chuyện không thể xảy ra, hay dường như hai ư niệm "văn-hóa" của Lăo Tử và của thượng tọa Thích Nhất Hạnh không phù hợp với nhau, nếu không muốn nói là mâu thuẫn trái ngược với nhau.  Nhưng ngẫm cho kỹ ta mới thấy ư nghĩa thâm trầm trong câu nói của Lăo Tử.

 

            Những kẻ chạy theo chủ nghĩa Cộng-Sản chẳng hạn, có thể đa số v́ bị ép buộc hoặc bị lừa gạt,  nhưng một thiểu số lănh đạo chóp bu th́ biết rất rơ họ muốn ǵ.  Những kẻ lănh đạo này tin chắc rằng họ đă nắm rất vững những "qui luật lịch sử tất yếu".  Những qui luật lịch sử tất yếu đó là những Luật Tạo Hóa bất di bất dịch, khách quan vô tư, những chân lư muôn đời không thay đổi, không thể nào sai.  Niềm tin cuồng nhiệt rằng những qui luật lịch sử tất yếu đó chính là Chân Lư đă khiến cho người Cộng Sản thẳng tay sử dụng mọi phương tiện để đạt cho được cứu cánh mà họ nhắm tới .

 

            Dưới mắt Tố Hữu th́ Stalin quả là một ông già hiền từ nhân hậu, một cây đại thụ đời đời rợp bóng mát ḥa b́nh.   Không phải Tố Hữu quá ngu đến nỗi không biết là Stalin đă giết hơn 20 triệu nông dân Nga trong các đợt tập thể hóa ruộng đất;  nhưng việc tập thể hóa ruộng đất là một qui luật lịch sử tất yếu, việc tàn sát những kẻ chống đối qui luật lịch sử đó là chuyện không thể nào tránh khỏi.  V́ thế dưới mắt Tố Hữu bàn tay đỏ ḷe máu 20 triệu nông dân Nga của Stalin chính là đôi bàn tay đáng yêu đáng kính, đó chính là biểu tượng của Chân Thiện Mỹ.

 

            Thi sĩ Heine có lần đă viết :

 

            "Những ư niệm triết học được nuôi dưỡng trong sự tĩnh lặng nơi căn pḥng làm việc của một giáo sư đại học có thể phá vỡ cả một nền văn minh."

 

            Câu nói của thi sĩ Heine cũng như lời Lăo Tử nói lên tác động sâu xa và lớn lao của văn-hóa  đối với cuộc sống loài người.  Không phải những xe tăng của Liên Xô, những oanh tạc cơ B52 của Mỹ hoặc những khẩu đại pháo của Trung Cộng là những yếu tố then chốt hủy diệt xă-hội Việt Nam.  Yếu tố then chốt tàn phá xă-hội Việt Nam và hủy diệt nền văn minh nhân bản chính là những chủ nghĩa ngoại lai, trong đó chủ nghĩa Mác-xít đă mang lại những tác hại lớn nhất cho dân tộc Việt.

 

            Văn-hóa không phải đến trong một ngày mà từ từ len lỏi và thấm sâu vào tâm hồn mỗi người dân qua nhiều thế hệ.  Văn-hóa cũng không phải đột ngột đổ vỡ như một ṭa lâu đài bỗng nhiên sụp đổ v́ một cơn động đất.  Sự tan vỡ lụn bại của một nền văn-hóa đến thật chậm răi đến nỗi nhiều khi ta khó mà nhận thấy được.

 

            Xin hăy cùng nhau trở về với bối cảnh của nước Việt Nam trong ṿng một trăm năm trở lại, đào sâu vào tâm tư mỗi người dân qua từng thế hệ để t́m hiểu sự đổ vỡ của nền văn minh nhân bản đă khởi đầu ra sao khi có sự va chạm giữa những nền văn hóa dị biệt.

 

            Ngẫm lại th́ câu định nghĩa của thượng tọa Thích Nhất Hạnh ít ra cũng phác họa được vài nét đan thanh giúp ta hiểu được những nét chính yếu thế nào là văn hóa.

 

            Văn-hóa là nếp sống vươn lên Chân Thiện Mỹ của một dân tộc.  Nếu một dân tộc nh́n thấy rơ thế nào là Chân Thiện Mỹ th́ sẽ nỗ lực vươn lên Chân Thiện Mỹ đó.  Khi đó nỗ lực của mỗi cá nhân sẽ ḥa nhập vào sức mạnh của tập thể , biến thành sức mạnh tổng hợp của một dân tộc.  Khi văn hóa thăng hoa nảy nở th́ cũng là lúc sức sống của một dân tộc cuồn cuộn đẩy dân tộc đó tiến lên thật mạnh mẽ.

 

            Văn-hóa chính là chất keo kết hợp ḷng người, khiến mỗi người dân cảm thấy đồng bào ḿnh dính liền với  ḿnh như cùng chung khúc ruột.  Văn-hóa là những tinh hoa của dân tộc được tích lũy và đăi lọc qua nhiều thế hệ.  Văn hóa làm ta yêu mến đất nước ta, dân tộc ta, đồng bào ta , gia-đ́nh ta  và chính bản thân ta.

 

            Nền văn-hóa nhân bản của Việt Nam đă khá ổn định vững vàng qua mấy ngàn năm lịch sử.  Người dân Việt vốn hiền ḥa thuần hậu, biết đùm bọc nhau, thương yêu nhau , nhưng cũng biết quật khởi đứng lên khi bị áp bức.  Tinh thần nhân bản và tinh thần bất khuất đă là nền móng vững chắc nhất để kết hợp toàn dân thành một khối đồng tâm giúp dân tộc Việt tồn tại và phát triển mạnh mẽ sau bao lần bị ngoại bang đô hộ.

 

            Cốt lơi của văn hóa nhân bản Đông Phương nói chung và Việt Nam nói riêng có lẽ chính là vũ trụ quan và nhân sinh quan được h́nh thành dựa trên ba thành tố TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI.  Vũ trụ quan và nhân sinh quan đó giúp cho người dân Việt có những khái niệm uyển chuyển nhưng khá rơ ràng thế nào là Chân Thiện Mỹ.       

  

            Chân  là Đạo của TRỜI.  Chân Lư hay Thiên Lư chính là những Luật Tạo Hóa hoặc Luật Thiên Nhiên chi phối vạn vật, vũ trụ và con người.

 

            Thiện là Đạo của NGƯỜI.  Con người đứng giữa TRỜI và ĐẤT, nối liền TRỜI và ĐẤT.  Con người có một trái tim.  Lương Tâm hoặc Lương Tri giúp cho con người phân biệt Thiện và Ác.

 

            Mỹ là Đạo của ĐẤT.  Đó là những tinh hoa của vạn vật trong vũ trụ, sống động và muôn màu muôn vẻ.

 

            Khi một nền văn-hóa nảy nở thăng hoa th́ mỗi cá nhân trong xă-hội sẽ cảm thấy cuộc sống có ư nghĩa, đất nước và đồng bào mang lại niềm vui cho mỗi cá nhân khiến ta yêu mến.  Nói chung mỗi cá nhân đều cảm thấy xă-hội họ đang sống là một xă-hội  tốt đẹp đáng sống.  Họ yêu mến cuộc sống của chính ḿnh và yêu mến mọi người.

 

            Vũ trụ quan và nhân sinh quan nhân bản rất linh động uyển chuyển giúp cho dân tộc Việt vững tin ở ḿnh và dễ dàng thích ứng với Trời Đất, ḥa hợp với Người.

 

            Tuy thế, mỗi lần có hai hoặc nhiều nền văn-hóa dị biệt gặp nhau th́ xă hội lại gặp một cơn thử thách.  Cơn thử thách đó thường tạo thành những khúc quanh cho ḍng lịch sử của một dân tộc.

 

            Việt Nam vốn là cửa ngơ giao lưu của nhiều nền văn-hóa.  Từ phía Tây nền văn minh Ấn Độ tràn qua; từ phía Bắc nền văn minh Trung Hoa lan xuống, từ phía Nam nền văn minh Chiêm Thành Chân Lạp và Hải Đảo tiến lên.  Xa hơn nữa không ít nền văn minh từ những quốc gia Tây Phương xa xôi t́m đến.

 

            Khi một dân tộc chứng kiến nhiều nền văn hóa gặp nhau th́ có thể xảy ra nhiều trường hợp:  Hoặc là dân tộc đó sẽ được kích thích và tiến lên thật mạnh mẽ , hoặc là xă hội đó sẽ đổ vỡ lụn bại.  Nếu dân tộc đó rút tỉa được những tinh hoa của nền văn hóa ngoại lai ḥa nhập với những tinh hoa của nền văn hóa sẵn có, xóa bỏ được những sai lầm khiếm khuyết trong nền văn-hóa cố hữu, tránh được những cái dở của nền văn minh ngoại lai, khi đó dân tộc đó sẽ tiến lên thật mạnh mẽ.  Đó là trường hợp Nhật Bản vào thời Minh Trị Thiên Hoàng.  Một cách nhẹ nhàng hơn đó cũng là trường hợp dân tộc Việt Nam trước khi có sự va chạm với Tây Phương.

 

            Qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đă chứng tỏ có một tâm hồn thật cởi mở phóng khoáng, một tinh thần bao dung biết dung hợp những tinh hoa của nhiều luồng tư tưởng dị biệt, biến cái hay của người thành cái hay của ḿnh, thán phục người mà vẫn không mất tinh thần tự chủ, học hỏi người mà vẫn tỉnh táo nh́n thấy cái sai của người.

 

            Tinh thần đó đă giúp cho dân tộc Việt rất dễ ḥa đồng với nhân loại mà vẫn giữ được một bản sắc riêng, đầu óc không bị tê liệt mụ mẫm v́ những định kiến, cố chấp.  Tinh thần đó cũng giúp cho dân tộc Việt nối liền quá khứ, hiện tại với tương lai thành một mạch sống liên miên bất tận.  Gắn bó với cội nguồn mà vẫn dốc ḷng hướng tới tương lai; uống nước nhớ nguồn mà nước mắt vẫn chảy xuôi; thờ cúng tổ tiên mà vẫn sống v́ con cái, sẵn sàng làm những rừng mắm ngă xuống cho thế hệ trẻ lớn lên.  Quá khứ, hiện tại và tương lai quyện với nhau thành một mạch sống cuồn cuộn chảy không ngừng.  Nền văn hóa nhân bản đă tạo thành một sức sống thật mănh liệt cho dân tộc Việt.

 

            Nhưng sự hội ngộ của nhiều nền văn hóa dị biệt có khi cũng đưa tới những va chạm đổ vỡ thê thảm.  Đó chính là trường hợp Việt Nam từ hơn một trăm năm nay và nhất là từ khi có sự du nhập chủ nghĩa Cộng Sản.

 

            Khi tiếng súng đầu tiên của đoàn quân viễn chinh Pháp bắt đầu nổ ṛn ră tấn công thành Gia-Định th́ cũng là lúc dân tộc Việt Nam choàng tỉnh dậy như vừa qua một giấc ngủ dài.

 

            Nhiều người Việt bắt đầu có dịp so sánh sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây.  Họ bắt đầu ư thức được sự yếu kém của Ta so với sự hùng mạnh của Người Khác.

 

            H́nh ảnh một nhúm quân sĩ của Henri Rivierre trang bị súng ống cổ lỗ sĩ đủ sức công hăm thành Hà Nội khiến cho những bậc trung thần nghĩa sĩ như Hoàng Diệu phải tuẫn tiết đă làm cho không ít người  mất hết niềm tin vào nền văn hóa nhân bản của dân tộc.  Họ bắt đầu chối bỏ văn hóa của tiền nhân và háo hức chạy theo những nền văn minh ngoại lai.

 

            Họ quên đi rằng khi hai nền văn hóa khác nhau hội ngộ nếu ta tỉnh táo và giữ vững được tinh thần tự chủ th́ đó có thể là một cơ hội vàng son để cả dân tộc tiến lên thật mạnh mẽ.  Bài học DUNG HỢP của tiền nhân đă bị vứt bỏ.  Thay v́ tĩnh tâm suy xét, rút tỉa những tinh hoa trong nền văn hóa của người, đăi lọc và ǵn giữ những tinh hoa trong nền văn hóa của ḿnh, ḥa nhập làm một để dân tộc cùng tiến lên th́ họ đă hoặc vùi đầu xuống cát, hoặc chóa mắt khấu đầu lạy những thần tượng ngoại bang , từ Lamartine, Jean Paul Sartre, Adam Smith  tới Karl Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông.

 

            Trong tất cả những nền văn hóa ngoại lai được du nhập vào Việt Nam th́ văn hóa Mác-xít có tác dụng hủy diệt tàn khốc nhất.  Kết quả là nền văn hóa nhân bản của Việt Nam tàn lụn dần, người Việt trở thành kẻ thù không đội trời chung của người Việt, những tên đồ tể khát máu như Stalin bỗng được đội lên ngồi chễm chệ trên bàn thờ gia-tiên khiến ông bà tổ tiên biến thành những tên địa chủ phú nông gian ác bị con cháu mang ra sỉ vả đấu tố ngơ hầu kiếm được chiếc khăn quàng đỏ tanh hôi mùi máu.

 

            Người dân Việt dường như đă mất hết cội nguồn, mất hết niềm tin vào sức mạnh của dân tộc ḿnh.

 

            Khi văn hóa đă cạn ḍng đứt đoạn th́ sức sống của dân tộc cũng tàn lụi dần.  Thế hệ đi trước vẫn ngă xuống như những rừng mắm, nhưng chất độc Mác-xít đă thấm vào mạch đất hủy hoại hết màu mỡ ph́ nhiêu khiến những mầm non không sao lớn lên được.  Nỗ lực cứu lấy trẻ thơ của những bà già lưng c̣ng tóc bạc trở thành nỗ lực vô vọng.  Trái tim con người đă khô héo.  Bà lăo 80 dù muốn khóc th́ ḍng nước mắt cũng chẳng c̣n để chảy xuôi xuống hai g̣ má nhăn nheo.