Suy Ngẫm Về

Văn-Hóa Nhân Bản

 

 

           Nhân bản chỉ có nghĩa giản dị là lấy con người làm gốc.

 

            Nhưng thế nào là văn-hóa nhân bản ?

 

            Ta có thể diễn tả câu định nghĩa của Thượng tọa Thích Nhất Hạnh "văn-hóa là nếp sống vươn lên Chân Thiện Mỹ của một dân tộc" một cách nôm na rằng văn-hóa chính là nỗ lực của cả một dân tộc đi t́m câu trả lời cho câu hỏi :

 

            Làm sao để sống, sống có hạnh phúc, sống một cuộc đời có ư nghĩa và đáng sống ?

 

            Đó là câu hỏi then chốt liên quan đến cuộc sống con người.  Trên con đường đi t́m câu trả lời cho câu hỏi đó, mỗi dân tộc đă phác họa ra một vũ trụ quan và một nhân sinh quan khác nhau.  Dù cách diễn tả khác nhau, nhưng tựu chung các vũ trụ quan và nhân sinh quan đó cũng phản ảnh tương quan giữa ba thành tố tạo thành vũ trụ, đó là TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI.

 

            Có hai cách nh́n khác nhau.  Trước hết là quan niệm TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI là ba thành tố riêng biệt.  Đó là quan niệm mà người xưa gọi là TAM TÀI HỮU BIỆT.  Theo quan niệm này ĐẤT là VẬT CHẤT, bao gồm muôn vật muôn loài trong vũ trụ.  Đó là thế giới hữu h́nh hữu tướng.  TRỜI là Thiên Lư, Thiên Tính hay những Luật Tạo Hóa chi phối vạn vật trong vũ trụ.  NGƯỜI là Ư chí và Nhận Thức đưa tới mọi hành động của con người.  Ư chí và Nhận Thức đó là kết tinh của sự hợp nhất Tâm, Trí, Dũng trong con người.

 

            Quan niệm thứ hai cho rằng ba thành tố TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI dính liền với nhau, không thể tách riêng ra được.  Đó là quan niệm mà người xưa gọi là TAM TÀI HỢP NHẤT.  Trong cách nh́n này th́ TRỜI ĐẤT và NGƯỜI không sao có thể tách bạch hẳn ra được.  Thật vậy, ngay trong một con người th́ làm sao có thể tách đầu óc chân tay xương thịt ra khỏi nhau được ?  Nếu không có thân thể (Vật chất, hay ĐỊA ), nếu không có máu luân lưu ( Thiên Lư, hay những định luật chi phối cuộc sống) th́ liệu con người có thể gọi là con người được hay không ?

 

            Dù quan niệm Tam Tài Hữu Biệt hay quan niệm Tam Tài Hợp Nhất th́ ta cũng không thể thoát khỏi phải xác định mối tương quan giữa TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI.

 

            Trong ba yếu tố tạo thành vũ trụ đó, yếu tố nào là yếu tố then chốt quyết định cuộc sống con người ?  Cuộc sống con người là do TRỜI, ĐẤT quyết định chăng ? hay do chính con người quyết định ?  Con người sống có hạnh phúc hoặc phải chịu khổ đau là do lỗi ở TRỜI ĐẤT chăng ?  hay do lỗi ở chính con người ?  Con người có tạo được một cuộc sống có ư nghĩa và đáng sống hay không là do TRỜI, ĐẤT sắp đặt chăng ?  hay do chính con người ?

 

            Không ai sống có suy nghĩ mà trong đời không có lần đă tự đặt cho ḿnh những câu hỏi quái ác như vậy.

 

            Văn-hóa nhân bản là một nền văn-hóa lấy con người làm gốc.

 

            Lấy con người làm gốc không có nghĩa là coi con người là cái rốn của vũ trụ, là chủ tể của vũ trụ.  Lấy con người làm gốc chỉ có nghĩa là trong mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống con người th́ chính con người là yếu tố then chốt quyết định.

 

            Trước hết hăy thử bàn về lẽ SINH DIỆT.  Sự sống c̣n của xă-hội loài người là tùy thuộc vào TRỜI, ĐẤT hay tùy thuộc chính con người ?

 

            Xưa kia đă rất nhiều người tin rằng cuộc sống loài người là do ông Trời sắp đặt hết.  Ông Trời là đấng chủ tể của vạn vật.  Đó là mầm mống của thuyết Thiên Ư và Thiên Mệnh.  Từ đó nảy sinh ra ư định đi t́m hiểu Thiên Ư để biết rơ Ư Trời ra sao.  Nhưng muốn biết rơ Ư Trời ra sao th́ có lẽ chỉ có cách duy nhất là bắc thang lên hỏi ông Trời.  Mà ông Trời th́ ở cao quá, muốn lên hỏi ông Trời th́ phải có thang.  Cho tới nay mới chỉ có chú Cuội là lên được tới cung trăng hỏi chuyện chị Hằng Nga.  Ngoài ra c̣n có hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin J.Aldrin  Jr., nhưng hai người này lên tới cung trăng không gặp được chị Hằng Nga.  Vả chăng Hằng Nga cũng chưa phải là ông Trời, mà mặt trăng cũng chỉ mới là một hành tinh của trái đất.  V́ thế cho tới nay vẫn chưa ai biết rơ được Thiên Ư  ra sao.

 

            Cái tệ của thuyết Thiên Ư và Thiên Mệnh là đă có không ít kẻ mạo nhận  ḿnh biết rơ Thiên Ư và Thiên Mệnh.  Thí dụ điển h́nh là các v́ Thiên Tử ở Trung Hoa.  Những v́ Thiên Tử này tự cho rằng ḿnh chịu MỆNH TRỜI để xuống trị v́ trần thế.  Cái Ư Trời do đó chỉ c̣n có nghĩa là ư muốn bắt toàn thể nhân loại cúi đầu phục tùng mệnh lệnh của những v́ Thiên Tử.

 

            Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều của nền văn minh Trung Hoa.  Cũng may không v́ ảnh hưởng đó mà trí sáng suốt của dân tộc Việt Nam bị thui chột hết đến nỗi u mê tin vào thuyết Thiên Mệnh.  Nếu quả thật có một ông Trời chí công vô tư th́ ông Trời đó phải là một ông Trời chung của toàn thể nhân loại chứ không thể chỉ là ông Trời riêng của bất cứ một dân tộc nào.  Những v́ "Thiên Tử" giả mạo đó rút cục rất dễ biến thành những Kiệt Trụ móc tim gan thừa tướng Tỉ Can, hoặc những U Vương đốt lửa núi Ly Sơn để mua lấy tiếng cười của nàng Bao Tự.

 

            Thuyết Thiên Mệnh dù sao cũng là thuyết ở những thời xa xưa, tới nay ít c̣n ai nói tới.  Tuy thế điều  đó không có nghĩa là ở trong thời hiện đại không c̣n những kẻ muốn mạo nhận ḿnh là Thiên Tử.  Dĩ nhiên những ông "Con Trời" ở thời đại mới khôn ngoan và mưu lược hơn những v́ Thiên Tử Trung Hoa rất nhiều.

 

            Karl Marx đưa ra những "qui luật lịch sử tất yếu".  "Qui luật lịch sử tất yếu là ǵ nếu không là những định luật chi phối xă-hội con người ?  Nếu những qui luật lịch sử tất yếu đó được chứng nghiệm th́ đó chính là những luật tạo hóa, hoặc nói theo ngôn từ của người xưa đó chính là Thiên Lư.  Nói theo ngôn từ hiện đại th́ những qui luật lịch sử tất yếu đó, nếu được chứng nghiệm, chính là những định luật khoa học khách quan chi phối cuộc sống con người.

 

            Không may những qui luật lịch sử tất yếu đó chẳng hề được chứng nghiệm.  Bức tường Bá Linh sụp đổ đă khiến cho toàn thể nhân loại bừng tỉnh ngộ để nhận thấy sự giống nhau giữa Karl Marx và những v́ Thiên Tử ở Trung Hoa.  Xưa kia những v́ Thiên Tử ở Trung Hoa vin vào thuyết Thiên Mệnh để biện minh cho cái quyền được chinh phục và thống trị mọi chư hầu.  Ngày nay những người Cộng Sản, từ Karl Marx, Lenin, Stalin tới Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh vin vào những qui luật lịch sử tất yếu để biện minh cho cái quyền chuyên chính của giai cấp vô sản, hoặc nói đúng hơn, quyền thống trị toàn thể nhân loại của một thiểu số chóp bu cầm đầu đảng Cộng Sản.

 

            Văn-hóa nhân bản không nhất thiết là một nền văn-hóa phủ nhận sự hiện hữu của ông Trời.  Ông Trời có hay không có vẫn là một câu hỏi lớn lao cho toàn thể loài người, chưa ai dám quả quyết là ḿnh biết rơ.  Điều mà mọi người biết rơ là nếu ông Trời đó đội mũ cánh chuồn và nói tiếng Trung Hoa th́ vị tất đă là ông Trời của người Việt Nam.  Thượng Đế, nếu có thật và nếu quả là một Đấng Chí Thiện Chí Công th́ phải là ông Trời chung của tất cả loài người.  Nếu cái Thiên Ư chỉ là móc tim gan Tỉ Can để mua vui cho nàng Đát Kỷ, nếu cái Thiên Lư chỉ là những qui luật lịch sử tất yếu được viện dẫn để biện minh cho sự tàn sát hơn 20 triệu nông dân Nga, hoặc sự chôn vùi hàng chục ngàn đồng bào vô tội trong những nấm mồ tập thể ở Huế, th́ cái Thiên Ư hoặc Thiên Lư đó trên thực tế chỉ là những thủ đoạn bịp bợm của những v́ Thiên Tử giả mạo cuồng sát.

 

            Văn-hóa nhân bản sở dĩ lấy con người làm gốc là v́ ư thức rơ rệt được rằng ông Trời hoặc những qui luật lịch sử tất yếu có thể chỉ là những sản phẩm của trí tưởng tượng của con người.  Nếu những sản phẩm đó được ngụy tạo với mục đích lừa gạt mọi người th́ hậu quả có thể là những tai họa khủng khiếp cho nhân loại.

 

            Cũng không ít kẻ cho rằng Vật chất mới là yếu tố then chốt quyết định cuộc sống con người.  Vật chất là cơm gạo, xe hơi nhà lầu, là cái cày, cái máy, là khẩu súng và cũng là miếng thịt heo béo ngậy.

 

            Dău rằng không ai có thể phủ nhận được sự cần thiết của vật chất, không ai phủ nhận rằng nếu không có vật chất th́ cũng không c̣n cuộc sống con người, nhưng khi quá đề cao vai tṛ của vật chất th́ rất dễ dàng biến thành nô lệ cho vật chất.  Điều tai hại hơn nữa là khi có những kẻ đề cao vai tṛ của vật chất chỉ với thâm ư muốn sử dụng vật chất như một công cụ để áp bức chà đạp đồng loại.   Các lănh chúa xưa kia dùng vơ lực đi chiếm đoạt đất đai để sống cuộc đời sa hoa nhung lụa trên xương máu của người nô lệ, các đế quốc thực dân mang quân đi chiếm thuộc địa, và ngày nay những người Cộng Sản dùng chính sách bóp bao tử để trấn áp và kềm kẹp dân lành, tất cả những người ấy trong thâm tâm đều mang một niềm tin thật mănh liệt đến độ cuồng tín vào sức mạnh của vật chất.

 

            Nền văn-hóa nhân bản không hề phủ nhận vai tṛ của vật chất trong việc duy tŕ cuộc sống con người.  Văn-hóa nhân bản chỉ là một nền văn-hóa trong đó con người ư thức được rơ rệt tính cách hữu hạn của vật chất : Vật chất trong thiên nhiên chẳng hề là của kho vô tận, thừa thăi ê hề đến nỗi ai cũng có thể "hưởng theo nhu cầu" bao nhiêu cũng được.  V́ thế mà con người phải đổ mồ hôi ra làm việc quần quật để kiếm sống, v́ thế mà con người phải nát óc t́m hiểu luật tạo hóa để có đủ hiểu biết khoa học kỹ thuật ngơ hầu sử dụng vật chất một cách hữu hiệu và thích đáng, v́ thế mà con người phải chia xẻ với nhau từng chén gạo hạt muối.  Lấy con người làm gốc là biết nương nhau mà sống, biết dùng cái trí để vừa sử dụng vừa nuôi dưỡng thiên nhiên, biết chia xẻ với nhau vật chất hữu hạn để cùng sống với nhau.  Lấy con người làm gốc là không v́ miếng thịt heo béo ngậy mà nỡ băm thai nhi, là không viện dẫn qui luật lịch sử tất yếu để tàn sát đồng loại.

 

            Một nền văn-hóa nhân bản là một nền văn-hóa trong đó con người ư thức được rơ rệt vai tṛ của chính ḿnh giữa Trời Đất.

 

            Văn-hóa nhân bản không hề mang tính cách phủ nhận Ông Trời, lại càng không hàm ư phủ nhận sự hiện hữu của những Luật Tạo Hóa.

 

            Luật Tạo Hóa là có thực, những định luật khoa học khách quan là có thực.  Luật Tạo Hóa chi phối toàn thể vạn vật trong vũ trụ cũng như toàn thể xă hội loài người.  Dù loài người có bị tận diệt th́ những Luật Tạo Hóa vẫn c̣n tồn tại măi măi.  Dù Newton không nghĩ ra những nguyên lư động lực học  mang tên ông th́ những nguyên lư đó vẫn luôn luôn hiện hữu và chi phối vạn vật trong vũ trụ từ khi chưa có loài người, khi có loài người cũng như sau khi loài người đă bị tận diệt.  Điều đó cho thấy con người không thể là chủ tể vạn vật trong vũ trụ, cũng không thể là chủ tể của những luật tạo hóa.

 

            Tuy nhiên nếu không có trí óc con người th́ không ai nhận thức được sự hiện hữu của những luật tạo hóa đó.  Con người là một gạch nối giữa TRỜI và ĐẤT.  Con người đă khám phá ra những Luật Tạo Hóa chi phối vạn vật trong vũ trụ, đă t́m biết những thiên tính của muôn loài muôn vật.  Quan trọng hơn nữa con người đă biết sử dụng những Luật Tạo Hóa đó để biến đổi Vật Chất ngơ hầu duy tŕ sự sống, mang lại hạnh phúc và ư nghĩa cuộc sống cho loài người.

 

            Khoa học Kỹ thuật tự nó đă là một sự kết nối giữa TRỜI ĐẤT và Người.  Khoa học Kỹ Thuật khởi đầu bằng sự khám phá ra tính chất của vật chất và những luật tạo hóa.  Nếu không có con người th́ không có những sự khám phá đó.  Sau nữa chính con người đă biết ứng dụng những hiểu biết của ḿnh về Luật Tạo Hóa để biến đổi vật chất hầu duy tŕ sự sống và tạo hạnh phúc cho nhân loại.  Vai tṛ then chốt của con người chính là chữ DỤNG.  Luật Tạo Hóa là của TRỜI, Vật Chất là của ĐẤT.  Nhờ có chữ DỤNG con người có thể sử dụng Thiên Lư để biến đổi Vật Chất nuôi sống và tạo hạnh phúc cho loài người.

 

            Văn-hóa nhân bản lấy con người làm gốc v́ tuy không ai phủ nhận vai tṛ của TRỜI ĐẤT nhưng nếu không có con người th́ vật chất vẫn chỉ là vật chất vô tri không thể biến thành những dụng cụ hữu ích cho cuộc sống.

 

            Tuy nhiên ư niệm  lấy con người làm gốc c̣n quan trọng hơn nữa khi ta xét kỹ chữ DỤNG của con người.  Khoa học kỹ thuật vừa rất cần thiết cho nhân loại trong thời đại mới, nhưng khoa học kỹ thuật cũng có thể mang lại những nguy cơ lớn lao cho tất cả loài người.  Bom nguyên tử, bom vi trùng, vũ khí hóa học đủ sức tận diệt loài người trong một thời gian ngắn ngủi.  Con người có thể sử dụng những hiểu biết khoa học kỹ thuật để tạo nên những xe tăng nghiền nát người thành bánh tráng ở quảng trường Thiên An Môn.  Sự hiểu biết khoa học cũng giúp cho Hitler lập những ḷ  giết người tập thể tàn sát dân Do Thái.  Tóm lại khoa học kỹ thuật mà không có trái tim th́ sẽ mang lại những hậu quả thê thảm tàn khốc cho nhân loại.

 

            Lấy con người làm gốc là nhận thức rằng sự hiểu biết khoa học kỹ thuật là con dao hai lưỡi.  Nếu không có trái tim con người th́ khoa học kỹ thuật có thể trở thành công cụ cho những bạo chúa duy tŕ guồng máy thống trị biến loài người thành những con giun con dế.

 

            Nền văn-hóa nhân bản chẳng hề là một nền văn-hóa đưa ra sự đối nghịch giữa TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI.  Văn-hóa nhân bản luôn luôn đặt nền tảng trên sự ḥa hợp giữa Trời Đất và Người.

 

            Lấy con người làm gốc là nhận thức rằng Trời và Đất vừa là yếu tố cần thiết cấu thành cuộc sống vừa có thể trở thành những công cụ cho những bạo chúa áp bức đồng loại.  V́ thế cuộc sống loài người c̣n được duy tŕ hay không, hạnh phúc con người c̣n được bảo đảm hay không, cuộc sống con người có ư nghĩa và đáng sống hay không phần lớn tùy thuộc vào TÂM,TRÍ, DŨNG của chính con người.

 

            Văn-hóa nhân bản không những chỉ chú trọng đến tương quan ḥa hợp với TRỜI ĐẤT mà c̣n đặt nặng tương quan giữa người với người.

 

            Văn-hóa nhân bản Việt Nam chẳng hề là một nền văn-hóa đưa con người lên ngồi trên đỉnh cao chót vót của một đống sọ người, cũng chẳng hề là một nền văn hóa biến xương sống con người thành một cọng bún.  Người Việt từ lâu đă hiểu rơ rằng tương quan giữa người và người chỉ tốt đẹp khi ta biết đối xử với nhau bằng cả cái trí sáng suốt lẫn cái tâm thuần hậu.

 

            Đức Huỳnh Phú Sổ có lần đă nói :

 

            "Hăy giữ ǵn cái Trí sáng suốt để khỏi bị kẻ khác lừa, nhưng hăy giữ ǵn cái Tâm thuần hậu để không tính chuyện lừa người khác."

 

            Kẻ bất trí cam tâm cúi đầu làm nô lệ, hoặc tệ hơn, làm ưng khuyển cho kẻ thống trị bạo ngược là những kẻ vừa hèn vừa ngu.  Kẻ trí xảo dùng thủ đoạn quỉ quyệt lừa dối lường gạt đồng bào là kẻ độc ác bất nhân.  Ngu hèn, xảo quyệt, độc ác, bất nhân là những ǵ sẽ xảy ra trong xă hội khi nền văn-hóa nhân bản đă bị tàn phá hủy diệt, khi Tâm, Trí, Dũng đă bị đập ra từng mảnh vụn.

 

            Thiếu chữ Tâm th́ Trí biến thành TRÁ, Dũng biến thành Tàn Bạo Khát Máu.  Thiếu sáng suốt th́ suốt đời ta sẽ thành kẻ bị lừa, chắp tay niệm Phật  mà rớt nước mắt tủi nhục trước nụ cười chế riễu của kẻ đắc thế.  Thiếu dũng khí th́ Bi biến thành Hèn.  Uốn gối khom lưng chẳng hề là đức Từ Bi Nhân Ái.

 

            Cái Trí của những người Cộng Sản nay đă biến thành cái TRÁ, cái dũng của người Cộng Sản nay đă biến thành sự hăm hở của những anh tài xế xe tăng cán người thành bánh tráng, c̣n cái Tâm của những người Cộng Sản Việt Nam th́ nay có lẽ chỉ c̣n là miếng thịt heo béo ngậy thơm phưng phức thúc đẩy anh cán bộ Cộng Sản hăng hái băm thai nhi thật nhiễn trộn với bo bo để nuôi cho heo mau ăn chóng lớn.

            V́ thế mà đất nước Việt Nam vẫn c̣n quá nhiều đổ vỡ tang thương.  V́ thế mà ước mơ dựng lại nền văn-hóa nhân bản vẫn là giấc mơ lớn lao trong ḷng mỗi người dân Việt.