Trời, Đất và Người

 

 

           Văn-hóa là những tinh hoa của một dân tộc được tích lũy và đăi lọc qua nhiều thế hệ.  Những tinh hoa đó kết thành một vũ trụ quan và nhân sinh quan chung cho đại đa số người dân trong nước.  Chính cái vũ trụ quan và nhân sinh quan chung này đă là sợi dây kết nối cả dân tộc lại thành một khối bền vững.  Nhận thức chung về vạn vật, vũ trụ và con người đă tạo  thành một mối đồng tâm khiến trên đại thể cả dân tộc có cùng một nếp suy nghĩ, cùng một cách hành động, cùng một lối cư xử, cùng một cách sinh hoạt.

 

            Văn hóa nhân bản Việt Nam được đặt nền tảng trên những mối tương quan giữa Trời, Đất và Người;  những mối tương quan đó luôn luôn lấy con người làm gốc.

 

            Nét đặc thù của văn hóa nhân bản Việt Nam là ư niệm Trời Đất rất bao la và mông lung khác hẳn quan niệm Thượng Đế của Tây Phương và cũng không giống quan niệm Trời Đất của Trung Hoa.

 

            Thượng Đế, theo quan niệm của Tây Phương, là Đấng Tạo Hóa có quyền lực vô biên đă tạo nên vạn vật trong vũ trụ trong 7 ngày đêm.  Thượng Đế cũng là Đấng Phán Xét tối cao sẽ đưa ra phán xét cuối cùng cho toàn thể nhân loại trong ngày phán xét sẽ tới.

 

            Theo quan niệm Trung Hoa th́ ông Trời chính là Hoàng Thiên Thượng Đế hay Ngọc Hoàng Thượng Đế.  Ngọc Hoàng Thượng Đế đội mũ cánh chuồn ngồi ở thiên đ́nh, có thiên binh thần tướng bao quanh không khác ǵ triều đ́nh các vua chúa dưới trần thế.  Ngọc Hoàng Thượng Đế là ông Trời của riêng dân tộc Trung Hoa, v́ chỉ có hoàng đế Trung Hoa mới được coi là Thiên Tử, nghĩa là con Trời.

 

            Việt Nam không quan niệm ông Trời như vậy.  Cứ xét ông Trời được mô tả trong hai tác phẩm văn học nổi tiếng nhất của Việt Nam là truyện Kiều và Chinh Phụ Ngâm ta sẽ thấy ngay sự khác biệt sâu xa giữa quan niệm Trời Đất của dân tộc Việt Nam  với quan niệm của Trung Hoa và Tây Phương.

 

            Mở đầu truyện Kiều, Nguyễn Du viết :

                                    "Trăm năm trong cơi người ta

                              Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

                                    Trải qua một cuộc bể dâu

                               Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng.

                                    Lạ ǵ bỉ sắc tư phong, 

                              Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen..."                    

 

            Tương tự như vậy, Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm đă mở đầu cuốn Chinh Phụ Ngâm như sau :

 

                                    "Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

                                    Khách má hồng nhiều nỗi truân chiên.

                                    Xanh kia thăm thẳm từng trên

                                    V́ ai gây dựng cho nên nỗi này..."

 

            Ông Trời Xanh, theo quan niệm Việt Nam, không đội mũ cánh chuồn, không mặc long bào, không có thiên đ́nh, không có thiên binh thần tướng bao quanh, và nhất là không có con làm vua dưới trần thế.  Ông Trời Xanh ở trên chín từng mây cao ngất, không biết h́nh dáng ra sao, chỉ được h́nh dung bằng màu xanh thăm thẳm thật mông lung.  Nhờ quan niệm trời xanh bao la và mông lung như vậy, nên Trời Xanh có thể là ông Trời chung của tất cả loài người, không phải của riêng ai.

 

            Chính quan niệm trời đất phóng khoáng rộng răi đó đă giúp dân tộc Việt Nam thoát khỏi những bế tắc tư tưởng của những dân tộc coi Thượng Đế là của riêng của dân tộc ḿnh.

 

            Xét qua tư tưởng loài người th́ Trời Đất bao hàm rất nhiều ư niệm khác nhau chứ không phải chỉ có một ư niệm duy nhất.  Trời có thể là Tạo Hóa, Hóa Công, Hóa Nhi hay Đấng tạo ra vạn vật, vũ trụ và muôn loài.  Trời có thể là Thượng Đế, Đấng Chủ Tể của vạn vật,  Đấng Phán Xét tối cao chí công vô tư, thưởng lành phạt dữ.  Thượng Đế có quyền năng vô biên và ư chí tối thượng.  Trời cũng có thể chỉ là Thiên Lư và Thiên Tính, hay những Định luật thiên nhiên hoặc Luật Tạo Hóa chi phối vạn vật, vũ trụ và muôn loài.

 

            Đất là trái đất nơi loài người sinh sống.  Rộng hơn nữa Đất bao hàm vạn vật trong vũ trụ từ khoáng chất, thảo mộc tới muôn loài sinh vật.  Đất chính là thế giới vật chất hữu h́nh hữu tướng.

 

            Tự thuở có loài người, có lẽ những mối bận tâm lớn nhất của con người luôn luôn vẫn là :  Làm sao để sống ?  Làm sao để sống có hạnh phúc ?  và Làm sao để sống một cuộc đời có ư nghĩa và đáng sống ?

 

            Trên con đường đi t́m lời giải đáp cho ba câu hỏi đó con người hầu như không thể tránh được phải h́nh dung ra mối tương quan giữa Trời Đất và Người.

 

            Sống không phải chỉ là ăn uống, hít thở không khí, sinh con đẻ cái và chờ ngày chết.  Sống bao hàm vô vàn sinh hoạt của con người từ suy nghĩ, làm việc, ẩm thực, vui chơi, cũng như sinh con , nuôi con, dạy con và không biết bao nhiêu sinh hoạt khác.

 

            Nhưng giá thử ta cứ thu về một quan niệm giản lược nhất "Sống nghĩa là chưa chết, sống nghĩa là c̣n tồn tại trên mặt trái đất như một sinh vật" th́ câu hỏi "Làm thế nào để sống ?" vẫn không phải là một câu hỏi dễ trả lời.

 

            Đành rằng ta có thể dễ dàng sống nếu ta luôn luôn có đầy đủ lương thực để ăn, nước ngọt để uống và không khí trong lành để thở.  Nhưng đâu phải tự nhiên mà ta có đầy đủ mọi thức cần thiết cho cuộc sống như vậy ?  Lương Thực từ đâu mà có ?  Nước uống từ đâu mà có ?  Con người không thể sống giữa sa mạc khô cằn mà phải t́m đến những nơi có lương thực và nước uống mới có thể tồn tại.  Xem thế cuộc sống con người luôn luôn tùy thuộc vào thiên nhiên và vạn vật trong vũ trụ.  Không có những điều kiện sống th́ cũng không c̣n sự sống.  Nếu ta coi thiên nhiên và vạn vật trong vũ trụ là Đất th́ chính Đất đă cho ta sự sống.  Đất là vật chất.  Không có vật chất th́ cũng không có cuộc sống con người.

 

            Nhưng Đất, hay vật chất và thiên nhiên, không phải là yếu tố duy nhất tạo nên sự sống.  Nếu không có mưa thuận gió ḥa th́ cây cỏ cũng không thể mọc lên được; trâu ḅ không có cây cỏ tất nhiên cũng phải chết, và do đó con người cũng phải tận diệt.  Mưa thuận gió ḥa có được là nhờ những định luật tuần hoàn trong vũ trụ.  Nước biển mặn không thể dùng để tưới cây, nhưng hơi nước biển bốc lên trời tụ lại thành mây, gặp lạnh đọng lại thành mưa, rơi xuống và làm cho cây cỏ sống được.  Nếu không có những định luật thiên nhiên khiến vật chất luôn luôn  biến dịch luân lưu tuần hoàn th́ cũng không có sự sống.  Hơi nóng mặt trời không truyền được tới mặt đất, máu không luân lưu trong cơ thể, không khí không được hít thở vào ra, thức ăn không được tiêu hóa th́ dù có mặt trời, có máu, có thức ăn, có không khí cũng không c̣n cuộc sống con người.  Nếu ta gọi những định luật biến dịch tuần hoàn chi phối vạn vật trong vũ trụ là Thiên Lư, hay lẽ Trời, hoặc vắn tắt hơn gọi là Trời, th́ Trời chính là một yếu tố then chốt tạo nên nguồn sống.

 

            Từ cái nh́n đó mà từ lâu đa số loài người luôn luôn tạ ơn Trời Đất đă ban nguồn sống cho loài người.  Văn hóa Đông Phương càng nghiêng đậm về mối tương quan thuận thảo giữa Trời Đất và Người.  Đạo sống Đông Phương rút lại chính là đạo sống Thái Ḥa :  ḥa hợp với Trời Đất và ḥa hợp giữa Người với Người.

 

            Thế nhưng không phải ai cũng đồng một quan niệm như vậy.  Thái ḥa có thực là đạo của Trời Đất hay không ?

 

            Thử xét xem trên mặt trái địa cầu, tự cổ chí kim, tự đông sang tây, có lúc nào không có chiến tranh, không có tàn sát, không có chém giết, không có tiêu diệt lẫn nhau để t́m sự sống hay không ?

 

            Con cọp ăn thịt con người và các loài muông thú khác để sống, sài lang ăn tươi nuốt sống cừu non, dưới nước cá lớn nuốt cá bé, trên trời chim ưng chim ó xà xuống bắt gà con, trên mặt đất con mèo ăn thịt con chuột, nước lớn diệt nước nhỏ, người mạnh bắt kẻ yếu làm tôi tớ nô lệ.

 

            Phải chăng luật Tạo Hóa chính là luật "Mạnh Được Yếu Thua", "Khôn Sống Mống Chết", "Ưu Thắng Liệt Bại" ?  Phải chăng muôn vật muôn loài đều tàn sát nhau để mà sống ; kẻ sống sót chỉ là kẻ biết tàn sát không thương tiếc, dù là tàn sát đồng loại hay những sinh vật khác loại ?

 

            Trời có thật là một Thượng Đế chí công vô tư hay không ?  Trời có thật yêu thương tất cả loài người như con cái hay không ?

 

            Khi con người chịu những thảm cảnh tai biến lớn lao th́ niềm tin vào một Thượng Đế chí thiện chí công cũng dễ dàng tan biến.

 

            Xưa kia Lăo Tử đă từng đưa ra nhận định :

            "Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu."  ( Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm )

 

            Sinh vào thời tao loạn, thấy tận mắt những thảm trạng người chết , nhà tan, nước mất, Lăo Tử cho rằng nếu Thượng Đế là một đấng chí thiện chí công th́ đă không để xảy ra những cảnh thê thảm như vậy.

 

            Văn hóa là cái nh́n chung của một dân tộc về vũ trụ và cuộc sống loài người.  Giáo sư Trần Ngọc Ninh đă đưa ra một nhận định rất xác đáng :

 

            "Văn hóa là tất cả những cái khác nhau trong sự sinh hoạt của ta và của họ"

 

            Ta là dân tộc ta.  Họ là các dân tộc khác.

 

            Câu nói của giáo sư Trần Ngọc Ninh hàm ư rằng dân tộc ta trên đại thể có chung một nếp sống, chung một cách sinh hoạt; cách sinh hoạt đó khác với cách sinh hoạt của những dân tộc khác.

 

            Văn hóa Việt Nam nghiêng nhiều về đạo sống Thái Ḥa giữa Trời Đất và Người.  Con người Việt Nam lấy tâm hồn thuần hậu làm căn cốt.  Khi ngoại bang đem quân xâm lược biết đứng lên giành lại nền tự chủ, nhưng khi đánh đuổi hết xâm lược rồi th́ lại lấy chữ ḥa làm căn bản cư xử giữa người với người.  Mạc Cửu là người Trung Hoa, sống ở Trung Hoa không được, nhưng sống ở Việt Nam th́ rất yên b́nh.

 

            Văn hóa đó đă giúp cho dân tộc Việt Nam giữ được nền tự chủ, tạo được một xă hội ổn định yên b́nh và một cuộc sống an vui cho người dân qua nhiều thế hệ.  T́nh yêu tổ quốc thật nồng nàn , t́nh yêu quê hương thật thắm thiết, t́nh yêu đồng bào thật sâu đậm :  đó là những nét nổi bật trong tâm hồn người dân Việt.

 

            Dân tộc ta không thiếu tinh thần cởi mở bao dung.  Trong quá khứ dân tộc Việt đă biết dung hợp nhiều nền văn hóa dị biệt.  Nếu so sánh những cuộc thánh chiến ác liệt ở Âu châu hay những cuộc tàn sát đẫm máu giữa tín đồ Hồi giáo và Ấn giáo ở Ấn Độ với sự ḥa hợp êm ả giữa những tôn giáo khác nhau, từ Phật, Khổng, Lăo, Thiên Chúa giáo, tới Tin Lành, Cao Đài, Ḥa Hảo ở Việt Nam, ta sẽ thấy rơ tinh thần cởi mở bao dung của dân Việt thật không nhỏ.

 

            Tuy nhiên nếu trong quá khứ dân tộc Việt có thể dung hợp nhiều luồng tư tưởng dị biệt mà xă hội không đổ vỡ, có lẽ cũng là v́ những luồng tư tưởng đó có những nét chung có thể thích ứng với nhau và không hoàn toàn xung khắc.  Nét chung đó có thể tóm tắt là tất cả những luồng tư tưởng đó đều hướng Thiện và ngầm chứa đạo Thái Ḥa.  Thêm vào đó văn hóa Việt đă không được h́nh thành từ những tư tưởng cực đoan.  Ông Trời Xanh không có con làm vua dưới trần thế cho nên có thể là ông Trời chung của tất cả loài người.  Người Việt không  thấy cần  phải tranh luận xem ông Trời đó đội mũ cánh chuồn hay quấn khăn Ả rập. Một lư do nữa khiến sự hội hợp nhiều luồng tư tưởng khác nhau ở Việt Nam trong quá khứ đă xảy ra thật êm thấm là nhờ các luồng tư tưởng đó đến rất chậm răi từ tốn, đủ thời giờ cho người Việt suy ngẫm đăi lọc và hấp thu không hấp tấp.

 

            Nhưng khi có sự va chạm với nền văn hóa Tây Phương th́ t́nh thế khác hẳn.  Dân tộc Việt đă chịu một cơn khủng hoảng chưa từng có trong mấy ngàn năm lịch sử.

 

            Cơn khủng hoảng đó chính là những ǵ Erik Erikson, một trong những nhà tâm lư học nổi tiếng trên thế giới hiện nay gọi là "the Identity crisis"  ( tôi tạm dịch là "cơn khủng hoảng bản sắc" hoặc "khủng hoảng cội nguồn" ).

 

            Tai họa lớn lao xảy tới cho dân tộc Việt không chỉ đơn thuần là sự xâm lược bằng vơ lực của người Pháp.  Người Pháp chỉ xâm chiếm nước ta trong ṿng một trăm năm, thời gian đó tương đối ngắn ngủi so với một ngàn năm bắc thuộc.  Hơn nữa trong ṿng một trăm năm đó người Pháp mới chỉ "bảo hộ" mà chưa "đô hộ"; chủ quyền nước ta chưa hoàn toàn mất hẳn.  Nước ta khi đó vẫn có vua và triều đ́nh, chưa đến nỗi biến thành quận huyện của ngoại bang như trong thời bắc thuộc, dù ai cũng biết vua và triều đ́nh đó không có thực quyền.

 

            Tai họa lớn nhất xảy ra khi có sự va chạm với nền văn hóa Tây Phương là nền móng văn hóa Việt Nam đă bị đổ vỡ thê thảm.  Cơn khủng hoảng xảy ra khi người dân trong nước không c̣n tin là ḿnh đúng người ta sai nữa.  Nếu xưa kia quân Minh xâm chiếm nước ta người dân Việt có thể đồng tâm đứng dậy đánh đuổi kẻ xâm lược th́ chính là nhờ niềm tin sắt đá rằng ḿnh đúng kẻ kia sai.  Kẻ kia tàn bạo khát máu, kẻ kia tham lam độc ác; trong khi đó ḿnh là người dân hiền lành lương thiện, ḿnh là đạo quân nhân nghĩa; nhân nghĩa chắc chắn phải thắng bạo tàn.

 

            Vào đời Trần, Nguyên chủ sai Thoát Hoan mang 50 vạn quân sang đánh nước ta.  Khi đó Trần Quốc Tuấn truyền hịch đi các nơi chiêu mộ binh sĩ tất cả vỏn vẹn chỉ được 20 vạn người.  Quân địch mạnh, quân ta yếu; quân địch đông đảo hơn gấp bội, quân ta ít hơn rất nhiều; vậy mà quân ta đă phá tan quân Nguyên, chém đầu Toa Đô khiến Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trốn về Tàu.

 

            Nếu so sánh với trận Francis Garnier đánh thành Hà Nội năm 1873 ta thấy hoàn toàn trái ngược.  Francis Garnier chỉ có 90 quân sĩ, hợp với 90 quân ô hợp của Jean Dupuis, tất cả chưa tới 200 người, vậy mà đủ sức phá tan thành Hà Nội, giết chết pḥ mă Nguyễn Lâm, bắt sống Tổng Đốc Nguyễn Tri Phương.  Nguyễn Tri Phương khi đó có tới 7000 quân tinh nhuệ.          

 

            Tai họa đổ xuống đầu dân tộc Việt khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam không hẳn chỉ đơn thuần là sự "bảo hộ" của ngoại bang.  Tai họa lớn nhất cho dân tộc Việt chính là từ đó người dân mất hết niềm tin vào nền văn hóa của dân tộc ḿnh.  Nếu một nhúm quân sĩ ô hợp của Francis Garnier đă đủ sức phá tan đạo hùng binh của Nguyễn Tri Phương th́ chắc hẳn phải có một nguyên do.  Câu hỏi:"Tại sao người hùng mạnh như vậy ?  Tại sao ta yếu hèn như vậy ?" bắt đầu trở nên nỗi ám ảnh hàng đầu của mọi người dân Việt.  Người Việt bắt đầu không c̣n tin ḿnh là đúng, người khác là sai nữa.  Người Việt bắt đầu thấm thía cảm thấy rằng dường như văn hóa ḿnh, xă hội ḿnh có một cái ǵ sai sót ghê gớm cho nên mới đưa dân tộc ḿnh tới chỗ yếu hèn như vậy.

 

            Từ nỗi ám ảnh đau đớn đó mà có những phong trào Duy Tân, Đông Du, và sau đó có sự du nhập chủ nghĩa Cộng Sản.  Chủ nghĩa Cộng Sản quả thực đă có một hấp lực thật ma quái và một sức tàn phá thật khủng khiếp.

 

            Chủ nghĩa Cộng Sản đă phá nát tương quan ḥa hợp giữ Trời Đất và Người, đă đập vụn đạo Thái Ḥa, nền tảng của văn hóa Đông Phương.

 

            Mũi công phá mạnh nhất của Karl Marx chĩa thẳng vào Trời.  Câu nói bất hủ của Karl Marx "tôn giáo là thuốc phiện" không phải nhằm công kích giới tu sĩ tăng ni hoặc tín đồ mà đích thực là nhằm triệt hạ ông Trời.

 

            Tại sao Cộng Sản cảm thấy cần triệt hạ ông Trời ?

 

            Ông Trời, theo quan niệm của hầu hết các tôn giáo, là Đấng Chủ Tể của vạn vật, chí thiện chí công.  Ông Trời là Đấng Phán Xét tối cao thưởng lành phạt dữ.  Có ông Trời th́ loài người mới biết run sợ không dám làm ác v́ sợ bị trời phạt. Có ông Trời th́ loài người mới nỗ lực hướng Thiện để sống hợp đạo Trời.  Triệt hạ ông Trời đi th́ Thiện Ác cũng không c̣n phân biệt nữa, khi đó con người hành động mà không cần lương tâm, giết người mà không gớm tay, hành hạ đày đọa đồng loại mà không tự cảm thấy tội lỗi, làm mọi điều ác mà không sợ bị trời phạt xuống địa ngục.

 

            Ông Trời có thực hay không vẫn là một câu hỏi lớn cho toàn thể nhân loại, nhưng không ai phủ nhận được là ông Trời trong tất cả mọi nền văn hóa đều được h́nh dung là đấng chí thiện chí công.  Chính v́ lẽ đó mà Voltaire, một trong những người không tin ở Thượng Đế và đă từng mạnh mẽ phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế, rút cục sau nhiều năm suy nghĩ cũng phải thốt ra một câu bất hủ;

 

            "Nếu Thượng Đế không có thực th́ ta cũng cần sáng tạo ra Thượng Đế."

 

            Ḷng tôn kính ông Trời của nhân loại đă là một trở lực lớn lao cho những kẻ  muốn làm ác.  V́ lẽ đó những người Cộng Sản đă nỗ lực chửi trời, mắng trời, hạ nhục trời để "giết" cho được ông Trời.

 

            Khi người Cộng Sản Việt Nam vênh váo chửi trời bằng những câu:

 

                                    "Thằng Trời đứng lại một bên

                              Để cho thủy lợi bước lên làm Trời"

 

         ...th́ không phải chỉ đơn thuần muốn triệt hạ tính cách chí tôn của ông Trời, mà thâm ư chính là muốn diệt cái thiện tâm trong ḷng người.  C̣n ông Trời th́ c̣n có Thiện tâm trong ḷng người, và những kẻ có ác tâm không được tự do để làm ác.

 

            Một mặt triệt hạ ông Trời, mặt khác Cộng Sản hết lời đề cao vật chất

 

.  Đề cao vật chất không phải chỉ v́ vật chất cần thiết cho cuộc sống loài người mà chính v́ thâm ư muốn sử dụng vật chất để khống chế loài người.

 

            Tận cùng trong tâm mỗi người Cộng Sản đều dấu kín một niềm tin cuồng nhiệt rằng chính vật chất tạo nên sức mạnh.  Kẻ nào cướp hết được vật chất th́ sẽ thu tóm hết quyền lực trong tay và sẽ đủ sức khống chế tất cả loài người.

 

            Mao Trạch Đông từng nói: "Quyền lực được tạo lập từ đầu mũi súng".  Đó mới chỉ là một mẩu suy nghĩ của những người Cộng Sản.  Người Cộng Sản tin rằng nếu họ có thể thu tóm hết mọi tài sản thiên hạ trong tay th́ sẽ có thể vĩnh viễn thống trị nhân loại.  Con người bị bóp bao tử sẽ biến thành con giun con dế sẵn sàng khom lưng uốn gối làm tất cả mọi việc ti tiện ngơ hầu có chút cơm hẩm cháo thiu  để sống cho qua ngày.  Kẻ nô lệ sẽ chẳng bao giờ c̣n hy vọng đứng thẳng dậy làm người.

 

            Nhưng sở dĩ chủ nghĩa Cộng Sản tạo thành một hấp lực ma quái giúp họ khống chế được một phần nhân loại trong suốt 70 năm phần lớn là nhờ họ đă khai thác ḷng thù hận ẩn kín trong con người. Ḷng thù hận là động cơ thúc đẩy con người hành động thật cuồng nhiệt.

 

            Cuộc sống con người vốn đầy dẫy khổ đau.  Đâu là nguyên nhân gây ra những nỗi khổ đau đó ?  Hầu hết các tôn giáo đều qui nguyên nhân những nỗi khổ đau đó về chính con người.  V́ ta tham sân si nên ta khổ.  V́ tổ tiên loài người chót phạm tội ăn trái cấm nên loài người khổ.  Lỗi ở ta, tội ở ta.  Muốn diệt hết khổ đau chỉ có con đường tu tập.  Nhưng con đường tu tập thật gian nan vất vả, chẳng phải ai củng đủ nghị lực và kiên nhẫn để noi theo.  Niết bàn ở đâu ?  Thiên đường ở đâu ?  Sao chẳng ai thấy được ?  Nỗi khổ đau của loài người th́ vẫn đầy dẫy trần gian.

 

            Cộng Sản đă lật ngược bài toán, tách loài người làm hai :  Ta và Người Khác.  Ta khổ đau không phải lỗi ở Ta mà lỗi ở Người Khác.  Ta khổ đau v́ có kẻ áp bức Ta, bóc lột Ta, đày đọa Ta.  Giết hết những kẻ đă áp bức ta, bóc lột ta đi hoặc bắt chúng qú phục dưới chân ta, làm nô lệ cho ta là ta sẽ hết khổ đau.

 

            Con đường giải thoát của Cộng Sản thực hấp dẫn và dễ dàng thực hiện khiến không ít kẻ nhẹ dạ tin theo.  Con đường đó chẳng đ̣i hỏi con người phải nỗ lực hướng Thiện, chẳng đ̣i hỏi con người phải lắng nghe tiếng gọi của lương tâm mà chỉ cần khơi dậy ḷng thù hận để GIẾT, GIẾT và GIẾT là đủ để giải thoát khỏi mọi khổ đau.  Từ những nông trường tập thể ở Nga, cuộc cách mạng văn hóa ở Trung Cộng, cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam cho đến những vụ đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn, Tiệp Khắc, Lỗ Mă Ni  đâu đâu ḷng thù hận cũng được khơi dậy thật cuồng nhiệt.

 

            Trên con đường "giải phóng nhân loại" đó, bàn tay những người Cộng Sản đă đỏ ḷe máu đồng bào và đồng loại.  Họ đă biến thành những sinh vật không tim và mối tương quan ḥa hợp giữa Trời Đất và Người cũng bị xóa bỏ.

 

            Người Việt từ trong nước tới hải ngoại vẫn tiếp tục băn khoăn :  Phải chăng nền văn hóa nhân bản đă là nguyên nhân chính khiến dân tộc yếu hèn hay phải chăng ta đă đánh mất một gia tài vô cùng quí báu của tiền nhân để lại ?