Từ Quẻ Bĩ

 

 

Sang Quẻ Thái

 

 

 

           Tập sách nhỏ này thật mỏng manh.  Khi tôi viết tới ḍng này th́ trong thâm tâm tôi nghĩ là chưa viết nổi một phần mười những ǵ định viết.  Khả năng con người thực quá nhỏ bé.  Tôi nghĩ cần nói đôi điều về diễn tiến việc viết tập sách này để độc giả có thể hiểu nổi nỗi khổ tâm của người viết.  Tôi tin rằng có rất nhiều người cũng có ư định viết những điều tương tự như tôi đang viết, nhưng hễ cầm tới bút là lại quẳng ngay đi.

 

            Và sự thật là tôi đă quẳng bút đi rất nhiều lần.  Ư định viết tập sách này đă có từ ngày tôi bị giam ở trại Bù Gia Mập, cách đây 17 năm.  Ngay từ khi vừa đặt chân tới Úc vào năm 1983, tôi vội vă ngồi xuống đem hết tâm trí ra viết được một bản thảo chừng 100 trang viết tay.  Viết xong đọc lại xé nát tập bản thảo.  Sau đó thêm hai lần nữa, mỗi lần viết được vài chục trang, viết xong đọc lại, ngậm ngùi mà vứt vào sọt rác.

 

            Tại sao có chuyện kỳ cục như vậy ?

 

            Tâm trạng tôi có lẽ cũng không khác với tâm trạng của rất nhiều người khác đă được chứng kiến quá nhiều sự thật đau ḷng, nhưng nghẹn ngào v́ không thể diễn tả nổi, và v́ cảm thấy rơ rệt là những điều ḿnh định viết có lẽ cũng hoàn toàn vô ích, viết ra có lẽ chẳng ai thèm đọc, có đọc cũng chẳng ai tin.  Nghĩ ngấm nghía càng thấy lời Lăo Tử là thấm thía :

 

                        "Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri."

                        ( Kẻ biết th́ không nói, kẻ nói là v́ không biết )

 

            Măi tới lần này tuổi đă lớn, sức khỏe mỗi lúc một suy kém, vài tháng trước  khi vào bệnh viện chịu một cuộc giải phẫu, ư thức được cuộc đời quá ngắn ngủi, tôi mới vội vă viết cho xong tập sách này với ư nghĩ rằng cuộc đời ḿnh có lẽ cũng không c̣n dài nữa, thôi th́ viết được chút nào hay chút đó.  Cũng may tập sách nhỏ này đă được viết tới đây mà người viết vẫn c̣n nằm trên giường bệnh.

 

            Thôi nếu cuộc đời ngắn ngủi như vậy th́ thà làm một kẻ bất tri c̣n hơn là làm một kẻ bất ngôn.  Kẻ bất tri là kẻ điếc không sợ súng.  Nhưng biết đâu chẳng có một vài người đọc cảm thông được với những ǵ ḿnh định nói.  Trang giấy thật trắng, ḍng mực xanh thật hiền lành, nhưng chứa đựng trong đó là cả bao nỗi khắc khoải của cả một thế hệ đă chứng kiến quá nhiều chuyện u buồn xảy ra trên đất nước.

 

            Lắng tâm ngồi nghĩ lại bây giờ tôi lần lần hiểu được tâm trạng ḿnh, hiểu được tại sao viết xong rồi lại xé.  Tôi chỉ là một con người, như tất cả mọi người khác, sống trong cơn khủng hoảng niềm tin triền miên của cả một dân tộc.  Tôi chẳng tin tôi đủ khả năng thuyết phục bất cứ một ai.  Vả chăng dường như tất cả mọi người đều phải tự chứng ngiệm trong cuộc sống thực mới t́m ra sự thực.  Vậy th́ cầm bút để làm ǵ ?

 

            Nhưng chính v́ quá thấm thía với cơn khủng hoảng niềm tin chung của tất cả mọi người, cho nên mới có ư nghĩ t́m cách phá vỡ cơn khủng hoảng đó.  Chính ư nghĩ đó đă thúc đẩy tôi viết tập sách này.  Tôi xin kể lại một mẩu chuyện thật về một người đă thấy và đă không thể nói lên điều ḿnh thấy cho bạn hữu cùng nghe.

 

            Người kể câu chuyện này là một người bạn tù đă cùng ở với tôi qua ba trại cải tạo.  Thay v́ dùng tên thực, tôi xin gọi anh ta là Luận để tránh những điều phiền toái có thể xảy ra cho anh nếu anh c̣n ở lại Việt Nam.

            Một buổi chiều chủ nhật chúng tôi đang ngồi trầm ngâm trong một căn nhà tù ở trại Bù Loi, vào khoảng năm 1978.

 

            Một người trong đám chợt khơi chuyện.  Anh ta than rằng bọn ḿnh quá ngu, dân tộc ḿnh quá ngu.  V́ quá ngu nên mới bị lừa.  Nếu không ngu đă không chui đầu vào rọ.  Sao cả mấy trăm ngàn người có thể ngây thơ dễ tin đến thế, cứ tưởng rằng ḿnh sẽ đi học tập mười ngày hoặc một tháng là sẽ được trở về cùng gia đ́nh.  Tất cả chúng ta đều là những kẻ bị lừa v́ quá ngu muội.  Không có lấy một người sáng suốt.

 

            Anh Luận trầm ngâm ngồi nghe.  Măi một lúc sau anh mới chậm răi nói :

 

                        - Không, tôi không bị lừa !

 

            Tất cả chúng tôi giật bắn ḿnh v́ điều anh nói.  Nếu anh ta không bị lừa tại sao anh cũng vô đây ?

 

            Anh Luận ôn tồn kể :

 

            - Tôi biết rất rơ là ḿnh đă chui vào rọ.  Tôi biết rất rơ là chẳng làm ǵ có chuyện học tập 10 ngày hoặc một tháng.

 

            Vào dịp Tết Mậu Thân tôi bị kẹt ở ngoài Huế.  Những ǵ xảy ra ở Huế cũng là những ǵ được lập lại năm 1975.  Cộng Sản nắm được Huế trong một thời gian ngắn, họ ra thông cáo yêu cầu quân nhân công chức của chính quyền Miền Nam ra tŕnh diện.  Chỉ có một số rất ít tin theo hoặc ở thế bất khả kháng đành phải ra tŕnh diện.  Bọn Cộng Sản cấp cho mỗi người một phiếu chứng nhận đă ra tŕnh diện rồi thả về.  Sau đó họ lại ra một thông cáo khác, yêu cầu tất cả mọi quân nhân công chức của chính quyền Miền Nam, dù đă ra tŕnh diện lần đầu hay chưa, đều phải ra tŕnh diện lần thứ hai.  Lại thêm một số người rụt rè ra tŕnh diện, và lại được cấp phiếu chứng nhận rồi thong dong trở về nhà.  Hai ba lần như vậy, đến lần chót th́ những người ra tŕnh diện đông hơn, và tất cả nay đă nằm sâu dưới những nấm mồ tập thể ở Huế.

 

            Tất cả chúng tôi đều bàng hoàng khủng khiếp.  Tôi hỏi anh tại sao anh đă biết rơ như vậy mà không nói với những người thân, và không t́m đường trốn tránh, để đến nỗi rút cục phải chui vào rọ.

 

            Anh Luận buồn bă nói :

 

            - Tôi có nói với vài người thân, nhưng không một ai tin lời tôi nói hết.  Họ nói :  Trước khác bây giờ khác.  Từ đó tôi thấy có nói cũng vô ích, im lặng là hơn cả.  Tôi t́m mọi cách để trốn, không may bị bắt lại.  Thật cứ y như chuyện Trạng Quỳnh !

 

            Nghe anh kể, tôi bồi hồi nhớ tới mẩu chuyện Trạng Quỳnh tôi đă đọc từ hồ nhỏ.

 

            Trạng Quỳnh nổi tiếng là người văn hay chữ tốt.  Một hôm Trạng làm căn nhà ở giữa hồ.  Muốn vào căn nhà đó phải đi qua một cây cầu.  Trạng loan tin ai muốn xem văn Trạng th́ phải nộp một quan tiền.  Thiên hạ háo hức rủ nhau qua cầu vào xem văn Trạng.  Người thứ nhất bước vào căn nhà giữa hồ chẳng thấy văn Trạng đâu chỉ thấy một tấm giấy lớn viết mấy chữ nguệch ngoạc :"Đ. M. thằng nào bảo thằng nào !"

 

            Người đó trở ra, hầm hầm tức giận.  Người đứng ngoài xúm xít hỏi văn Trạng có hay không.  Anh ta đỏ mặt tía tai xửng cồ lên gắt gỏng :

 

            - Làm ǵ có văn với vẻ ! Chỉ có mỗi một câu : "Đ.M. thằng nào bảo thằng nào !"

 

            Người nghe tức giận v́ nghĩ rằng anh ta xấu bụng, biết mà không nói.  Thế là đoàn người cứ lũ lượt kéo nhau vào xem văn Trạng.

 

            Những ǵ xảy ra trong xă hội Cộng Sản cũng y hệt như vậy.  Không biết bao nhiêu người đă bị lừa.  Người bị lừa nói lại cho người khác nghe th́ chẳng ai tin.  Tri giả bất ngôn là như vậy.

 

            Đó chính là cái hiệu lực thần kỳ do áp dụng "cẩm nang" của Lenin mà bác Hồ đă vui mừng đến rơi lệ khi đọc được.  Trí chẳng đủ để người tin, bác Hồ bèn dùng TRÁ lừa người để đạt được cứu cánh quyền lực., và dạy dỗ cho môn đệ làm theo lời bác dạy.  Trong một xă-hội càng nhiều người lương thiện chừng nào càng dễ tin và dễ bị lừa chừng ấy.  Lọt vào một kẻ TRÁ Tào Tháo gian hùng là kẻ TRÁ sẽ làm vua.

 

            Làm sao để gỡ cho dân tộc thoát khỏi một tai họa khủng khiếp như vậy ?  Dùng lư luận chăng ? Dùng giáo dục chăng ?  Vị tất đă có kết quả !  Không thiếu những bậc đại trí thức cũng bị lừa y hệt như những người nông dân chất phác, có khi c̣n tệ hơn nữa.

 

            Trước năm 1975, một trong những trí thức tên tuổi và rất có uy tín là Châu Tâm Luân, giáo sư trường Đại Học Nông Lâm Súc.  Châu Tâm Luân là cháu Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh.  Anh rất thông minh, du học tại Mỹ, đậu bằng Tiến Sĩ về Kinh Tế Nông Nghiệp.  Anh là một con người gương mẫu liêm khiết, sống giản dị thanh bạch.  Tính t́nh anh rất thẳng thắn, dám nói dám làm.  Anh được sinh viên Nông Lâm Súc rất quí mến kính phục.  Rất nhiều sinh viên và giáo chức đại học coi anh như một thần tượng.  Chỉ cần tinh ư một chút là biết ngay anh có khuynh hướng thiên tả, nghĩa là giành nhiều cảm t́nh cho phe Cộng Sản hơn là phe Quốc Gia.

 

            Sau năm 1975, Cộng Sản đưa anh ra làm Phó Chủ Tịch Hội Trí Thức yêu nước, cho anh ra tham quan Hà Nội, rồi Liên Xô, rồi Đông Âu.  Đùng một cái vào khoảng năm 1981 nghe tin anh ta vượt biên tới Thái Lan.  Sao lại có chuyện lạ đời thế nhỉ ?  Chưa ở với Cộng Sản th́ mê Cộng Sản như điếu đổ, đến khi cá đă gặp nước th́ lại vội vàng bỏ chạy, thế là nghĩa làm sao ?

 

            Người viết có hân hạnh quen một người bạn thân của Châu Tâm Luân.  Nghe tin Châu Tâm Luân đă vượt biên, người bạn đó kể cho người viết một điều đáng lẽ phải dấu kín.  Theo lời người bạn đó kể lại, trước khi vượt biên Châu Tâm Luân đă nói với anh ta như thế này :

 

            "Họ tàn ác lắm !  Hở ra một chút là họ giết liền !"

            "Họ" đây là những người Cộng Sản.

 

            Ôi thế th́ ra một giáo sư đại học hay một gă dân quê nào có khác ǵ nhau !  Cũng phải mất một quan tiền mới xem được văn Trạng Quỳnh đấy chứ !

 

            Cho tới nay không ít người Việt vẫn tin rằng dân tộc Việt Nam đang có một tiềm năng phát triển rất lớn.  Vào cái thời Đông Du xa xưa, cụ Phan Bội Châu chỉ mới đưa được vài trăm du học sinh ra ngoài du học, kẻ nào kẻ đó xất bất xang bang, vừa đi làm nghề hớt tóc, thợ hồ, thợ mộc kiếm sống vừa đi học lóm những tinh hoa trong nền văn minh của người.  Học lóm v́ không đủ tiền và đủ điều kiện để xin vào các trường đại học, trung học của họ.  Vậy mà cụ Phan Bội Châu đă gây được một phong trào ái quốc bồng bột, mở mắt cho cả dân tộc.  Ngày nay có từ một tới hai triệu người Việt ở hải ngoại, đầy đủ điều kiện để vào học những trường danh tiếng nhất của những quốc gia tân tiến trên thế giới.  Tiềm năng đó thực quá lớn so với thuở Đông Du, không ai có thể phủ nhận điều đó.  Nhưng cái tiềm năng đó có phát huy được hay không lại là một dấu hỏi lớn.

 

            Người viết xin kể lại hai mẩu chuyện sau đây để độc giả cùng suy ngẫm.

 

            Trong chuyến vượt biên năm 1982, người viết may mắn thoát khỏi gọng kềm Cộng Sản.  Con tàu vượt biên lênh đênh trên biển cả nhiều ngày.  Mỗi ngày khẩu phần của mỗi người trên tàu là một nắm gạo rang và 3 nút chai nước ngọt, ngoại trừ chủ tàu và đoàn thủy thủ bộ hạ.  Họ canh gác lương thực và nước uống rất kỹ.  Rất nhiều người trên tàu bắt đầu kiệt sức lả dần v́ thiếu nước uống.  Người viết th́ gần tới độ hôn mê bất tỉnh.  Trong lúc đó quả thật một ly nước quí hơn một lượng vàng.

 

            May mắn thay chỉ vài ngày sau con tàu vượt biên tới được một dàn khoan dàu thuộc hải phận Nam Dương.  Trên dàn khoan tiếp tế nước uống xuống và chỉ đường cho con tàu đi tiếp.  Tới được dàn khoan chưa phải là đă tới được đất tự do.  Hành tŕnh trước mặt vẫn c̣n dài và chưa ai biết chuyện ǵ sẽ xảy ra.  Có một điều chắc chắn là mọi người trên tàu cũng vẫn cần nước uống như trước.  Người viết xin được một ly nước đầy.  Ôi, ly nước đó sao mà mát rượi.  Đúng là ly nước cải tử hoàn sinh !  Người viết tỉnh táo hẳn, và đủ sức đứng dậy đi ra sau boong tàu.  Ở đây người viết chợt chứng kiến một chuyện, có lẽ rất b́nh thường, nhưng sao trong tim chợt như có ǵ đau nhói.

 

            Hai người đàn bà ngồi chút can nước uống ra gáo giội thoải mái rửa mặt, rửa tay, lau ḿnh mảy, rửa chân và tẩn mẩn kỳ cọ từng ngón chân.

 

            Chuyện đó có lẽ cũng là lẽ thường, một chuyện vặt như thế có ǵ đáng nói đâu nhỉ !  Nhưng bỗng nhiên người viết nghĩ tới ư nghĩa chuyến ra đi và liên tưởng tới gáo nước lă.  Tại sao ḿnh ra đi ?  Ai cũng có thể dễ dàng trả lời :  V́ lư tưởng tự do !

 

            Nh́n can nước hai người đàn bà dùng để rửa chân và nhớ tới những nút chai nước nhỏ xíu đă giúp ḿnh sống sót, người viết bỗng nhiên có ư nghĩ so sánh Tự Do với can nước lă.  Tự Do là ǵ nhỉ ?  Có lẽ nó rất giống với can nước lă.  Nó rất quí v́ có thể cứu sống cả mấy trăm người trong một ngày vượt biên nắng gắt- mỗi người chỉ cần ba nút chai nước nhỏ xíu là đủ thoát chết -  thế nhưng nó cũng có thể chỉ được dùng để rửa đôi bàn chân lem luốc.

 

            Hơn một triệu người Việt hải ngoại hiện nay có rất nhiều Tự Do, khối lượng Tự Do cho mỗi người có thể tính bằng hàng chục hoặc hàng trăm thước khối nước trở lên chứ chẳng phải chỉ bằng một can nước nhỏ.  Chẳng hiểu họ đang dùng lượng nước khổng lồ đó để làm ǵ, hay vẫn chỉ dùng để rửa đôi bàn chân cho sạch ?

 

            Người viết xin kể tiếp một mẩu chuyện khác để cố gắng diễn tả những ǵ thật khó nói nên lời.

 

            Năm 1980, sau một chuyến vượt biên thất bại trở về, người viết lang thang bước trên đường phố như người mất hồn.  Bỗng nhiên giật ḿnh v́ tiếng reo ḥ của một lũ trẻ trên đường phố.  Lũ trẻ chạy theo một người đàn bà, chỉ trỏ và cười rầm rĩ.

 

            Người đàn bà đó mặc một chiếc áo cánh với một chiếc quần đen.  Quần áo rách tả tơi, đến nỗi gần như lơa lồ thân thể.  Bộ ngực gần như phơi trần một nửa.  Quần th́ rách như sơ mướp, hầu như để lộ nguyên vẹn hai cái mông trắng nơn.  Người đàn bà đó tay cầm một cục đá nhỏ giơ cao, dậm dọa cho lũ trẻ tránh xa ra.  Lũ trẻ vô tư cười đùa rầm rĩ cứ bám từng đoàn theo đuôi người đàn bà đó, thỉnh thoảng lại la lên : "Mụ dại ! Mụ dại !"

 

            Người viết đi bên này đường, ṭ ṃ tiến lại gần để xem mặt "mụ dại".  Khi tới bên này đường đối diện với mụ dại, người viết giật thót ḿnh như bị điện giật.  Nào có phải ai xa lạ đâu !  Cô ta chính là em gái một người bạn cũ !  Trước năm 1975 cô ta là một cô nữ sinh viên đại học Saigon, sống với vợ chồng người anh ruột.  Tại sao có thể nên nông nỗi thế này ?

 

            "Mụ dại" ngó sang và chợt thấy người viết, nhận ra người quen.  Cô ta cuống quít lấy tay che ngực che mông và chạy đi mất.

 

            Người viết thẫn thờ đứng lặng.  Một lát sau buột miệng hỏi mấy người đàn bà trên đường phố :  tại sao không ai giúp cô ta một bộ quần áo cũ ?

 

            Một người đàn bà chép miệng nói :

 

            - Bộ quần áo cô ta đang mặc là của tôi vừa cho cô ấy hôm qua.  Tội nghiệp con bé !  Không biết gia đ́nh di tản đi đâu, nhà cửa bị tịch thu hết.  Đêm đêm nó về ngủ dưới gầm cầu thang một chung cư.  Ngay giữa chung cư là một đồn công an.  Mỗi đêm mấy thằng phải gió ṃ ra thay phiên mần thịt con bé.  Chúng nó kháo nhau thằng anh con bé tội nặng lắm, v́ thế mần thịt con bé xong rồi c̣n xé tanh banh ra cho bơ ghét

 

            Tôi biết người anh cô bé.  Anh ta hiện giờ ở Mỹ.  Trước năm 1975 anh ta cũng là một sinh viên đại học.  Một thời, anh ta rất hăng hái hoạt động chống Cộng.  Cái tội của anh ta có lẽ chỉ là như vậy.

 

            Ở nước Việt Nam hiện nay có không biết bao nhiêu người đang chịu những nỗi đau đớn xót xa như thế.  Họ đau đớn tủi nhục mà không nói lên được.  Người bên đường thương họ, nhiều lắm chỉ có thể cho họ một bộ quần áo cũ đủ che thân trong một đêm.  Ôi niềm đau đớn tủi nhục đó đến bao giờ mới dứt ?

 

            Khi ra tới vùng trời tự do tôi vẫn để tâm t́m kiếm người anh cô ta.  Một hôm tôi nhận được lá thư của một người bạn học cũ.  Người bạn học cũ kể chuyện về người anh của cô bé.

            Anh ta hiện giờ khá thành công ở Mỹ.  Kiếm tiền  khá nhiều, địa vị vững chắc, hào hoa phong nhă, gái bu theo đông như kiến.

            Từ đó tôi bỏ hẳn ư định t́m kiếm để kể cho anh ta nghe những ǵ đă xảy ra cho người em gái c̣n ở lại.  Nói với một người không tim th́ ích ǵ !

            Và cũng từ đó tôi ư thức được thật rơ rằng chẳng phải chỉ lật đổ được chính quyền Cộng Sản để thay thế bằng một chế độ "kinh tế thị trường" là đủ tạo cho xă-hội Việt Nam thành một xă hội đáng sống.  Có lẽ ta phải làm một cái ǵ hơn thế nữa.

 

            Niềm hy vọng của tôi chỉ là ước mong rằng Luật Phản Phục trong Kinh Dịch được chứng nghiệm.  Luật Phản Phục có được chứng nghiệm th́ mới có hy vọng Bĩ cực Thái lai.

 

            Luật Phản Phục đó đă được Lăo Tử diễn tả trong một câu hết sức kỳ quặc quái dị :

 

            "Quốc gia loạn hữu trung thần, phụ bất từ sinh hiếu tử"

 

            Câu nói đó phá vỡ rất nhiều lư thuyết giáo dục đang được đề cao và phổ biến khắp nơi trên thế giới hiện nay, nhất là những lư thuyết dựa trên thí nghiệm "con chó, tiếng chuông và miếng thịt" của Pavlov.  Con người bị điều kiện hóa lẽ ra phải thuần phục như con chó của Pavlov chứ sao lại phản ứng ngược lại ?

 

            Cái ư nghĩ "kỳ quặc" của Lăo Tử có thể diễn tả như thế này :

 

            Hễ một xă-hội càng xấu xa tồi tệ chừng nào, hễ con người trong xă-hội càng độc ác bất nhân gian trá quỉ quyệt chừng nào th́ sự tương phản giữa Thiện Ác càng rơ rệt chừng đó.  Chính v́ nh́n thấy cái độc ác bất nhân quá lộ liễu mà ḷng khát khao một xă-hội thuần lương trở nên mỗi lúc một mạnh mẽ.  Chính v́ thấy khắp nơi đầy dẫy những kẻ gian trá quỉ quyệt mà ḷng khao khát một xă-hội trong đó con người có thể đối xử tử tế thành thật với nhau mỗi lúc một thiết tha lớn mạnh.  Đó là Luật Phản Phục được đề cập tới trong Kinh Dịch.

 

            Tôi không tin rằng đa số người dân trong xă-hội có phản ứng như vậy.  Ta phải nh́n nhận rằng nói chung Độc Ác sẽ sinh Độc Ác, Dối Trá sẽ sinh Dối Trá, Xảo quyệt sẽ sinh Xảo quyệt.  Hễ anh lừa tôi th́ tôi sẽ nghĩ cách lừa lại anh.  Đó là cái luật chung của xă-hội.  V́ thế đất nước Việt Nam mới tang thương đổ nát như ngày nay.

 

            Nhưng tôi tin rằng trong mọi hoàn cảnh trong một xă hội luôn luôn có những trái tim trong sáng không bị vẩn đục, luôn luôn có những trí óc tỉnh táo sáng suốt, những con người có sức mạnh hiền ḥa nhưng không ai có thể khuất phục nổi.  Những con người đó sẽ đốt lên ngọn lửa Từ Bi dũng cảm, soi đường cho cả dân tộc.  Khi bóng tối của u mê đă phủ ngập quê hương th́ ngọn lửa Từ Bi sẽ bừng sáng dậy và đủ sức cảm hóa cả triệu người đang trầm luân trong biển khổ.

 

            Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Đan Quế, Phùng Quán, Trần Dần, Trần Văn Thủy chỉ là một vài người trong số những con người có tấm ḷng cao quí đó.  Ta biết tới họ v́ may mắn ta được nghe lời họ nói.  Nhưng chắc chắn c̣n vô số những tấm ḷng cao quí như vậy ở Việt Nam mà ta chưa biết tới.

 

            Càng bị áp bức những con người có lương tri càng trổi dậy, càng đối diện với Độc Ác những con người sáng suốt càng hướng về Thuần Lương, càng phải đối phó với xảo quyệt trí trá những người có Thiện Tâm càng quay về với ḷng Thành Thật.  Dĩ nhiên rằng những người có trí sáng suốt và tấm ḷng thiết tha đối với đất nước như thế hiện nay vẫn c̣n tương đối ít, nhưng cái Tâm của họ, cái Trí của họ, cái Đức của họ rồi đây sẽ tỏa rộng và thấm nhuần khắp nơi.  Nhờ có những con người như thế rồi đây Việt Nam mới có hy vọng phục hồi lại nền văn hóa nhân bản.

 

            Những tinh hoa của một nền văn hóa cũng chỉ giống như chén nước lă, quí biết bao, nhưng cũng giản dị biết bao !  Phùng Quán, Trần Dần chỉ nói tới ḷng Thành Thật, Trần Văn Thủy chỉ kể chuyện Tử Tế, Nguyễn Chí Thiện chỉ giơ cao chiếc tă trắng tinh khiết, Nguyễn Đan Quế chỉ dựng bảng "Cao Trào Nhân Bản".  Ḷng Thành Thật, chuyện Tử Tế, chiếc Tă Trắng, Cao trào Nhân Bản, đó là tất cả những ǵ thật mộc mạc nhưng đă  tạo nên những tấm ḷng Việt Nam cao quí, những tâm hồn thuần hậu, hiền ḥa nhưng bất khuất là những nhân tố của một nền văn-hóa nhân bản.  Nền văn hóa đó đă từng là chất keo kết hợp ḷng người khiến cả dân tộc kết với nhau thành một khối.

 

            Tiếc thay những tinh hoa của nền văn-hóa nhân bản vốn rất mộc mạc đơn sơ nên ít người hiểu được giá trị v́ thế đă có lúc bị mọi người bỏ quên chỉ dùng làm nước rửa chân.  Ông cha ta chắc đang ngậm ngùi nơi chín suối.

 

            Tôi ước mong rằng sau mấy thập niên ê chề tủi nhục với thân phận bị làm con vật thí nghiệm cho thí nghiệm của Pavlov, hoặc để thí nghiệm những chủ nghĩa ngoại lai, sẽ có một ngày người Việt khước từ thân phận làm chó ngựa để cùng nhau đứng dậy làm người.

 

            Ngày ấy sẽ là ngày đất nước Việt Nam được thấy quẻ Bĩ biến sang thành quẻ Thái.

 

                                                                              Úc Châu, 31.03.1994

                                                                                      Kim Bằng