Thiên Lư

 

 

 

            Mặc cảm tự ti là bước khởi đầu dẫn tới sự suy sụp toàn diện con người.  Mất niềm tin vào văn-hóa dân tộc cũng là bước khởi đầu đưa tới sự sụp đổ toàn bộ xă-hội.

 

            Nh́n lại buổi giao thời, tĩnh tâm suy xét kỹ nhiều khi ta nửa muốn khóc nửa muốn cười.  Nhiều vấn đề một thời gây ra tranh căi sôi nổi tưởng như rằng đó là vấn đề sinh tử của một quốc gia, nay có khơi ra chắc chẳng c̣n một ai thèm góp ư.

 

            Vào thời phong trào Duy Tân đang lớn mạnh, ai cũng háo hức "theo mới, bỏ cũ".  Cách giản dị nhất để chứng tỏ ḿnh dứt khoát theo mới là cắt phăng mái tóc trên đầu.  Phong trào cắt tóc ngắn trở thành biểu tượng của phong trào Duy Tân. Cắt tóc là duy tân, là yêu nước.  Ở Hà Nội một thời đi đâu cũng nghe có người hát bài "Húi hề !":

 

                                                "Tay  trái cầm lược,

                                                  Tay phải cầm kéo,

                                                  Húi hề ! Húi hề !

                                                  Thủng thẳng cho khéo.

                                                  Bỏ cái ngu này,

                                                  Bỏ cái dại này.

                                                  .........................

                                                  .........................

                                                  Ngày nay ta cúp,

                                                  Ngày mai ta cạo."

 

            Và như thế là cả một dân tộc đă đua nhau cắt tóc ngắn, để bỏ cho được cái dại cái ngu.  Các chị em phụ nữ cũng không thua kém các bậc nam nhi, cắt phăng mái tóc dài óng ả trên đầu để uốn  quăn cho hợp với thời đại mới.

 

            Thế rồi  thời gian qua, nước Việt Nam mở rộng cửa nh́n ra thế giới bên ngoài.  Người Việt có nhiều dịp gặp gỡ người Âu Mỹ hơn.  Chắc hẳn không ít người Việt đă ngạc nhiên v́ người Tây phương có nhiều ư tưởng khác lạ quá, táo bạo quá, nhất là giới trẻ.

 

            Một thời giới trẻ Âu Mỹ đă làm cho những bậc cha mẹ già nua hủ lậu phải tức điên lên v́ những hành vi thác loạn của họ.  Ai đời thanh niên thiếu nữ ǵ mà không chịu cắt tóc ngắn gọn gàng tề chỉnh như con nhà gia giáo mà lại để tóc dài xơa ngang lưng.  Có cậu táo bạo hơn, không những đă để tóc dài mà c̣n búi thành búi tó củ hành y hệt như ở Việt Nam vào cái thời cổ lỗ xa xưa.  Dưới mắt các cụ già bảo thủ Tây phương th́ lũ trẻ đă "mới" quá trớn.  Dưới mắt giới trẻ Tây phương th́ cha mẹ họ nay đă quá lạc hậu lỗi thời, cứ bám víu măi vào cái "hủ tục" cắt tóc ngắn của cái thời thất thập cổ lai hi.

 

            Ngẫm lại th́ không có cái dại nào bằng cái dại nào.  Giá mà các cụ già hủ lậu Việt Nam xưa kia đừng vội cắt búi tó củ hành trên đầu th́ nay có lẽ đă trở thành những người đi tiên phong trong phong trào đổi mới duy tân cho giới trẻ ở Tây Phương !

 

            Niềm tin hấp tấp vội vàng rằng chỉ cần cắt tóc ngắn là đă trút sạch được mọi hủ tục và hấp thu hết những tinh hoa của nền văn minh Âu Mỹ rút cục đă chỉ giúp dân ta học được nghề hớt tóc mà không đủ giúp dân ta thu nhập những tinh hoa của người.

 

            Nhưng cái răng cái tóc mới chỉ là một góc con người.  Cái dại của con người đâu chỉ giới hạn vào cái răng cái tóc !  Cái dại cũng không chia biên giới, người Việt Nam không độc quyền giành hết cái dại của loài người.  Như Voltaire giành gần hết cuộc đời đả kích sự hiện hữu của Thượng Đế, đến cuối đời suy ngẫm lại mới biết ḿnh hố và buột miệng thốt lên; "Nếu Thượng Đế không có thật th́ ta cũng nên sáng tạo ra Thượng Đế".

 

            Cái nhiệt t́nh của người  Cộng Sản muốn "giết" ông Trời cũng vậy.  Tỉnh ra có lúc họ sẽ ngỡ ngàng tự hỏi:  Ông Trời là mê tín hay chính họ mê tín ?

 

            Nếu họ cho rằng ông Trời là Ngọc Hoàng Thượng Đế th́ quả thực ông Trời là mê tín.  Ngọc Hoàng Thượng Đế đội mũ cánh chuồn chỉ là cái h́nh ảnh mà các ông con Trời đă sáng tạo nên trong trí tưởng tượng phong phú của họ để h́nh dung Đấng Chủ Tể của vạn vật.  Đấng Chủ Tể đó có thực hay không là một điều chưa ai dám khẳng định là ḿnh biết rơ.  Dău sao h́nh ảnh Ngọc Hoàng Thượng Đế quả nhiên đă có thực trong trí tưởng tượng của đa số người dân Trung Hoa.  H́nh ảnh đó có nên có hay không th́ xin hỏi lại đại văn hào Voltaire.

 

            Nhưng nếu những người Cộng Sản hiểu được rằng Trời cũng có thể là Thiên Lư hay những Luật Tạo Hóa chi phối vạn vật, vũ trụ và con người th́ có một lúc nào đó họ sẽ giật ḿnh tự hỏi:  họ có thực đă tỉnh táo chống lại ông Trời hay thực ra họ đă cuồng tín tin theo một vài "qui luật lịch sử tất yếu" mà họ đă sáng tạo ra y hệt như những kẻ mê muội đă tin cái mũ cánh chuồn tưởng tượng của Ngọc Hoàng Thượng Đế là có thực ?  "Qui luật lịch sử tất yếu" là ǵ nếu không là những định luật chi phối vạn vật, vũ trụ và con người ?  Khách quan mà nói những "qui luật lịch sử tất yếu" đó, nếu có thực, th́ chính là những ǵ mà mọi người gọi là Thiên Lư, hay Luật Tạo Hóa.  Mê muội tin theo những "Thiên Lư" do ḿnh tưởng tượng ra, trong lúc đồng thời t́m mọi cách để triệt hạ Thượng Đế : người Cộng Sản đă tự  mâu thuẫn với chính họ từ căn bản của tư tưởng.

 

            Karl Marx t́m ra cái chân lư muôn đời không thay đổi là "mâu thuẫn sinh tiến hóa".  Chẳng hiểu cái chân lư đó có được bao nhiêu phần sự thật, nhưng trong trường hợp những người Cộng Sản, cái chân lư đó thường khi chỉ khiến họ nghĩ quẩn v́ luôn luôn tự mâu thuẫn với chính họ.  Mâu thuẫn, trong trường hợp đó chỉ sinh ra bế tắc chứ chẳng hề sinh ra tiến hóa.

 

            Không phải tự nhiên mà từ khi có loài người, nhân loại luôn luôn suy nghĩ miên man về Trời Đất.  Tự thuở có loài người con người đă đủ trí khôn để nhận thấy vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến dịch, những biến dịch đó dường như luôn luôn bị chi phối bởi những định luật thiên nhiên.  Trong trí nghĩ con người h́nh như vũ trụ phải có một hệ thống điều lư hoặc một bàn tay vô h́nh sắp đặt.  Óc tưởng tượng phong phú đă khiến con người h́nh dung ra sự hiện hữu của một Đấng Chủ Tể vạn vật.  Đi thêm một bước nữa, con người h́nh dung Đấng Chủ Tể chí tôn đó theo h́nh ảnh của chính con người.  Đấng Chí Tôn đó ta không thể khẳng định có hay không có thực.  Dău sao sự hiện hữu của Đấng Chí Tôn đó dù chỉ trong trí tưởng tượng của loài người cũng rất cần thiết và hữu ích.  V́ tin rằng có một Đấng Thượng Đế chí thiện chí công mà con người ngước mặt nh́n lên nỗ lực hướng Thiện, xa lánh cái Ác.  Nếu không có ông Trời th́ Thiện Tâm trong con người cũng biến mất.  Đó chính là ư nghĩa thâm trầm trong câu nói của Voltaire.

 

            Vào khoảng tháng 7 năm 1969 cả thế giới hầu như rung chuyển v́ một trong những biến cố lớn lao nhất của nhân loại:  hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin J.Aldrin Jr. lần đầu tiên đặt chân lên mặt trăng.  Bước chân nhỏ bé của hai phi hành gia đó trên mặt trăng đánh dấu một bước tiến lớn lao của loài người.  Thế nhưng khi bước vào không trung, nh́n thấy vũ trụ quá bao la, con người quá nhỏ bé, Neil Armstrong đă bồi hồi cảm khái thấy rằng cái biết của loài người chỉ là một hạt bụi so với cái không biết bao trùm vạn vật trong vũ trụ.  Những điều ǵ con người đă làm quả thật c̣n quá nhỏ nhoi so với những ǵ hóa công đă tạo ra.  Từ đó, Neil Armstrong không cảm thấy cao ngạo v́ đă làm được một việc vĩ đại chưa từng có là đặt chân trên mặt trăng mà chỉ thấy niềm tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế là xác đáng.

 

            Những nhà bác học đă cống hiến những hiểu biết quí báu nhất cho loài người như Einstein, Pascal th́ luôn luôn thành thực thú nhận là cái biết của họ thật nhỏ nhoi so với những điều họ chưa biết.  Chỉ có những bậc "Đỉnh cao trí tuệ loài người" trong xă-hội Cộng Sản Việt Nam vừa đào được vài đường mương dẫn bùn hôi hám đă vội vênh váo ngạo mạn hỏi:  "Thằng Trời, mày có làm được công tác thủy lợi như tao không ?".  Sự ngu đần thường đi đôi với óc cao ngạo; phải chăng đó chính là "qui luật lịch sử tất yếu" mà người Cộng Sản Việt Nam đă dùng để đưa một dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến xuống hàng một trong những nước nghèo nàn lạc hậu nhất trần gian ?

 

            Sự hiện hữu của một Đấng Chí Tôn chủ tể của vạn vật đ̣i hỏi con người phải có đức tin.  Đó là lănh vực của các tôn giáo.  Kẻ viết bài này tự xét không sao đủ hiểu biết để lạm bàn.  Tốt hơn hết là quay về với những ǵ mà loài người có thể biết được, có thể kiểm chứng được; những điều đó dù ta gọi là Thiên Lư, Thiên Đạo, hay giản dị hơn là những Luật Thiên Nhiên chi phối vạn vật, vũ trụ và con người, th́ có lẽ khó ai có thể phủ nhận được.

 

            Nh́n dưới nhăn quan đó th́ trước hết tất cả mọi định luật khoa học mà loài người khám phá được nếu được chứng nghiệm đều là Thiên Lư.

 

            Định luật Archimedes đặt nền tảng cho khoa thủy tĩnh học, cắt nghĩa tại sao một vật thả vào trong một lưu chất lại nổi.  Định luật đó có thể phát biểu như sau :  Khi một vật thả trong một lưu chất hoặc hoàn toàn bị lưu chất phủ ngập hoặc chỉ bị phủ ngập bán phần cũng mất trọng lượng.  Trọng lượng bị mất- cũng có thể coi như lực của lưu chất đẩy vật nổi lên- bằng với trọng lượng của khối lưu chất bị dời chỗ.

 

            Định luật Archimedes, cũng như vô số những nguyên lư, định đề, định lư trong mọi nghành khoa học, như nguyên lư động lực học của Newton, định đề Euclide, vv... đều là những Luật thiên nhiên chi phối vạn vật, vũ trụ và con người.  Nói khác đi, đó chính là những Thiên Lư.

 

            Cái nh́n cởi mở khách quan như vậy sẽ giúp ta phá bỏ được rất nhiều định kiến đă là hố sâu chia cắt loài người tạo nên vô số bế tắc tư tưởng của nhân loại.  Mâu thuẫn giữa khoa học và Thiên Lư tự nhiên sẽ tan biến.  Mâu thuẫn giữa Đông và Tây, Cổ và Kim cũng sẽ không c̣n nữa.  Ta sẽ đủ b́nh tâm để suy xét và t́m hiểu đâu là những luật thiên nhiên chi phối vạn vật, vũ trụ và con người và kiểm chứng xem những luật đó có thực phù hợp với những ǵ loài người chứng nghiệm được hay chỉ là những sáng tác do trí tưởng tượng phong phú của loài người .

 

            Tuy nhiên những định luật khoa học chỉ mới là một phần của Thiên Lư mà không phải là tất cả Thiên Lư.  Định luật Archimedes có thể giúp ta hiểu được tại sao một vật thả trong nước lại nổi, nhưng không sao cắt nghĩa được tại sao con người không thể sống măi để cùng Trời Đất trường tồn bất diệt;  định luật Archimedes cũng không thể cắt nghĩa tại sao con người lại giết nhau như ngóe.  Có muôn ngh́n ức triệu câu hỏi "Tại sao ?" được đặt lên trong đầu óc con người.  Những tư tưởng gia lớn của nhân loại  đă để hết cuộc đời suy ngẫm để t́m ra những Luật Thiên Nhiên có tính cách bao quát hơn những định luật khoa học như định luật Archimedes.

 

            Những Luật Thiên Nhiên có tính cách bao quát đó bao trùm lên vạn vật, do đó rất khó diễn tả chính xác bằng lời.  Nhưng những Luật Thiên Nhiên bao quát đó lại có ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với mọi suy nghĩ và hành động của nhân loại.

 

            Ở Đông Phương ba luồng tư tưởng lớn nhất là Phật Lăo Khổng đă gặp nhau ở Luật Vạn Vật Vô Thường hay Lẽ Biến Dịch Tuần Hoàn trong vũ trụ.

 

            Luật Vạn vật vô thường hay lẽ Biến Dịch Tuần Hoàn của Vạn Vật trong vũ trụ đó hàm ư rằng vạn vật trong vũ trụ đều luôn luôn biến đổi không ngừng.  Thành Trụ Hoại Không là luật Vạn Vật Vô Thường của nhà Phật.  Doanh Hư Tiêu Tức là lẽ Biến Dịch được đề cập tới trong Kinh Dịch.

 

            Từ lẽ Biến Dịch hay luật Vạn vật Vô Thường đó con người có thể rút ra không biết bao nhiêu hệ luận khác nhau để ứng dụng vào cuộc sống loài người.

 

            Có người đi đến kết luận rằng danh lợi , địa vị, tiền tài cho tới quyền lực đều chỉ là phù du hết; tranh đua cho lắm rút cục chết cũng thành đống xương khô; những đau khổ phiền năo của con người chỉ là do tham sân si mà ra cả.  Diệt hết tham sân si là diệt được khổ; diệt được khổ th́ loài người sẽ được sống an vui trong thanh tịnh đại hải, sẽ t́m được niềm vui vĩnh cửu.

 

            Có người cho rằng luật Biến Dịch hàm ư rằng xă-hội luôn luôn PHẢI đổi mới.  Tất cả những ǵ Cũ đều là xấu xa hủ bại, tất cả những ǵ Mới đều là ưu việt tốt đẹp.  Do đó xă-hội loài người luôn luôn PHẢI biến dịch, PHẢI đổi mới, PHẢI cách mạng.  Không có biến dịch, không có đổi mới, không có cách mạng th́ xă hội sẽ đứng ́ một chỗ, sẽ lụn bại, sẽ bị tiêu diệt.

 

            Lư luận người nào thoạt nghe cũng rất hữu lư, nhưng ngẫm cho kỹ lại thấy chứa đựng không biết bao nhiêu điều nghịch lư.

 

            Nếu ta tin chắc chắn rằng vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến dịch không ngừng th́ xă hội hôm nay, dù ta không muốn thay đổi, cũng đâu c̣n là xă hội ngày hôm qua ?  Biến Dịch nếu đă là định luật tất yếu của tạo hóa th́ con người làm sao cản lại được ?  Những người lớn tiếng hô hào "đổi mới" đă vô t́nh thú nhận rằng họ bất măn về t́nh trạng "đứng ́ một chỗ không nhúc nhích" của xă-hội hiện hữu, và do đó mặc nhiên phủ nhận tính cách xác thực của Luật Biến Dịch.  Nếu vạn vật luôn luôn biến dịch không ngừng th́ hô hào đổi mới chỉ là hô hào làm những chuyện đương nhiên sẽ xảy ra, muốn tránh cũng không được.  Đă hô hào "đổi mới" tức là mặc nhiên cho rằng không phải tất cả vạn vật trong vũ trụ lúc nào cũng thay đổi.

 

            Vậy Luật Biến Dịch hay Vạn Vật Vô Thường đúng hay không đúng ?  Liệu rằng trong vũ trụ có ǵ luôn luôn bất biến, không bao giờ thay đổi hay không ?

 

            Có chứ !  Ít ra th́ cũng có một cái không bao giờ thay đổi:  đó chính là Luật Vạn Vật Vô Thường hay Lẽ Biến Dịch.  Nếu Luật Vạn Vật Vô thường đó cũng có tính cách vô thường, nghĩa là hôm nay đúng ngày mai có thể sai, th́ có nghĩa là ngày mai ta có thể t́m được một vài hoặc rất nhiều sự vật trong vũ trụ không tuân theo định luật đó, nghĩa là không luôn luôn biến dịch, cứ đứng ́ một chỗ không nhúc nhích, cứ bất biến cùng thời gian.  Chỉ khi nào Luật Vạn vật Vô Thường đó không bao giờ thay đổi, vĩnh viễn đúng ở mọi nơi, trong mọi trường hợp, trong mọi thời đại th́ ta mới có thể nói đó là Luật Tạo Hóa.

 

            Trớ trêu thay, như vậy là ta đă mặc nhiên công nhận hai điều đối nghịch có thể đồng thời hiện hữu :  Lẽ Biến Dịch và lẽ Bất Dịch, hoặc Luật Vạn Vật Vô Thường và luật Chân Thường Bất Biến.

 

            Từ nhận thức đó nảy ra một câu hỏi khác cũng nhức óc không kém :  Mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ có tính cách Thuần Lư ( rational ) hay không Thuần Lư ( irrational ) ?  Cho rằng mọi hiện tượng xảy ra trong vũ trụ đều có tính cách Thuần Lư có nghĩa là hễ cái ǵ đă ĐÚNG th́ không thể đồng thời lại SAI.  ĐÚNG và SAI không thể đồng thời hiện hữu.

 

            Đó chính là căn bản của khoa toán học.  Dường như rằng Descartes đă đặt nền tảng cho khoa toán học  bằng suy luận chắc nịch sau đây :

            Nếu A / B th́ không thể đồng thời A = B

            ĐÚNG khác SAI, cái ǵ đă đúng th́ không thể đồng thời lại SAI.  Nếu đó quả là chân lư th́ vũ trụ và xă-hội loài người đă vận hành một cách rất thuần lư.  Nhưng nếu vũ trụ vận hành một cách thuần lư th́ ta làm sao giải thích được sự hiện hữu đồng thời của Luật Vạn Vật Vô Thường và Luật Chân Thường Bất Biến ?  Vũ trụ chỉ thuần lư khi một trong hai chân lư đó biến mất.  Nhưng nếu Luật Vạn Vật Vô Thường không có tính cách Thường Hằng Bất Biến th́ tự nó cũng không c̣n tồn tại.  Có cái nọ th́ phải có cái kia, không cái nọ th́ cũng không có cái kia.  Có Luật Chân Thường Bất Biến th́ mới có Luật Vạn Vật Vô Thường.  Nói theo Chu Dịch:  chính cái Bất Biến chỉ huy cái Biến.

 

            Từ câu hỏi "Thuần Lư hay không Thuần Lư ?" loài người lại tách thành hai. 

 

            Xă-hội Tây Phương, cùng với sự bột phát mạnh mẽ của Khoa Học Kỹ Thuật, đă khiến cho không ít người chỉ tin những ǵ lư trí có thể kiểm chứng được, nói khác đi chỉ có những ǵ thuần lư mới có thể chấp nhận được, ngoài ra đều là mê tín hết.

 

            Đối chiếu với những ǵ thực sự xảy ra trong xă-hội loài người, Fyodor Dostoevsky  đă có cái nh́n khác hơn.  Ông viết:

 

            " Tóm lại, người ta có thể nói bất cứ điều ǵ về lịch sử thế giới, bất cứ điều ǵ có thể nảy sinh trong trí tưởng tượng hỗn độn nhất của con người.  Chỉ duy có một điều họ không thể nói được là lịch sử loài người có tính cách  Thuần Lư."

 

            Thiên Lư như thế chẳng hề chỉ có một.  Luật Tạo Hóa có thực hay không có thực ?  Nếu nó có thực th́ nó là đạo Thái Ḥa giữa Trời Đất và Người hay đó là lẽ Mạnh Được Yếu Thua, Ưu Thắng Liệt Bại ?  Nếu nó có thực th́ vạn vật trong vũ trụ hiện hữu một cách Ngẫu Nhiên hay Tất Nhiên ?  Vũ trụ và xă-hội loài người vận hành theo những luật nhân quả hoặc qui luật lịch sử có tính cách tất yếu như một guồng máy hay chỉ hỗ tương tác động lẫn nhau, thích ứng với nhau một cách hài ḥa để cùng tồn tại ?

 

            Bao nhiêu câu hỏi rối mù được đặt ra từ thuở có loài người đă, đang và dường như vẫn c̣n là những avyakrta hay những điều bất khả tri, bất khả ngôn (the inexpressible ).

 

            Con người có thực có Tự Do hay cuộc sống loài người luôn luôn bị chi phối bởi Định Mệnh ?  Con người có trách nhiệm ǵ về những việc ḿnh làm hay mọi suy nghĩ và hành động của con người chỉ là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh xă-hội và những qui luật lịch sử bất biến ?  Lương Tâm có thực hay chỉ là một sáng tác bịa đặt của con người ?

 

            Bao nhiêu câu hỏi đó phải chăng chỉ là những câu hỏi phù phiếm được nêu lên trong lúc trà dư tửu hậu hay chính là những nguyên nhân sâu xa đă đưa tới cái chết của hàng chục triệu người trong những cuộc cách mạng đẫm máu ở Nga, những đợt cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa khốc liệt ở Trung Hoa và những cơn băo tố đưa mấy trăm ngàn người dân Việt trên đường vượt biển t́m tự do chết ch́m uất ức trong biển cả ?